Văn phòng ảo – mô hình cho phép doanh nghiệp đăng ký địa chỉ kinh doanh mà không cần duy trì không gian làm việc cố định đang được nhiều startup (doanh nghiệp khởi nghiệp) lựa chọn để tiết kiệm chi phí. Tuy nhiên, mô hình này cũng tiềm ẩn không ít rủi ro về pháp lý và vận hành.
Anh Trần Việt Hoàng, đại diện Công ty Vietcer (kinh doanh lĩnh vực công nghệ, thương mại điện tử), cho biết doanh nghiệp hiện sử dụng văn phòng ảo để đăng ký trụ sở tại P.Kim Liên, TP.Hà Nội, trong khi hoạt động chủ yếu diễn ra tại nhà riêng hoặc quán cà phê.
Theo anh Hoàng, với startup, chi phí luôn là yếu tố cần cân nhắc. “Một văn phòng nhỏ có thể tốn vài chục triệu đồng mỗi tháng – khoản không nhỏ với doanh nghiệp mới. Văn phòng ảo giúp tiết kiệm đáng kể nhưng vẫn đáp ứng yêu cầu về địa chỉ đăng ký kinh doanh”, anh nói.
Ngoài việc giảm chi phí mặt bằng, mô hình này còn mang lại sự linh hoạt. Nhân sự có thể làm việc từ xa, không bị ràng buộc địa điểm, phù hợp với các lĩnh vực công nghệ, thương mại điện tử, dịch vụ.
Tuy nhiên, theo anh Hoàng, đây chỉ là giải pháp tạm thời. “Khi doanh nghiệp phát triển, chúng tôi sẽ chuyển sang văn phòng thực để phục vụ lâu dài và xây dựng hình ảnh chuyên nghiệp hơn”, anh chia sẻ.
Khảo sát cho thấy thị trường văn phòng ảo khá sôi động, giá từ khoảng 379.000 đồng đến hơn 3,5 triệu đồng/tháng, tùy vị trí và dịch vụ đi kèm.
Khi được hỏi về trường hợp cơ quan thuế kiểm tra, tư vấn viên của một công ty cho biết doanh nghiệp sẽ được xác minh dựa trên hợp đồng thuê và bảng tên tại tòa nhà. Điều này cho thấy vai trò của đơn vị cung cấp không chỉ dừng ở việc “cho thuê địa chỉ”, mà còn hỗ trợ khi phát sinh vấn đề.
Tuy nhiên, việc nhiều doanh nghiệp cùng đăng ký một địa chỉ cũng đặt ra câu hỏi về tính minh bạch, khả năng quản lý, đồng thời tiềm ẩn rủi ro liên đới.
Luật sư Nguyễn Trung Tín, Giám đốc Công ty Luật Tín & Associates, cho biết pháp luật Việt Nam chưa có quy định riêng về văn phòng ảo, nhưng không có nghĩa mô hình này nằm ngoài khuôn khổ pháp luật.
“Pháp luật không yêu cầu doanh nghiệp hiện diện thường xuyên tại trụ sở, nhưng địa chỉ phải có thật, rõ ràng và có khả năng tiếp nhận thông tin”, ông Tín nói.
Theo ông, đăng ký tại văn phòng ảo là hợp pháp nếu doanh nghiệp có quyền sử dụng địa chỉ và không dùng vào mục đích vi phạm pháp luật, đồng thời đảm bảo khả năng liên hệ với cơ quan chức năng và đối tác.
Tuy nhiên, không phải ngành nghề nào cũng phù hợp. Các lĩnh vực như ăn uống, lưu trú, y tế, giáo dục đều yêu cầu cơ sở vật chất cụ thể, nên văn phòng ảo không thể thay thế địa điểm kinh doanh thực tế.
Bên cạnh lợi ích chi phí, văn phòng ảo cũng tiềm ẩn rủi ro nếu sử dụng không đúng cách.
Theo luật sư Nguyễn Trung Tín, một rủi ro lớn là doanh nghiệp bị xác định không hoạt động tại địa chỉ đăng ký. “Nếu kiểm tra mà không có bảng hiệu, không có người đại diện hoặc không chứng minh được quyền sử dụng hợp pháp, doanh nghiệp có thể bị đưa vào diện rủi ro cao, thậm chí bị khóa mã số thuế”, ông cho biết.
