Theo bà Cao Thị Hòa Bình, Chi cục trưởng Chi cục Trồng trọt, bảo vệ thực vật và chăn nuôi, thủy sản tỉnh Lào Cai, tỉnh này đang triển khai kế hoạch phát triển dược liệu giai đoạn 2026 – 2030, trong đó lần đầu xây dựng Bảo tàng Dược liệu số, phục vụ du lịch và quảng bá sản phẩm.
Tỉnh hướng đến mục tiêu hình thành vùng nguyên liệu và nhóm sản phẩm dược liệu chiến lược, gắn với chế biến sâu, chăm sóc sức khỏe và xuất khẩu.
Các nhóm dược liệu có tiềm năng xuất khẩu như quế, actiso, xuyên khung, sa nhân… sẽ được ưu tiên quảng bá, gắn với truy xuất nguồn gốc, tiêu chuẩn hóa chất lượng và mẫu mã hướng tới thị trường như Nhật, EU…
Riêng với cây actiso, hiện địa phương có khoảng 50 ha vùng trồng đạt chuẩn GACP WHO (thực hành tốt trồng trọt và thu hái, là các tiêu chuẩn kỹ thuật đảm bảo an toàn, chất lượng), là cây dược liệu đầu tiên tại địa phương đạt chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới (WHO), do Công ty Traphaco phát triển từ 25 năm qua.
Theo ước tính của đơn vị thu mua, với khả năng cung cấp khoảng 2.500 tấn lá tươi actiso mỗi năm, các hộ dân ở Sa Pa về khoảng hơn 5 tỉ đồng tỉ đồng/năm.
Ngoài ra, nhờ duy trì được liên tục tiêu chuẩn WHO về trồng trọt, thu hái, không chỉ có nguồn thu từ cung cấp lá tươi, các phần rễ, thân cây và hoa actiso cũng được thương mại hóa rất tốt, đem lại nguồn thu tương tương ứng với lá tươi, do đó tổng thu của bà con khoảng 11,5 tỉ đồng/năm từ vùng trồng actiso tại Sa Pa.
Nhờ có hàm lượng hoạt chất cao, actiso không chỉ là dược liệu phục vụ sản phẩm sản xuất đông dược cao cấp, cao atiso Sa Pa từ dược liệu này đã đạt OCOP 5 sao, góp phần hình thành chuỗi giá trị xanh, tạo sinh kế cho người dân địa phương, liên kết từ vùng trồng bền vững đến sản xuất xanh.
“Đặc tính actiso tại Sa Pa có hoạt chất cao hơn hẳn so với các vùng trồng khác, do đó, các sản phẩm đông dược sử dụng nguyên liệu là actiso Sa Pa cho chất lượng rất tốt, ổn định”, ông Nguyễn Huy Văn, Phó tổng giám đốc Traphaco, đánh giá qua thực tế các nghiên cứu về cây dược liệu này.
Chia sẻ thêm về phát triển bảo tồn dược liệu gắn với phát triển kinh tế bền vững, bà Bình cho biết, thời gian tới, Bảo tàng Dược liệu tại Lào Cai được xây dựng trên nền tảng số, sẽ hình thành bộ nhận diện chung, chỉ dẫn địa lý cho dược liệu địa phương, dự kiến số hóa gần 1.000 loài, giới thiệu hệ sinh thái cây thuốc dưới tán rừng, trên đất lâm nghiệp và nông nghiệp, gắn với bảo vệ rừng, bảo tồn đa dạng sinh học và phát triển du lịch sinh thái tại địa phương.
Tin Gốc: Thanh Niên

Đề xuất mới của Bộ Công Thương về cơ chế điều hành giá điện đang mở đường cho việc xử lý dần khoản lỗ gần 45.000 tỷ đồng của Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), đồng thời tạo hành lang pháp lý để giá điện bám sát hơn với biến động chi phí đầu vào.
Tại hồ sơ thẩm định dự án sửa đổi Luật Điện lực gửi Bộ Tư pháp, Bộ Công Thương cho rằng giá bán lẻ điện cần được phản ánh, điều chỉnh kịp thời theo biến động thực tế của các yếu tố đầu vào nhằm bù đắp đầy đủ chi phí hợp lý, hợp lệ và đảm bảo doanh nghiệp điện lực có lợi nhuận hợp lý để bảo toàn, phát triển vốn.
