Ngay trong quý I, tỉnh Lạng Sơn đã tập trung triển khai, khởi động các công trình, hạng mục đầu tư theo kế hoạch, trong đó hoàn thiện hồ sơ nghiệm thu, thanh toán các dự án chuyển tiếp, giải ngân theo kế hoạch, đẩy nhanh tiến độ giải phóng mặt bằng và tổ chức thi công các dự án trọng điểm, dự án trọng điểm có kế hoạch vốn lớn như: Dự án Tuyến cao tốc cửa khẩu Hữu Nghị – Chi Lăng theo hình thức BOT, Dự án Khu liên hợp thể thao tỉnh Lạng Sơn, Dự án Đường Lý Thái Tổ và khu dân cư, tái định cư thành phố Lạng Sơn…. đôn đốc hoàn thiện thủ tục đầu tư các dự án thực hiện trong giai đoạn 2026-2030, trọng tâm là các dự án quan trọng dự kiến khởi công năm 2026. Cùng với đó tiến độ đầu tư hạ tầng khu công nghiệp và các cụm công nghiệp đạt kết quả tích cực.
Kết quả giải ngân kế hoạch vốn năm 2026 đến hết quý I/2026 của tỉnh Lạng Sơn là 607,9 tỷ đồng, đạt 22% kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao (tăng 8,6% so với cùng kỳ, xếp thứ 01/34 tỉnh, thành phố trong cả nước), trong đó: Vốn ngân sách địa phương 410,9 tỷ đồng, đạt 24% kế hoạch; Vốn ngân sách trung ương 197 tỷ đồng, đạt 20% kế hoạch.
Ngoài ra, tỉnh Lạng Sơn cũng đã hoàn thành tổ chức thẩm định và phê duyệt điều chỉnh Quy hoạch tỉnh Lạng Sơn thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050. Tiếp tục hoàn thiện hệthống các quy hoạch trên địa bàn khu vực cửa khẩu, biên giới đất liền, trình Bộ Xây dựng thẩm định đồ án điều chỉnh Quy hoạch chung xây dựng Khu kinh tế cửa khẩu Đồng Đăng – Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn đến năm 2045. Đồng thời tiếp tục hoàn thiện quy hoạch chung xây dựng Khu cửa khẩu Chi Ma, tỉnh Lạng Sơn đến năm2045.
Tuy nhiên, theo UBND tỉnh Lạng Sơn tình hình phát triển kinh tế và quản lý điều hành trong công tác vẫn còn một số kho khăn hạn chế. Cụ thể việc triển khai, cụ thể hóa các văn bản chỉ đạo của Trung ương, của tỉnh tại một số UBND xã, phường còn chậm, chưa có sự chủ động, chất lượng tham mưu ban hành văn bản chưa cao, ảnh hưởng đến hiệu quả công việc. Thêm vào đó kỷ luật, kỷ cương hành chính một số nơi chưa nghiêm dẫn đến hiệu quả thực hiện một số nhiệm vụ chưa cao.
Thông tư 50 quy định chi tiết về hồ sơ, thủ tục thông báo doanh thu, kê khai thuế, nộp thuế, hoàn thuế, thông báo địa điểm kinh doanh, tạm ngừng, chấm dứt hoạt động kinh doanh đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh.
Thông tư 50 sửa đổi, bổ sung khoản 2 điều 5 Thông tư 18 như sau: hồ sơ đề nghị hoàn thuế nộp thừa đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh nộp thuế thu nhập cá nhân theo phương pháp thu nhập tính thuế nhân (x) với thuế suất là tờ khai thuế theo Mẫu số 02/CNKD-TNCN-QTT ban hành kèm Thông tư 50.
Cạnh đó, thay thế Mẫu số 01/TKN-CNKD, Mẫu số 01/CNKD, Mẫu số 01/BĐS, Mẫu số 02/BK-KTBĐS theo danh mục mẫu biểu ban hành kèm theo Thông tư 18 bằng Mẫu số 01/TKN-CNKD, Mẫu số 01/CNKD, Mẫu số 01/BĐS, Mẫu số 02/BK-KTBĐS ban hành kèm theo Thông tư 50.