Ngoài ra, việc phụ thuộc đơn vị cung cấp có thể gây bất cập như thất lạc thư từ, chậm tiếp nhận thông báo hoặc thiếu hỗ trợ khi phát sinh vấn đề pháp lý.
Đáng chú ý, rủi ro còn mang tính “liên đới”. Khi nhiều doanh nghiệp cùng một địa chỉ, nếu một số đơn vị vi phạm (liên quan hóa đơn, thuế), toàn bộ địa chỉ có thể bị giám sát. Khi đó, các doanh nghiệp khác dù không vi phạm vẫn có thể bị kiểm tra thường xuyên hoặc gặp khó khăn khi giao dịch với đối tác, ngân hàng.
Về uy tín, việc sử dụng văn phòng ảo cũng có thể ảnh hưởng đến cách nhìn của đối tác. Một địa chỉ có quá nhiều doanh nghiệp hoặc thiếu hiện diện thực tế dễ khiến đối tác thận trọng, nhất là trong các giao dịch lớn.
Ở góc độ nhà đầu tư, ông Bùi Quang Minh (được biết đến với tên Shark Minh Beta, nhà sáng lập và điều hành Beta Group), cho rằng văn phòng ảo là xu hướng tất yếu khi doanh nghiệp cần tối ưu chi phí và tăng tính linh hoạt.
“Đây là xu hướng dài hạn, nhưng không thay thế hoàn toàn văn phòng truyền thống, mà linh hoạt hơn trong cách sử dụng không gian làm việc”, ông nhận định.
Theo ông, với startup giai đoạn đầu, việc không duy trì văn phòng giúp giảm áp lực chi phí và tạo điều kiện thử nghiệm mô hình. Tuy nhiên, khi doanh nghiệp phát triển, các yếu tố như văn hóa, sự gắn kết và phối hợp nội bộ sẽ trở thành thách thức.
Ở góc độ thẩm định, ông Minh cho biết việc có văn phòng hay không không phải yếu tố quyết định. “Tôi quan tâm nhiều hơn đến đội ngũ, sản phẩm và khả năng phát triển dài hạn. Tuy nhiên, nếu không có ‘hiện diện’ rõ ràng, doanh nghiệp dễ tạo cảm giác thiếu chắc chắn”, ông Minh nói.
Cũng theo ông Minh, trong bối cảnh không có văn phòng cố định, doanh nghiệp cần chủ động xây dựng hình ảnh, uy tín qua cách làm việc, giao tiếp với đối tác và chất lượng sản phẩm.
Ông Minh cũng lưu ý: “Văn phòng ảo không đơn thuần là chi phí thấp hơn, mà là sự chuyển đổi sang chi phí vận hành và quản trị. Trong 3 – 5 năm tới, mô hình kết hợp giữa làm việc linh hoạt và các điểm chạm vật lý sẽ phổ biến hơn, buộc doanh nghiệp cân nhắc chuyển đổi theo quy mô”.
Trên mạng xã hội hiện nay, không khó để bắt gặp những băn khoăn về chi phí viện dưỡng lão, so sánh các dịch vụ chăm sóc người già. Đáng nói đến, nhiều bài đăng là người trẻ đang tìm hiểu cho chính mình, chứ không phải cho cha mẹ hay người thân lớn tuổi.
Hồ Thị Ngọc Ánh (32 tuổi, ngụ ở đường Nguyễn Ảnh Thủ, P.Trung Mỹ Tây, TP.HCM) là một trong số đó. Ánh kể: "Mình đã xác định về già sẽ một mình. Sau một số biến cố cuộc sống, mình nhận ra không phải lúc nào cũng có thể dựa vào ai đó, nên nhìn cuộc sống thực tế hơn, trong đó có cả việc chuẩn bị cho tuổi già".