Một trong những điểm đáng chú ý là đề xuất cho phép các khoản chi phí sản xuất, cung ứng điện chưa được tính đủ trong một lần điều chỉnh giá sẽ được cộng dồn, phân bổ vào các kỳ điều chỉnh tiếp theo. Cơ chế này cũng áp dụng với các khoản chi phí tồn đọng phát sinh trước khi luật sửa đổi có hiệu lực.
Theo Bộ Công Thương, giai đoạn 2022-2023, nhiều chi phí đầu vào của ngành điện chưa được phản ánh đầy đủ vào giá bán lẻ điện, khiến hoạt động kinh doanh của EVN thua lỗ nặng.
Năm 2022, giá điện được giữ nguyên nhằm hỗ trợ phục hồi kinh tế và đảm bảo an sinh xã hội sau đại dịch Covid-19, trong bối cảnh giá than nhập khẩu và giá khí tăng mạnh do tác động từ xung đột Nga - Ukraine. Sang năm 2023, giá điện dù đã được điều chỉnh nhưng mức tăng vẫn thấp hơn đáng kể so với chi phí thực tế phát sinh để tránh gây áp lực lên kinh tế vĩ mô và đời sống người dân.
Theo báo cáo của EVN, khoản lỗ lũy kế trong hai năm 2022-2023 lên tới khoảng 50.029 tỷ đồng. Đến hết năm 2024, nhờ hoạt động sản xuất kinh doanh có lãi trở lại, số lỗ lũy kế của công ty mẹ EVN giảm xuống còn khoảng 44.792 tỷ đồng.
Bộ Công Thương cho rằng cơ chế phân bổ chi phí chưa được tính đủ vào giá điện sẽ là cơ sở pháp lý để xử lý dứt điểm các khoản tồn đọng này, đồng thời tạo điều kiện để doanh nghiệp điện lực thu hồi đầy đủ chi phí hợp lý trong quá trình sản xuất, kinh doanh.
Tuy vậy, cơ quan quản lý khẳng định việc phân bổ sẽ được tính toán theo lộ trình, có thể phân bổ toàn bộ hoặc một phần tùy từng thời điểm nhằm hạn chế tác động đột ngột tới người dân và doanh nghiệp.
"Việc điều hành giá điện sẽ được xem xét phù hợp với tình hình kinh tế từng thời kỳ, bảo đảm không giật cục, có lộ trình và thực hiện với biên độ điều chỉnh nhỏ", Bộ Công Thương nêu.
Đáng chú ý, Bộ cũng cho rằng trong các giai đoạn thuận lợi về thủy văn, khi nguồn thủy điện dồi dào giúp giảm chi phí phát điện, việc phân bổ các khoản chi phí tồn đọng có thể không làm tăng giá bán lẻ điện.
Liên quan đến vấn đề này, Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN) vừa có báo cáo gửi Bộ Công Thương.
EVN cho biết, vừa qua Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp đã đăng tải nội dung của dự thảo Tờ trình về dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Điện lực số 61/2024/QH15.
Theo đó, tại trang 12 "Đến hết năm 2024, do hoạt động kinh doanh của EVN có lãi nên số lỗ luỹ kế của Công ty mẹ - EVN còn khoảng 44.792 tỷ đồng".
Để đảm bảo thông tin, số liệu được cập nhật kịp thời tới dư luận nói chung và các cấp có thẩm quyền nói riêng, EVN đã có văn bản thông tin và số liệu tài chính của EVN cập nhật đến hết năm 2025.
Cụ thể như sau: "Trong các năm 2024 và 2025, hoạt động sản xuất kinh doanh của EVN được cải thiện đáng kể, đến hết năm 2025 số lỗ luỹ kế của Công ty mẹ - EVN chỉ còn khoảng 5.611 tỷ đồng".
Như vậy số lỗ lũy kế đến hết năm 2025 còn 5.611 tỷ đồng giảm 87,48% so với trước đó.
Tin Gốc: Người Đưa Tin

Chính phủ vừa ban hành Nghị quyết số 80 sửa đổi, bổ sung, cập nhật Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 06-NQ/TW (Nghị quyết 06) ngày 24.1.2022 của Bộ Chính trị về quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển bền vững đô thị VN đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045; và Kết luận số 224-KL/TW ngày 8.12.2025 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết 06. Theo đó, Chính phủ cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp đã nêu gắn với kế hoạch tổ chức thực hiện theo lộ trình cụ thể.
