Tại Hội đàm, Bộ trưởng Nirmala Sitharaman đã nhiệt liệt chào mừng Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cùng đoàn công tác Bộ Tài chính Việt Nam tới thăm Bộ Tài chính Ấn Độ, nhấn mạnh đây là cơ hội để hai bên trao đổi về tình hình kinh tế vĩ mô, định hướng chính sách tài khóa, cải cách thể chế cũng như các định hướng tăng cường hợp tác kinh tế – tài chính giữa hai nước.
Cảm ơn sự đón tiếp trọng thị của Bộ trưởng Nirmala Sitharaman, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn nhấn mạnh Việt Nam luôn coi trọng và đánh giá cao quan hệ hữu nghị truyền thống với Ấn Độ – một trong những đối tác chiến lược toàn diện quan trọng của Việt Nam tại khu vực.
Quan hệ hai nước có nền tảng lịch sử lâu dài, được thiết lập từ năm 1972, không ngừng được củng cố, nâng cấp, đặc biệt kể từ khi hai bên thiết lập Đối tác chiến lược toàn diện vào tháng 9/2016. Trên nền tảng đó, hợp tác kinh tế – tài chính ngày càng trở thành một trụ cột quan trọng, đóng góp thiết thực vào sự phát triển của mỗi nước.
Đặc biệt, nhân dịp chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm tới Ấn Độ theo lời mời của Tổng thống và Thủ tướng Ấn Độ, hai bên đã thống nhất nâng cấp quan hệ Đối tác Chiến lược Toàn diện Việt Nam – Ấn Độ lên thành “Đối tác Chiến lược Toàn diện Tăng cường”, mở ra giai đoạn hợp tác mới sâu sắc và thực chất hơn giữa hai nước.
Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết, Việt Nam đánh giá cao vai trò và vị thế của Ấn Độ như một trong những nền kinh tế lớn, năng động hàng đầu thế giới, với thế mạnh nổi bật về công nghệ thông tin, đổi mới sáng tạo, công nghiệp dược phẩm và năng lượng. Những thành tựu phát triển của Ấn Độ trong thời gian qua là nguồn cảm hứng và kinh nghiệm quý báu đối với các quốc gia đang phát triển, trong đó có Việt Nam.
Trong lĩnh vực kinh tế, tài chính, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn đánh giá cao và mong muốn học hỏi từ Ấn Độ về các bài học thành công ổn định kinh tế vĩ mô, cải cách chính sách thuế hiệu quả, thúc đẩy đầu tư công và hình thành năng lực tự chủ chiến lược trong một số ngành lĩnh vực thiết yếu của bền kinh tế.
Tại hội đàm, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn đã dành thời gian chia sẻ về tình hình kinh tế Việt Nam trong thời gian qua và những định hướng lớn thời gian tới để đạt tốc độ tăng trưởng trên 10%.
Về hợp tác kinh tế – đầu tư giữa Việt Nam và Ấn Độ, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn cho biết, Việt Nam nhận thấy tiềm năng hợp tác giữa hai nước vẫn còn rất lớn và chưa được khai thác tương xứng. Mặc dù số lượng dự án tương đối nhiều, quy mô bình quân còn khiêm tốn, cho thấy dư địa để hai bên nâng tầm hợp tác theo hướng chiến lược, dài hạn và có chiều sâu hơn.
Ở chiều ngược lại, Việt Nam cũng mong muốn mở rộng đầu tư sang Ấn Độ – một thị trường quy mô lớn với hơn 1,4 tỷ dân, tuy nhiên hiện nay quy mô đầu tư của Việt Nam sang Ấn Độ còn khiêm tốn. Việt Nam đề nghị hai bên tiếp tục trao đổi nhằm cải thiện điều kiện tiếp cận thị trường, tạo thuận lợi hơn cho doanh nghiệp hai nước.
Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn mong muốn hai bên tiếp tục tăng cường hợp tác theo hướng thực chất, hiệu quả hơn, trong đó: tiếp tục phát huy các cơ chế hợp tác hiện có, tăng cường trao đổi thông tin, chia sẻ kinh nghiệm và hỗ trợ kỹ thuật; đồng thời thúc đẩy kết nối thị trường, tạo thuận lợi cho thương mại và đầu tư, hướng tới xây dựng môi trường tài chính minh bạch, ổn định và hiệu quả hơn.
Xem xét giao các cấp kỹ thuật triển khai có biện pháp cụ thể để chia sẻ kinh nghiệm thành công, tăng cường năng lực lẫn nhau trên những lĩnh vực mà cả hai bên có thế mạnh và có nhu cầu ưu tiên, như cải cách chính sách thuế, đặc biệt là đối với khu vực doanh nghiệp vừa, nhỏ và siêu nhỏ, và thúc đẩy đầu tư công theo hướng tăng cường cả về quy mô và hiệu quả.
Bộ trưởng Nirmala Sitharaman ấn tượng trước những quan tâm nghiên cứu sâu của Đoàn công tác Bộ Tài chính Việt Nam với nền kinh tế Ấn Độ. Đồng thời chia sẻ cho Đoàn những kinh nghiệm, ưu tiên phát triển của Ấn Độ trong giai đoạn tới
Trước những chia sẻ của Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn, Bộ trưởng Nirmala Sitharaman cho biết bà đặc biệt ấn tượng trước sự quan tâm và nghiên cứu sâu của phía Việt Nam đối với kinh tế Ấn Độ, nhất là các chính sách thúc đẩy đầu tư công, cải cách thuế và hỗ trợ doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa.