Thông tư 50 có hiệu lực thi hành kể từ ngày 13.5.
Hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh đang hoạt động có doanh thu năm từ 1 tỉ đồng trở xuống, chưa nộp hồ sơ khai thuế quý 1/2026 hoặc chưa gửi thông báo số tài khoản/số hiệu ví điện tử theo quy định tại Thông tư 18 thì gửi thông báo số tài khoản/số hiệu ví điện tử theo Mẫu số 01/BK-STK ban hành kèm theo Thông tư 18 chậm nhất là ngày 31.7.
Trong quá trình thực hiện, nếu có khó khăn, vướng mắc, Bộ Tài chính đề nghị các đơn vị, cơ sở kinh doanh phản ánh kịp thời về bộ để được giải quyết.
Trong bức tranh chung của nông nghiệp - nông thôn, xã Hồ Thị Kỷ vẫn giữ được nền tảng ổn định. Diện tích xuống giống thủy sản và sản lượng lúa vụ 2025 - 2026 đều đạt kế hoạch. Phía sau những con số cho thấy sản xuất duy trì được nhịp tăng trưởng là một quá trình chuyển động rõ nét: tái cấu trúc sản xuất để thích ứng linh hoạt với điều kiện tự nhiên và thị trường.
Năm 2025, tổng giá trị sản phẩm của xã Hồ Thị Kỷ đạt 2.066 tỉ đồng, tăng 6,99% so với năm 2024. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, khi khu vực dịch vụ chiếm 46,42%, trong khi ngư - nông nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng với 41,09%. Thu nhập bình quân đầu người đạt 70 triệu đồng, vượt kế hoạch đề ra. Ở lĩnh vực nông nghiệp, quy mô sản xuất tiếp tục được mở rộng. Diện tích lúa - tôm xuống giống đạt hơn 1.213 ha, vượt xa kế hoạch; diện tích nuôi thủy sản đạt 7.544 ha, trong đó tôm chiếm tới 7.457 ha. Sản lượng thủy sản thu hoạch đạt hơn 6.115 tấn, riêng tôm đạt 2.800 tấn.
Theo ông Trần Quốc Toàn, Chủ tịch UBND xã Hồ Thị Kỷ, việc giữ được nhịp tăng trưởng trong điều kiện chi phí đầu vào tăng và thời tiết nắng nóng kéo dài là kết quả của quá trình chủ động điều hành, bám sát thực tiễn sản xuất. "Địa phương xác định phải thích ứng sớm, không chờ khó khăn xảy ra mới xử lý. Vì vậy, việc điều chỉnh lịch thời vụ, chuyển giao kỹ thuật và tăng liên kết sản xuất được triển khai đồng bộ ngay từ đầu năm", ông Toàn cho biết.
Con tôm tiếp tục giữ vai trò trục chính trong phát triển nông nghiệp của xã Hồ Thị Kỷ, với khoảng 7.457 ha nuôi tôm. Trong đó có khoảng 2.000 ha nuôi quảng canh cải tiến, năng suất trên 370 kg/ha. Đồng thời, địa phương đang phối hợp với doanh nghiệp xây dựng vùng nuôi tôm đạt chứng nhận quốc tế, dự kiến triển khai từ năm 2026 với quy mô 611 ha, 224 hộ tham gia, hướng tới mở rộng 1.500 ha vào năm 2030.
Ông Toàn chia sẻ: "Chúng tôi không chỉ dừng ở việc mở rộng diện tích, mà quan trọng hơn là nâng chất lượng sản xuất. Khi người dân tham gia vào vùng nuôi đạt chuẩn, giá trị con tôm sẽ được nâng lên, đầu ra ổn định hơn".