Với Ngọc Ánh, tự lo cho tuổi già không đồng nghĩa với bi quan: "Việc chủ động chuẩn bị khiến mình cảm thấy đang nắm quyền quyết định cuộc sống của mình". Ánh cho biết từng tìm hiểu khá kỹ vài cơ sở dưỡng lão, hỏi giá trực tiếp và biết chi phí có nơi lên tới vài chục triệu đồng mỗi tháng. Tuy nhiên, điều đáng quan tâm hơn cả là môi trường sống, cách chăm sóc, dinh dưỡng và các hoạt động giải trí. "Những nơi cao cấp nhìn rất đẹp và đầy đủ, không khác gì đi nghỉ dưỡng. Mình thấy việc chọn viện dưỡng lão không đáng sợ hay buồn tủi như nhiều người nghĩ", cô nhận xét.
Lê Hoàng Phúc (29 tuổi, ngụ ở đường Trương Công Định, P.Tân Bình, TP.HCM) lại bắt đầu nghĩ đến tuổi già khi chứng kiến sức khỏe bố mẹ giảm sút. "Khoảng 1-2 năm gần đây, mình thấy ba mẹ có dấu hiệu xuống sức. Có lần ba mẹ nhập viện, tự nhiên mình nghĩ nếu sau này mình cũng vậy mà không có ai bên cạnh thì sao", Phúc chia sẻ. Từ đó, cậu bắt đầu suy nghĩ nghiêm túc hơn về việc sẽ sống thế nào ở tuổi xế chiều.
Phúc thừa nhận trong sự chủ động cũng có chút lo âu. "Mình muốn tự quyết cuộc sống, không muốn làm gánh nặng cho ai, nhưng đôi lúc nghĩ vậy cũng hơi cô đơn. Thôi thì chuẩn bị trước vẫn đỡ hơn là tới lúc đó mới hoang mang", Phúc nói.
Trao đổi về hiện tượng này, tiến sĩ xã hội học, thạc sĩ tâm lý trị liệu Phạm Thị Thúy, giảng viên Học viện Chính trị khu vực II, cho rằng việc người trẻ hiện nay nghĩ đến tuổi già từ sớm thật ra là điều dễ hiểu.
Theo bà Thúy, có nhiều lý do khiến hiện tượng này phổ biến. Trước hết là sự thay đổi trong cấu trúc gia đình. "Tỷ lệ chọn sinh một con, thậm chí chọn không sinh con đang có xu hướng ngày càng gia tăng. Đây là vấn đề không chỉ ở Việt Nam mà trên thế giới. Tư duy của các bạn trẻ bây giờ là tuổi già không phụ thuộc vào con, nên họ lên kế hoạch sớm cho tương lai của mình", bà phân tích và cho biết hơn nữa, bối cảnh xã hội thời hiện đại đầy biến động, phức tạp và mơ hồ khiến người trẻ buộc phải lo xa và tính dài hơi hơn.
Một lý do nữa theo bà Thúy là bạn trẻ chứng kiến người lớn tuổi đối mặt với quá nhiều bệnh tật, từ đó chủ động chăm sóc bản thân, ăn uống lành mạnh, làm việc cân bằng để 20-30 năm tới không rơi vào tình trạng tương tự. "Tôi cho rằng đây là xu hướng tốt, tích cực, thúc đẩy các bạn trẻ chủ động bảo vệ sức khỏe, tài chính để lo cho tương lai", bà nhận xét.
Cuối cùng là tâm thế đề cao sự độc lập cá nhân. "Có những bạn trẻ còn có xu hướng nghỉ hưu sớm. Các bạn ấy càng phải tính trước về tài chính, chỗ ở, về tuổi già của mình. Đó là sự độc lập tự chủ trong tư duy cũng như trong hành động của các bạn trẻ thời nay", bà Thúy nói.
Chuyên gia tâm lý Vũ Minh Tiến, Trung tâm tư vấn tâm lý Việt Healthcare (P.Tân Hưng, TP.HCM) cũng cho rằng người trẻ hiện nay có xu hướng muốn kiểm soát cuộc sống của mình nhiều hơn. Họ không chỉ lập kế hoạch cho công việc, tài chính mà còn chuẩn bị cả cho tuổi già như một cách tạo cảm giác an toàn. "Đằng sau việc tìm hiểu dưỡng lão sớm không hẳn là bi quan, mà là nhu cầu được chủ động trước những bất định của cuộc sống", ông Tiến nhận định.