Tại Nghị quyết 06, Bộ Chính trị đã nhận định thời gian qua, tỷ lệ đô thị hóa xác định theo địa bàn có chức năng đô thị đã tăng từ 30,5% năm 2010 lên gần 40% năm 2020. Đô thị hóa và phát triển đô thị trở thành động lực quan trọng thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.
Kinh tế khu vực đô thị tăng trưởng ở mức cao, đóng góp khoảng 70% GDP cả nước. Bước đầu đã hình thành cực tăng trưởng kinh tế và trung tâm đổi mới sáng tạo; khoa học, công nghệ; giáo dục, đào tạo tại các đô thị lớn, nhất là tại thủ đô Hà Nội và TP.HCM. Tuy nhiên, quá trình đô thị hóa, công tác quy hoạch, xây dựng, quản lý và phát triển đô thị vẫn còn nhiều hạn chế. Tỷ lệ đô thị hóa đạt được thấp hơn mục tiêu đề ra trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 và còn khoảng cách khá xa so với tỷ lệ bình quân của khu vực và thế giới. Chất lượng đô thị hóa chưa cao, phát triển đô thị theo chiều rộng là chủ yếu, gây lãng phí về đất đai, mức độ tập trung kinh tế còn thấp. Kết cấu chất lượng, hạ tầng đô thị chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển dân số và kinh tế khu vực đô thị; chưa thích ứng với biến đổi khí hậu, ứng phó với dịch bệnh quy mô lớn. Khả năng tiếp cận dịch vụ công và phúc lợi xã hội của người nghèo và lao động di cư tại đô thị còn thấp và nhiều bất cập…
Bộ Chính trị nhấn mạnh: đô thị hóa là yếu tố khách quan, là một động lực quan trọng cho phát triển kinh tế - xã hội nhanh và bền vững trong thời gian tới. Do đó cần phải đẩy nhanh tốc độ và nâng cao chất lượng đô thị hóa, phát triển đô thị bền vững theo mạng lưới, hình thành một số đô thị, chuỗi đô thị động lực thông minh kết nối khu vực và thế giới… Những mục tiêu cụ thể đã được nêu rõ như phấn đấu tỷ lệ đô thị hóa toàn quốc đến năm 2030 đạt trên 50%. Tỷ trọng kinh tế số trong GRDP của các đô thị trực thuộc T.Ư đạt bình quân 35 - 40% vào năm 2030. Xây dựng được mạng lưới đô thị thông minh trung tâm cấp quốc gia và cấp vùng kết nối quốc tế và 3 - 5 đô thị có thương hiệu được công nhận tầm khu vực và quốc tế vào năm 2030. Mục tiêu xa hơn với tầm nhìn đến năm 2045, tỷ lệ đô thị hóa thuộc nhóm trung bình cao của khu vực ASEAN và châu Á; xây dựng được ít nhất 5 đô thị đạt tầm cỡ quốc tế, giữ vai trò là đầu mối kết nối và phát triển với mạng lưới khu vực và quốc tế. Cơ cấu kinh tế khu vực đô thị phát triển theo hướng hiện đại với các ngành kinh tế xanh, kinh tế số chiếm tỷ trọng lớn.
Ủng hộ mục tiêu phát triển đô thị tại VN theo Nghị quyết 06 của Bộ Chính trị và chương trình hành động của Chính phủ, KTS Ngô Viết Nam Sơn khẳng định: theo kinh nghiệm quốc tế lẫn lịch sử của VN, phát triển đô thị, tăng trưởng đô thị song hành với tăng trưởng kinh tế - xã hội nói chung của đất nước. Những nước phát triển đều có tỷ lệ đô thị hóa cao. Không chỉ thúc đẩy phát triển đô thị mà mục tiêu của Đảng, Chính phủ đưa ra còn là xây dựng các đô thị hiện đại, thông minh, bền vững là rất đúng đắn. Chúng ta cần kiên định, quyết tâm thực hiện mục tiêu này; khi đó sẽ đóng góp lớn cho việc đạt mục tiêu đưa kinh tế VN phát triển cao, thực chất, bền vững.