Song song với chuyển đổi sản xuất, xã Hồ Thị Kỷ từng bước củng cố mô hình kinh tế tập thể. Xã hiện có 8 tổ hợp tác với tổng giá trị hợp tác 698 triệu đồng, diện tích sản xuất 107 ha, 66 thành viên; cùng với đó là 2 hợp tác xã nông nghiệp với tổng vốn điều lệ 265 triệu đồng. Việc thành lập thêm Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp tổng hợp Đê Tây với 107 thành viên trong quý 1/2026 là tín hiệu tích cực, góp phần mở rộng quy mô liên kết, nâng cao hiệu quả tổ chức sản xuất và tăng khả năng tiếp cận thị trường.
Theo lãnh đạo xã, liên kết sản xuất là yếu tố then chốt trong giai đoạn tới. Nếu sản xuất đơn lẻ, rất khó đáp ứng yêu cầu thị trường. Khi vào hợp tác xã, người dân không chỉ được hỗ trợ kỹ thuật mà còn có cơ hội tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị. Ở góc độ phát triển sản phẩm, xã Hồ Thị Kỷ đã xây dựng 1 sản phẩm OCOP 3 sao - tôm khô Út Mau, đồng thời hỗ trợ quảng bá, kết nối tiêu thụ trong năm 2025, qua đó khẳng định hướng đi đúng trong đa dạng hóa sản phẩm, nâng giá trị và mở rộng thị trường.
Trong xây dựng nông thôn mới, dù đã đạt chuẩn từ năm 2020, địa phương tiếp tục tập trung nâng chất tiêu chí, hoàn thiện hạ tầng và huy động nguồn lực xã hội hóa. "Chúng tôi xác định xây dựng nông thôn mới không dừng lại ở đạt chuẩn, mà phải nâng chất để người dân thực sự hưởng lợi", ông Trần Quốc Toàn cho biết.
Từ thực tiễn sản xuất, Hồ Thị Kỷ đang từng bước định hình một mô hình nông nghiệp thích ứng - nơi người nông dân không chỉ sản xuất mà còn tham gia vào chuỗi giá trị, nơi sản phẩm được nâng tầm thông qua tiêu chuẩn và liên kết.
Định hướng thời gian tới tập trung vào theo dõi sát diễn biến thời tiết, chuyển giao khoa học kỹ thuật, nhân rộng mô hình hiệu quả; củng cố hợp tác xã, tăng cường liên kết với doanh nghiệp; mở rộng vùng nuôi tôm đạt chuẩn quốc tế; phát triển sản phẩm OCOP và tiếp tục nâng chất nông thôn mới. "Áp lực luôn có, nhưng đó cũng là động lực để thay đổi. Khi tổ chức lại sản xuất tốt hơn, giá trị nông nghiệp sẽ không chỉ nằm ở sản lượng mà còn ở chất lượng và sự bền vững", ông Toàn nhìn nhận.
Năm 2026, xã Hồ Thị Kỷ đặt mục tiêu duy trì khoảng 7.400 ha nuôi tôm quảng canh cải tiến, năng suất bình quân 400 - 450 kg/ha, nhằm nâng hiệu quả sản xuất, tăng thu nhập và thực hiện khâu đột phá của địa phương.
Song song, xã tập trung phát triển 2 sản phẩm OCOP mới đạt 3 sao gồm rau mầm củ cải trắng (ấp Bào Nhàn) và cà chua cherry (ấp Bến Gỗ), đồng thời hỗ trợ nâng hạng tôm khô Út Mau (ấp Xóm Sở) từ 3 sao lên 4 sao, thúc đẩy giá trị và mở rộng thị trường...
Giữ vững nền tảng hiện có, chủ động đổi mới cách làm, xã Hồ Thị Kỷ đang từng bước chuyển mình theo hướng bền vững, thích ứng linh hoạt và tạo giá trị cao hơn, từng bước khẳng định hướng đi phù hợp trong giai đoạn mới.