Tuy vậy, chuyên gia cũng cảnh báo về mặt trái. "Một số nhỏ đang có vấn đề là họ tiêu cực quá. Họ lo lắng về tuổi già, về dưỡng lão đến mức có vài nỗi sợ. Họ có thể rơi vào tình trạng rối loạn lo âu", bà Thúy phân tích.
Để xu hướng phát huy mặt tích cực thay vì biến thành nỗi sợ, bà Thúy cho rằng người trẻ cần quay về với nhu cầu tâm lý của chính mình, sau đó cụ thể hóa thành kế hoạch chi tiết: tiết kiệm ra sao, đầu tư để có thu nhập thụ động ở đâu, thay đổi lối sống thế nào, nếu muốn vào viện dưỡng lão thì sẽ chọn nơi nào.
Hồ Thị Ngọc Ánh cho biết đang lập kế hoạch cho việc dưỡng lão từ bây giờ: "Hiện tại mình có kế hoạch rõ ràng hơn về tài chính, chia ra một phần để tiết kiệm dài hạn. Như vậy về già mới có lựa chọn tốt hơn được".
Ở góc độ khác, thạc sĩ tâm lý Huỳnh Hải Huy, Trung tâm tư vấn tâm lý Inner Light (P.Chợ Quán, TP.HCM), nói: "Mạng xã hội cũng góp phần khiến người trẻ quan tâm nhiều hơn đến chuyện tuổi già. Các nội dung về nghỉ hưu sớm, sống độc thân hay viện dưỡng lão cao cấp xuất hiện liên tục khiến nhiều người bắt đầu hình dung và lên kế hoạch cho tương lai từ rất sớm". Ông Huy lưu ý: "Tuy nhiên, điều quan trọng là giữ tâm lý cân bằng, xem đây là sự chuẩn bị tích cực thay vì để nỗi sợ cô đơn hay sợ già chi phối cuộc sống hiện tại".
Tiến sĩ Thúy nhấn mạnh cần đầu tư từ sức khỏe tinh thần, học cách cân bằng cảm xúc, cho đến đầu tư về tài chính dài hạn và xây dựng mối quan hệ xã hội, tích cực kết nối với gia đình, bạn bè để không cô đơn khi về già. "Nội lực mỗi người cần xây dựng gồm ba yếu tố: thể lực, trí lực và tâm lực. Ba yếu tố này bạn luôn luôn đầu tư, luôn luôn rèn luyện, thì không sợ áp lực tuổi già", bà nói thêm.
Ngoại ngữ thứ hai cho người trẻ không chỉ tăng cường cơ hội việc làm mà còn nâng cao thu nhập. Hiện nay, nhiều doanh nghiệp ưu tiên ứng viên biết nhiều ngôn ngữ.
Tại một gian tuyển dụng của doanh nghiệp công nghệ, sau vài câu hỏi về ngành học, kinh nghiệm thực tập và định hướng nghề nghiệp, nhà tuyển dụng xem hồ sơ rồi hỏi ngắn gọn: "Bên chị muốn tuyển các bạn biết tiếng Nhật, em có không?".
Nghe xong câu hỏi này, nhiều sinh viên chững lại. Bởi lâu nay, không ít người vẫn mặc định chỉ cần đầu tư nghiêm túc cho tiếng Anh là đủ để bước vào thị trường lao động. Nhưng thực tế gần đây, tại các doanh nghiệp, nhất là khối công nghệ, thương mại điện tử,… ngoại ngữ thứ hai đang ngày càng được nhắc đến nhiều hơn bên cạnh khả năng tiếng Anh.
Nguyễn Thụy Minh Anh (28 tuổi), ngụ đường số 10, P.Linh Xuân (TP.HCM), cho biết khi ứng tuyển vào các vị trí thuộc lĩnh vực thương mại điện tử, cô thường được hỏi ngoài tiếng Anh còn biết thêm ngoại ngữ nào khác hay không.
Theo Minh Anh, nhiều doanh nghiệp hiện ưu tiên ứng viên có thể đọc hiểu tài liệu, giao tiếp cơ bản hoặc làm việc với đối tác bằng tiếng Trung, tiếng Hàn hay tiếng Nhật. "Lúc đó mình mới thấy tiếng Anh quan trọng, nhưng chưa đủ để tạo khác biệt nên quyết định đăng ký học thêm tiếng Trung", Minh Anh nói.