Theo TS Phạm Viết Thuận, Viện trưởng Viện Kinh tế tài nguyên và môi trường TP.HCM, thực tế cho thấy đô thị hóa luôn gắn liền với quá trình công nghiệp hóa và hiện đại hóa. Các đô thị lớn không chỉ là trung tâm kinh tế mà còn là nơi hội tụ nguồn lực chất lượng cao, đổi mới sáng tạo và hệ sinh thái dịch vụ. Tỷ lệ đô thị hóa của VN hiện vẫn thấp hơn nhiều nước trong khu vực, đồng nghĩa với dư địa phát triển còn lớn. Khi được quy hoạch và quản lý hiệu quả, quá trình đô thị hóa sẽ tạo ra các cực tăng trưởng mới, góp phần nâng cao năng suất lao động, thúc đẩy tiêu dùng nội địa và thu hút đầu tư nước ngoài.
"Việc đặt mục tiêu ở mức "trung bình cao" trong khu vực cũng được xem là lựa chọn hợp lý, tránh rơi vào tình trạng phát triển nóng nhưng thiếu bền vững", TS Thuận nhận định và cho rằng mục tiêu xây dựng ít nhất 5 đô thị tầm cỡ quốc tế không chỉ mang ý nghĩa hình ảnh mà đòi hỏi các tiêu chuẩn khắt khe về hạ tầng, kinh tế và môi trường sống. Đây phải là những đô thị có hệ thống giao thông, năng lượng và hạ tầng số đồng bộ, đóng vai trò trung tâm tài chính, thương mại, đổi mới sáng tạo của khu vực; đồng thời có sức cạnh tranh toàn cầu về chất lượng sống và làm việc. Những đô thị như Hà Nội, TP.HCM, Đà Nẵng, Hải Phòng, Quảng Ninh được đánh giá có tiềm năng trở thành các "đầu tàu" nếu được đầu tư đúng hướng. Quan trọng hơn, các đô thị này sẽ đóng vai trò lan tỏa, thúc đẩy sự phát triển của các vùng vệ tinh, góp phần giảm áp lực dân số và hạ tầng cho các trung tâm hiện hữu.
Đồng quan điểm, TS Trần Việt Anh, Phó hiệu trưởng phụ trách Trường ĐH Hùng Vương, nhấn mạnh định hướng của Nghị quyết 80 là hoàn toàn xác đáng trong bối cảnh đô thị hóa đang trở thành động lực cốt lõi của tăng trưởng. Hiện tỷ lệ đô thị hóa của VN đạt khoảng 44 - 45%, nhưng khu vực đô thị đã đóng góp tới 70 - 75% GDP, cho thấy chất lượng đô thị quan trọng hơn tốc độ đô thị hóa. Kinh nghiệm quốc tế cho thấy đô thị hóa thành công không đến từ việc mở rộng mà từ tích hợp. Nhìn ra thế giới, những quốc gia đô thị hóa thành công đều đi theo một mô hình chung là đô thị hóa không phải là mở rộng đất đai, mà là tổ chức lại không gian kinh tế và dân cư một cách hiệu quả. Như tại Hàn Quốc, quá trình phát triển Seoul, vùng thủ đô, không chỉ là mở rộng đô thị mà là quy hoạch vùng tích hợp giao thông - việc làm - nhà ở, với hệ thống metro và đô thị vệ tinh phát triển đồng bộ.
Ở Singapore, dù diện tích hạn chế, nhưng quốc gia này vẫn trở thành đô thị toàn cầu nhờ quản trị quy hoạch cực kỳ kỷ luật, phát triển nhà ở xã hội quy mô lớn và kiểm soát chặt sử dụng đất. Hay tại Trung Quốc, các đô thị như Thâm Quyến chỉ mất 30 năm để vươn tầm quốc tế, nhưng nền tảng là đầu tư hạ tầng quy mô lớn và cơ chế đặc thù vượt trội. Ông nhấn mạnh: Nghị quyết 80 đã đưa ra một tầm nhìn dài hạn, phù hợp với xu thế phát triển toàn cầu và điều kiện của VN. Việc hướng đến các đô thị tầm cỡ quốc tế không phải là tham vọng xa vời, mà là bước đi cần thiết để nâng cao vị thế quốc gia. Vấn đề còn lại là triển khai như thế nào để biến mục tiêu thành hiện thực. Nếu làm tốt, đô thị hóa sẽ không chỉ là câu chuyện của hạ tầng và dân số, mà sẽ trở thành động lực cốt lõi đưa VN tiến gần hơn tới mục tiêu trở thành quốc gia phát triển vào năm 2045.