Việt Nam hiện dẫn đầu khu vực Châu Á - Thái Bình Dương về mức độ thích ứng tài chính số. Theo Báo cáo New Payments Index của Mastercard, 94% người tiêu dùng đã sử dụng ít nhất một phương thức thanh toán mới - tỷ lệ cao nhất trong khu vực. Tốc độ tăng trưởng này đòi hỏi một hạ tầng thanh toán vững chắc, bảo mật và linh hoạt để vừa đáp ứng nhu cầu thực tế của thị trường, vừa hỗ trợ giai đoạn phát triển tiếp theo của nền kinh tế số.
Trọng tâm của hợp tác chiến lược giữa Mastercard và MDP là tối ưu hóa hạ tầng thanh toán thời gian thực (real-time payment) bằng cách cộng hưởng thế mạnh công nghệ toàn cầu của Mastercard và năng lực vận hành nội địa của MDP. Các giải pháp thanh toán toàn diện này được thiết kế với khả năng mở rộng và tương tác cao, giúp xây dựng môi trường giao dịch an toàn, liền mạch cho các doanh nghiệp và tổ chức tài chính bứt phá trong kỷ nguyên số.
Bên cạnh yếu tố hạ tầng, hai bên sẽ thúc đẩy đổi mới sáng tạo trong các sản phẩm thanh toán, tối ưu hóa hoạt động chuyển mạch và cung cấp các dịch vụ tư vấn chuyên gia nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của người dùng. Qua đó, hai bên sẽ hỗ trợ cho tầm nhìn và định hướng chiến lược của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, ưu tiên thúc đẩy khả năng tương tác dữ liệu, tăng cường an ninh số và tăng tốc quá trình chuyển đổi sang xã hội không tiền mặt.
Phát biểu tại sự kiện, ông Phan Thanh Sơn, Tổng Giám đốc MDP, chia sẻ: "Hợp tác với đối tác toàn cầu như Mastercard khẳng định năng lực của MDP và là lộ trình tất yếu sau khi MDP chính thức ra mắt vào tháng 3.2026. Chúng tôi không chỉ dừng lại ở việc kết nối, mà mục tiêu là cộng hưởng thế mạnh quốc tế của Mastercard vào hạ tầng thanh toán của MDP để tạo ra những "xa lộ thanh toán" an toàn, mang lại trải nghiệm liền mạch cho người dân. Hợp tác này cho phép MDP tối ưu quy mô và kết nối quốc tế, góp phần nâng tầm vị thế của Việt Nam trong hệ sinh thái kinh tế số khu vực".
Ông Sharad Jain, Giám đốc Quốc gia của Mastercard tại Việt Nam, Lào và Campuchia, chia sẻ: "Mastercard tự hào thiết lập mối quan hệ hợp tác chiến lược cùng MDP nhằm phát triển hạ tầng tài chính và thanh toán số cần thiết để thúc đẩy nền kinh tế số Việt Nam. Khi có tới 70% người tiêu dùng Việt ưu tiên các phương thức thanh toán hiện đại như sinh trắc học và mã QR, việc cung cấp các giải pháp đón đầu xu hướng là rất quan trọng. Chúng tôi cam kết xây dựng một hệ sinh thái mạnh mẽ, mang lại lợi ích thiết thực cho doanh nghiệp, người dân và du khách, góp phần hiện thực hóa các mục tiêu số hóa của quốc gia".
Mối quan hệ đối tác được kỳ vọng tạo ra lực đẩy mới cho thị trường thanh toán, giúp doanh nghiệp và người dân tiếp cận các dịch vụ tài chính hiện đại một cách an toàn, bền vững, đẩy nhanh tiến trình hướng tới nền kinh tế số Việt Nam.
Được biết, MDP là đơn vị thứ 2 tại Việt Nam được Ngân hàng Nhà nước cấp phép cung ứng dịch vụ trung gian thanh toán, bao gồm chuyển mạch tài chính, bù trừ điện tử, cổng thanh toán điện tử và hỗ trợ thu hộ - chi hộ, góp phần kết nối các ngân hàng, tổ chức tài chính và doanh nghiệp trong hệ sinh thái số. Trong đó, UPP là đối tác công nghệ chiến lược, đồng hành cùng MDP trong việc xây dựng hệ thống công nghệ.