Trần Như Ý (26 tuổi), làm việc tại đường An Dương Vương, P.An Đông (TP.HCM), cho biết ngay cả trong lĩnh vực kế toán, nhiều bạn trẻ cũng đang bắt đầu học thêm ngoại ngữ khác vì nhận thấy nhu cầu từ doanh nghiệp ngày càng tăng.
Theo Như Ý, việc biết thêm ngoại ngữ khác ngoài tiếng Anh giúp bạn giao tiếp hiệu quả hơn với đối tác, khách hàng. "Lâu nay mọi người thường nghĩ kế toán chỉ cần chuyên môn, nhưng đi làm rồi mới thấy ai có thêm ngoại ngữ thì dễ mở rộng cơ hội hơn", Ý chia sẻ.
Theo bà Ngô Thị Nga, đại diện Cube System (TP.HCM), doanh nghiệp của bà là công ty Nhật Bản nên với các vị trí liên quan công nghệ thông tin, tiếng Nhật là yêu cầu được ưu tiên ngay từ vòng đầu. Theo bà Nga, hiện thị trường không còn thiếu những bạn trẻ giỏi tiếng Anh, trong khi nhu cầu nhân lực biết tiếng Nhật để tham gia trực tiếp vào dự án, phối hợp với đối tác hoặc làm việc trong môi trường đặc thù lại rất lớn.
Cùng quan điểm, anh Phạm Thành Đạt, bộ phận tuyển dụng và thu hút nhân tài tại FPT Software TP.HCM, cho rằng riêng về ngoại ngữ, phần lớn ứng viên vẫn chỉ tập trung vào tiếng Anh, trong khi ngoài thị trường, đây không còn là điểm cộng nổi bật như trước.
Anh Đạt cho biết hiện nhiều công ty về công nghệ có tỷ trọng doanh thu lớn từ các thị trường như Nhật Bản, Hàn Quốc,… nên nhu cầu tuyển nhân lực biết thêm ngoại ngữ thứ hai là rất lớn. Tuy vậy, số sinh viên có thể sử dụng tiếng Nhật, tiếng Hàn hoặc các ngoại ngữ khác ngoài tiếng Anh hiện vẫn còn hạn chế.
"AI có thể hỗ trợ mình đi nhanh hơn trong học tập và công việc, nhưng ngoại ngữ vẫn là công cụ để con người tiếp cận sâu hơn với tri thức, khách hàng, thị trường và văn hóa làm việc. Khi bạn biết thêm một ngoại ngữ, bạn mở thêm một cánh cửa nghề nghiệp", anh Đạt nói.
Không chỉ giúp tăng cơ hội trúng tuyển, ngoại ngữ thứ hai còn tác động trực tiếp đến thu nhập. Theo anh Phù Chí Huy Khang, Trưởng phòng tuyển dụng Công ty TNHH VietNam Concentrix Services (TP.HCM), cùng là vị trí chăm sóc khách hàng nhưng mức lương có thể chênh lệch lớn tùy theo năng lực ngoại ngữ. Với vị trí cơ bản, ứng viên có thể nhận mức lương từ 7 - 9 triệu đồng/tháng. Nếu biết tiếng Anh, thu nhập có thể tăng lên 9 - 13 triệu đồng/tháng. Còn với ứng viên thành thạo tiếng Nhật hoặc tiếng Hàn, mức lương có thể lên đến 25 - 30 triệu đồng/tháng.
Theo anh Khang, một số vị trí chăm sóc khách hàng tiếng Anh và tiếng Trung tại chi nhánh công ty ở nước ngoài có thể mang lại thu nhập 30 - 40 triệu đồng/tháng.
Từ nhu cầu thực tế này, các bạn trẻ bắt đầu thay đổi cách nhìn về việc học ngoại ngữ. Thay vì xem đó là một kỹ năng phụ để làm đẹp hồ sơ, họ coi đây là khoản đầu tư dài hạn cho chính nghề nghiệp của mình.