Nghị quyết 80 của Chính phủ đã đề ra hàng loạt nhiệm vụ cụ thể, giao nhiệm vụ cho các bộ, ngành, thành phố trực thuộc T.Ư để thực hiện việc phát triển đô thị. KTS Ngô Viết Nam Sơn nhận xét VN đang đi đúng hướng nhưng tốc độ đi nhanh hay chậm phụ thuộc nhiều vào sự cố gắng, hợp tác nói chung từ cơ quan quản lý nhà nước đến người dân. Hiện nay cả nước đã thực hiện thay đổi về bộ máy chính quyền còn 2 cấp, sáp nhập tỉnh thành, tinh giản bộ máy hành chính; điều này góp phần tăng tính hiệu quả hơn trong chọn lọc phát triển đô thị. Vì vậy, cần đánh giá lại tổng quan kế hoạch, cách nhìn đô thị hóa (chẳng hạn về số lượng đô thị sẽ có sự thay đổi). Đồng thời, Chính phủ cần tập trung phát triển hạ tầng; thực hiện cơ chế hợp tác công - tư, kể cả hợp tác quốc tế để xây dựng các đô thị hiện đại, thông minh; từ đó khuyến khích phát triển các mô hình mới như đô thị sân bay, khu thương mại tự do, khu đô thị dọc theo các tuyến metro (TOD)…
"Chúng ta đặt ra mục tiêu đúng là phải phát triển đô thị hiện đại, bền vững nghĩa là phát triển nhưng phải đánh giá tác động môi trường và điều chỉnh về tác động trong giới hạn cho phép. Khi phát triển đúng theo định hướng này thì các nguy cơ đã từng có ở các đô thị trước đây như ô nhiễm, kẹt xe, ngập nước… sẽ không còn. Đây chính là đảm bảo chất lượng cuộc sống của người dân trong đô thị, song hành với mục tiêu phát triển kinh tế cao, thực chất, bền vững của VN đến năm 2045", KTS Ngô Viết Nam Sơn chia sẻ.
Trong khi đó, để đạt mục tiêu đến năm 2045, TS Trần Việt Anh cho rằng VN cần chuyển mạnh sang mô hình đô thị hóa thế hệ mới, trong đó quy hoạch vùng đóng vai trò trung tâm thay vì phát triển cục bộ từng địa phương. Các cực tăng trưởng như TP.HCM và Hà Nội cần được đặt trong tổng thể vùng đô thị mở rộng, tăng cường liên kết với các địa phương lân cận. Cùng với đó, hạ tầng cần đi trước một bước, đặc biệt là hệ thống metro, vành đai, cao tốc và logistics, những yếu tố được xem là "xương sống" của quá trình đô thị hóa. Thể chế cũng phải đủ mạnh và linh hoạt để tạo điều kiện cho các cơ chế đặc thù về tài chính, đất đai và đầu tư, tương tự kinh nghiệm của các đô thị quốc tế.
Một trụ cột khác là phát triển đô thị gắn với kinh tế tri thức, nơi không chỉ cung cấp không gian sống mà còn là trung tâm tài chính, công nghệ, giáo dục và đổi mới sáng tạo. Đồng thời, yếu tố bền vững phải trở thành tiêu chuẩn bắt buộc, với yêu cầu về đô thị xanh, thông minh và thích ứng biến đổi khí hậu.
TS Phạm Viết Thuận lưu ý để hiện thực hóa mục tiêu này, thách thức đầu tiên nằm ở bài toán quy hoạch và quản trị đô thị. Bên cạnh đó, việc xây dựng các đô thị tầm cỡ quốc tế đòi hỏi nguồn vốn rất lớn, trong khi ngân sách còn hạn chế. Do đó, việc huy động nguồn lực xã hội hóa, đặc biệt từ khu vực tư nhân và dòng vốn đầu tư nước ngoài, sẽ đóng vai trò then chốt. Yếu tố con người và công nghệ cũng được nhấn mạnh, bởi đô thị hiện đại không chỉ là sự phát triển của hạ tầng vật chất mà còn là nơi vận hành bởi nguồn nhân lực chất lượng cao cùng hệ thống quản trị thông minh.