Du Thành Đạt (25 tuổi), kỹ sư công nghệ thông tin tại Công ty TNHH NEC Việt Nam, cho biết công ty của anh là doanh nghiệp Nhật Bản nên những kỹ sư có bằng tiếng Nhật luôn được ưu tiên. Dù vậy, khi mới vào thực tập, anh cũng chưa biết tiếng Nhật.
"May mắn là công ty mình có tổ chức các lớp tiếng Nhật miễn phí để hỗ trợ nhân viên. Nhờ vậy, tụi mình có thể theo kịp công việc, vượt qua quá trình thực tập và trở thành nhân viên chính thức", Đạt kể và cho biết khi về nhà, anh cũng tranh thủ dành nhiều thời gian để tự học, ôn luyện kỹ năng giao tiếp.
Theo tiến sĩ Nguyễn Tuấn Khanh, Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn, ĐH Quốc gia TP.HCM, việc học thêm một ngoại ngữ là cần thiết trong bối cảnh hiện nay. Tuy nhiên, ông cho rằng người học không nên tự gây áp lực phải thành thạo ngoại ngữ thứ hai.
Theo ông Khanh, học thêm một ngôn ngữ không chỉ để phục vụ công việc mà còn là cách mở rộng trải nghiệm, tư duy và hiểu thêm về sự khác biệt văn hóa. Nếu có điều kiện, người học nên tiếp cận ngoại ngữ thứ hai thông qua ngoại ngữ thứ nhất thay vì luôn dịch sang tiếng Việt, để tránh lối học đối chiếu từng từ đơn lẻ và giúp tăng khả năng sử dụng trong thực tế.
Tiến sĩ Khanh cho rằng dù công nghệ hiện đã hỗ trợ dịch thuật hiệu quả, ngôn ngữ vẫn không chỉ là công cụ truyền đạt thông tin, mà còn là biểu hiện của văn hóa. Vì vậy, học thêm một ngoại ngữ cũng là cách để người trẻ hiểu sâu hơn về cách tư duy, giao tiếp và những giá trị ẩn sâu sau ngôn từ. Và trong thị trường lao động cạnh tranh, tiến sĩ Khanh tin rằng đó cũng là một lợi thế giúp bạn trẻ mở rộng cơ hội nghề nghiệp.
Không còn đặt nặng chuyện tích góp sớm, nhiều người trẻ ưu tiên trải nghiệm hơn tiết kiệm. Họ xem trải nghiệm như một dạng "tài sản tinh thần".
Trần Thị Thanh Trúc (25 tuổi, ngụ tại TP.HCM) tâm sự: "Mình ưu tiên trải nghiệm hơn vì mình cho rằng những chuyến du lịch hay concert (buổi hòa nhạc - PV) là phần thưởng cũng như là thời gian nghỉ ngơi dành cho bản thân sau khi đã tập trung làm việc suốt thời gian dài".
Trong cách phân bổ thu nhập, ngoài việc chi tiêu hằng ngày, Trúc giữ một nguyên tắc khá rõ ràng: khoảng 30% dành cho trải nghiệm, 20% cho tiết kiệm. Phần tiết kiệm này được xem như lớp đệm an toàn, dùng cho những tình huống phát sinh hoặc các kế hoạch dài hạn. "Mình vẫn muốn tận hưởng cuộc sống, nhưng cũng phải có một khoản dự phòng để không bị động", Trúc nói.
Ký ức gần nhất mà bạn nhắc đến là chuyến đi tự túc đến Thái Lan. Trúc kể: "Tháng 3 vừa rồi mình có một chuyến đi kết hợp du lịch và concert 6 ngày 5 đêm tại Thái Lan. Tổng chi phí cho chuyến đi tầm khoảng hơn 40 triệu đồng, trong đó có 3 ngày đi concert nên mình đã chi khoảng 20 triệu đồng cho tiền vé, hơn 20 triệu đồng còn lại cho những chi phí: di chuyển, ăn ở, mua sắm... Tổng thể mình rất hài lòng về chuyến đi vì đã được nghỉ ngơi sau thời gian dài làm việc xuyên tết cũng như có thêm nhiều trải nghiệm thú vị tại nước bạn".