Hơn nữa, mục tiêu đô thị hóa không nên chỉ dừng ở tỷ lệ, mà cần hướng đến chất lượng với các tiêu chí về đô thị xanh, thích ứng biến đổi khí hậu, mở rộng không gian công cộng, bảo tồn bản sắc và đảm bảo tiếp cận nhà ở, dịch vụ cơ bản cho mọi tầng lớp.
Kinh Tế
INSEE Việt Nam: Hơn 30 năm bền bỉ theo đuổi hành trình phát triển có trách nhiệm

Với xi măng INSEE, hơn ba thập kỷ hiện diện trên thị trường là một hành trình nhất quán theo đuổi phát triển bền vững, được thể hiện không chỉ trong chiến lược tăng trưởng, mà còn trong từng nỗ lực đổi mới sản xuất, giảm tác động môi trường và chung tay cùng cộng đồng kiến tạo tương lai tốt đẹp hơn cho thế hệ mai sau.
Trên hành trình đó, INSEE từng bước khẳng định dấu ấn của một doanh nghiệp tiên phong trong ngành sản xuất vật liệu xây dựng tại Việt Nam, không chỉ cung cấp giải pháp xi măng chất lượng cao cho các công trình mà còn góp phần thúc đẩy một tư duy phát triển mới cho toàn ngành, nơi tăng trưởng đi cùng giảm phát thải, hiệu quả kinh doanh song hành với giá trị cộng đồng và các nguyên tắc ESG được lồng ghép nhất quán từ định hướng đến vận hành. Năm 2025, INSEE tiếp tục được vinh danh trong Top 100 Doanh nghiệp bền vững (CSI) do VCCI tổ chức, đồng thời nhận giải chuyên đề Top 5 Doanh nghiệp tiên phong về Kinh tế tuần hoàn và Giảm phát thải, qua đó tiếp tục khẳng định vai trò tiên phong của doanh nghiệp trong hành trình kiến tạo những giá trị bền vững cho ngành xây dựng và xã hội.
Một trong những nền móng quan trọng nhất làm nên thương hiệu của INSEE chính là năng lực tiên phong trong chuyển đổi xanh. Khi "xi măng xanh" không còn là một khái niệm truyền thông mà đã trở thành yêu cầu thực tế của thị trường xây dựng hiện đại. INSEE hiện là một trong số ít thương hiệu tại Việt Nam có thể chứng minh giá trị đó bằng hệ thống chứng nhận cụ thể. Danh mục sản phẩm xi măng của INSEE đã được cấp chứng nhận Nhãn xanh bởi Hội đồng Công trình xanh Singapore (SGBC) và đồng thời, INSEE cũng là doanh nghiệp xi măng đầu tiên tại Việt Nam đạt chứng nhận Tuyên bố môi trường (EPD) quốc tế. Đây không chỉ là những minh chứng về mặt hình ảnh, mà còn là sự xác nhận khách quan từ các tổ chức uy tín cho các sản phẩm của INSEE, phù hợp với những hệ thống đánh giá công trình xanh như: LEED, LOTUS hay Green Mark.
Điều đáng nói là uy tín thương hiệu của INSEE không dừng ở hệ thống chứng nhận, mà còn được củng cố bằng hiệu quả môi trường có thể đo lường. Hiện toàn bộ sản phẩm xi măng INSEE có mức phát thải CO₂ thấp; riêng sản phẩm INSEE Power-S ghi nhận mức giảm 33% phát thải carbon theo phương pháp đánh giá vòng đời sản phẩm (LCA). Đồng thời, trong năm 2025, mức phát thải CO₂ trung bình của INSEE được ghi nhận ở khoảng 337 kg/tấn xi măng, thấp hơn đáng kể so với mức trung bình ngành được dẫn chiếu trong cùng giai đoạn. Những con số này cho thấy INSEE không chỉ nói về phát triển bền vững như một định hướng, mà đã biến nó thành kết quả vận hành thực tế, từ tối ưu clinker, thúc đẩy năng lượng thay thế đến mở rộng các giải pháp kinh tế tuần hoàn. Ngoài ra, kế hoạch bảo tồn đa dạng sinh học của INSEE đặt ra kỳ vọng đạt được tích cực ròng đến năm 2030. Giai đoạn 2024 - 2025, INSEE đã trồng và bàn giao hơn 48.000 cây phủ xanh bờ bao Khu bảo tồn loài & sinh cảnh Phú Mỹ và Khu bảo vệ cảnh quan Hòn Chông, tạo nên hệ thực vật tự nhiên bền vững, phù hợp thổ nhưỡng - khí hậu địa phương và góp phần khôi phục sinh cảnh quan trọng cho loài sếu đầu đỏ quay về kiếm ăn và cư trú. Bên cạnh việc phục hồi sinh thái, INSEE còn hỗ trợ sinh kế cho người dân, giúp cộng đồng phát triển kinh tế gắn với ý thức bảo tồn, đồng thời tăng cường đào tạo chuyên môn cho đội ngũ quản lý khu bảo tồn để nâng cao năng lực vận hành bền vững.
Với INSEE, danh tiếng doanh nghiệp không tách rời trách nhiệm với cộng đồng. Trong năm 2025, doanh nghiệp tiếp tục đồng hành cùng địa phương và các đối tác để xây dựng, bàn giao 11 căn nhà cho các hộ gia đình khó khăn tại Kiên Giang, với tổng kinh phí hơn 900 triệu đồng. Bên cạnh đó, chỉ riêng trong năm, INSEE cũng đã đóng góp hơn 200 tấn xi măng để bê tông hóa các tuyến đường nông thôn và dân sinh, mang lại sự kết nối an toàn và bền vững cho người dân tại những khu vực được hỗ trợ. Giá trị của các chương trình này không chỉ nằm ở số căn nhà hay mức tài trợ, mà ở cách một doanh nghiệp chọn hiện diện trong đời sống xã hội: âm thầm, thực tế và bền bỉ. Hơn 4.490 giờ tình nguyện của nhân viên được đóng góp thông qua các hoạt động xã hội mà INSEE chung tay, trực tiếp đóng góp giá trị nhân lực để mang đến giá trị hiện hữu cho cộng đồng.
Câu chuyện thương hiệu của INSEE còn đến từ cách doanh nghiệp đầu tư cho tương lai. Trong 18 năm qua, INSEE Prize đã trở thành một trong những sân chơi khoa học uy tín dành cho sinh viên ngành kiến trúc và xây dựng tại Việt Nam. Tính đến năm 2025, chương trình đã tiếp cận hơn 23.000 sinh viên, nhận về hơn 4.000 ý tưởng và hiện thực hóa 12 dự án. Thông qua cuộc thi, INSEE không chỉ khuyến khích các ý tưởng xây dựng bền vững mà còn góp phần nuôi dưỡng tư duy trách nhiệm xã hội cho thế hệ kỹ sư và kiến trúc sư trẻ.
Năm 2025, INSEE tiếp tục được vinh danh trong Top 100 Nơi làm việc tốt nhất Việt Nam lần thứ 6 liên tiếp, đồng thời vươn lên Top 3 trong nhóm ngành Vật liệu. Thành quả này cho thấy uy tín của INSEE không chỉ được nhìn nhận bởi thị trường, mà còn được xác nhận bởi chính đội ngũ nhân sự, những thành viên tạo nên giá trị văn hóa, tiêu chuẩn và bản sắc của doanh nghiệp. Một thương hiệu muốn bền lâu phải là nơi con người muốn gắn bó, muốn phát triển và cảm thấy tự hào khi thuộc về. Vì thế, danh tiếng không chỉ nằm ở những giải thưởng đối ngoại, mà còn hiện diện trong từng trải nghiệm nội bộ, trong môi trường làm việc an toàn, chuyên nghiệp và có động lực phát triển. Khi thương hiệu nhận được sự tin tưởng và đồng lòng của tập thể nhân viên, thương hiệu ấy mới có nền tảng đủ vững để tạo dựng niềm tin nơi cộng đồng.
Từ sản phẩm xi măng xanh được quốc tế công nhận, các sáng kiến giảm phát thải và kinh tế tuần hoàn, cho đến những chương trình nhà ở, giáo dục và phát triển cộng đồng, INSEE đang từng bước chứng minh rằng uy tín thương hiệu bền vững được hình thành từ những hành động dài hạn mang tính chiến lược. Và có lẽ, đó cũng là lý do thương hiệu giữ được vị thế riêng trên thị trường: không ồn ào, nhưng đủ khác biệt; không khoa trương, nhưng đủ thuyết phục; không chỉ xây công trình, mà còn đang góp phần xây niềm tin cho một tương lai phát triển bền vững hơn.
Tin Gốc: Thanh Niên