Lương Hoàng Cẩm Tú (23 tuổi, ngụ đường Tạ Quang Bửu, Q.8 cũ) khẳng định: "Hiện tại mình ưu tiên trải nghiệm nhiều hơn".
Vì sống cùng gia đình, không lo việc ăn uống hằng ngày, tiền nhà cửa... nên khoảng 60% thu nhập mỗi tháng Tú dành cho những chuyến đi, những đêm nhạc giải trí; 40% giữ lại như một khoản dự phòng. "Mình vẫn phải có một phần tiết kiệm để không bị động, nhưng nếu chỉ làm việc rồi để đó, mình thấy bản thân dễ bị kiệt sức", Tú chia sẻ, như một cách lý giải cho tỷ lệ chi tiêu của mình.
Tú thường đi xem ca nhạc cùng bạn bè. Gần đây nhất, Tú tham dự một concert và tấm vé 755.000 đồng không phải hạng cao nhất, nhưng đủ gần để cô nàng thực sự "chạm" vào không khí của concert, chứ không chỉ đứng xem từ xa.
Ngoài chi phí vé, Tú chi thêm nhiều khoản khác để có đêm nhạc trọn vẹn. Điều đáng nói, theo Tú, sau mỗi lần như vậy, bạn nhận ra mình "nhẹ" hơn theo đúng nghĩa tinh thần. "Mình làm việc áp lực, nhiều khi bị cuốn vào tiến độ hoàn thành công việc liên tục. Những lúc được "cháy" hết mình ở concert, mình thấy như được xả hết năng lượng tiêu cực", Tú chia sẻ.
Nguyễn Nam Anh (25 tuổi, TP.HCM), làm việc trong lĩnh vực thể thao, chọn du lịch như một phần không thể thiếu trong năm. Không đi quá dày, nhưng mỗi chuyến đi đều được anh chuẩn bị kỹ lưỡng từ lịch trình đến ngân sách. "Mình không đi quá nhiều, nhưng mỗi lần đi là muốn đi cho đáng", Nam Anh nói.
Về tài chính, Nam Anh dành khoảng 30% thu nhập cho du lịch, phần còn lại được chia cho tiết kiệm và các chi phí cá nhân. "Mình vẫn giữ nguyên tắc phải có tiền dự phòng, nên mỗi chuyến đi đều nằm trong kế hoạch từ trước, chứ không phải thích là đi ngay", Anh chia sẻ.
Theo tiến sĩ Trần Thanh Điền (Trường ĐH Nguyễn Tất Thành), trong một thế giới nhiều biến động, việc giữ tiền hay tích trữ tài sản không còn mang lại cảm giác an toàn tuyệt đối. Thay vào đó, người trẻ có xu hướng tạo ra giá trị bằng cách nâng cao năng lực cá nhân, mở rộng mối quan hệ và tìm kiếm cơ hội nghề nghiệp thông qua những trải nghiệm thực tế. Một chuyến đi, một khóa học hay một lần dấn thân vào môi trường mới, nếu được lựa chọn đúng, đều có thể trở thành "khoản đầu tư" cho tương lai.
"Câu chuyện không nằm ở việc nên hay không nên chi tiền cho trải nghiệm, mà nằm ở cách lựa chọn. Những trải nghiệm giúp nâng cao kỹ năng, mở rộng hiểu biết… luôn xứng đáng được ưu tiên. Ngược lại, những hoạt động chỉ mang tính chạy theo trào lưu, làm cho có hoặc để "bằng bạn bằng bè" lại dễ khiến người trẻ rơi vào vòng xoáy tiêu dùng thiếu kiểm soát", tiến sĩ Điền nói.
Tuy nhiên, tiến sĩ Điền cho biết cũng cần có tích lũy tài chính. Vì thế, việc xây dựng thói quen tài chính hợp lý là rất cần thiết. Một nguyên tắc đơn giản được tiến sĩ Điền gợi ý: "Luôn dành ra một phần thu nhập để tiết kiệm, có thể từ 20 - 50% tùy khả năng mỗi người. Phần còn lại được phân bổ rõ ràng cho chi tiêu thiết yếu và trải nghiệm, nhưng quan trọng là phải giữ kỷ luật với giới hạn đã đặt ra".