Bộ trưởng Nirmala Sitharaman cũng đánh giá cao những thành tựu phát triển của Việt Nam, cho rằng nhiều nội dung cải cách của Việt Nam có tính tương đồng cao với các ưu tiên phát triển của Ấn Độ hiện nay, như cải cách thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh, phát triển hạ tầng, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và kiểm soát lạm phát gắn với duy trì tăng trưởng.
Bộ trưởng Nirmala Sitharaman cho rằng việc duy trì cân bằng giữa tăng trưởng và kiểm soát lạm phát luôn là thách thức lớn đối với các nền kinh tế đang phát triển. Theo đó, Ấn Độ hiện vẫn duy trì mục tiêu kiểm soát lạm phát quanh mức 4%, qua đó tạo dư địa để tiếp tục thúc đẩy tăng trưởng và mở rộng đầu tư công dưới sự lãnh đạo của Thủ tướng Narendra Modi.
Chia sẻ kinh nghiệm của Ấn Độ về đầu tư công, Bộ trưởng Nirmala Sitharaman cho biết sau đại dịch COVID-19, Chính phủ Ấn Độ đã lựa chọn đầu tư công là động lực chủ yếu để phục hồi kinh tế. Theo đó, quy mô đầu tư công của Ấn Độ hiện đã tăng mạnh từ khoảng 2.000 tỷ Rupee/năm lên hơn 12.000 tỷ Rupee/năm, tập trung vào các lĩnh vực như đường bộ, cảng biển, đường sắt, sân bay, hạ tầng số, bệnh viện và hạ tầng xã hội.
Bộ trưởng Tài chính Ấn Độ cũng chia sẻ về nền tảng số PM Gati Shakti – hệ thống đánh giá, điều phối và lựa chọn các dự án đầu tư công trên cơ sở phân tích liên kết vùng, khả năng tạo việc làm, tác động tới doanh nghiệp vừa và nhỏ, logistics và hiệu quả kinh tế tổng thể.
Theo Bộ trưởng, mỗi dự án đầu tư công đều phải trải qua hàng nghìn tiêu chí đánh giá liên quan đến khả năng kết nối hạ tầng, tác động lan tỏa tới nền kinh tế và khả năng tạo việc làm trước khi được phê duyệt, qua đó bảo đảm tính liên kết và hiệu quả đầu tư.
Bày tỏ quan tâm đối với mô hình này, Bộ trưởng Ngô Văn Tuấn đề nghị phía Ấn Độ chia sẻ kinh nghiệm và khả năng hỗ trợ Việt Nam tiếp cận nền tảng PM Gati Shakti để phục vụ công tác quản lý và lựa chọn dự án đầu tư công. Bộ trưởng Nirmala Sitharaman khẳng định sẽ chuyển đề nghị này tới các cơ quan liên quan của Ấn Độ nhằm nghiên cứu khả năng hỗ trợ Việt Nam xây dựng mô hình phù hợp với điều kiện thực tế.
Hai Bộ trưởng cũng trao đổi sâu về chính sách hỗ trợ doanh nghiệp siêu nhỏ, nhỏ và vừa (MSME). Bộ trưởng Nirmala Sitharaman cho biết Ấn Độ đã thực hiện nhiều cải cách mạnh mẽ nhằm đơn giản hóa thủ tục thuế, trong đó cho phép doanh nghiệp nhỏ kê khai thuế hoàn toàn điện tử mà không cần xác nhận của kiểm toán viên; đồng thời áp dụng ngưỡng miễn đăng ký thuế GST đối với các doanh nghiệp có doanh thu nhỏ.
Ấn Độ hiện nay cũng đã đẩy mạnh số hóa toàn diện trong quản lý thuế và tài chính công, hướng tới mô hình “không tiếp xúc trực tiếp”, trong đó hầu hết quy trình kê khai, xử lý hồ sơ và quản lý thuế đều được thực hiện trên nền tảng số.
Tổng CTCP Bia - Rượu - Nước giải khát Sài Gòn (Sabeco, HoSE: SAB) vừa công bố báo cáo tài chính quý I/2026 với doanh thu thuần của Sabeco đạt hơn 6.457 tỷ đồng, tăng 11,1% so với cùng kỳ năm trước.
Đáng chú ý, giá vốn hàng bán chỉ tăng khoảng 3%, qua đó giúp lợi nhuận gộp tăng mạnh 28%, lên 2.405 tỷ đồng. Biên lợi nhuận của doanh nghiệp tiếp tục được cải thiện rõ rệt nhờ cơ cấu giá bán tốt hơn và hiệu quả kiểm soát chi phí.
Ở chiều ngược lại, chi phí tài chính của doanh nghiệp giảm mạnh 85%, xuống còn 14 tỷ đồng. Chi phí bán hàng tăng 13% lên 900 tỷ, trong đó riêng chi phí quảng cáo và khuyến mãi chiếm gần một nửa, khoảng 450 tỷ đồng - tương đương mỗi ngày Sabeco phải chi 5 tỷ cho hoạt động quảng bá sản phẩm.
Sau khi trừ các chi phí, Sabeco ghi nhận lợi nhuận trước thuế đạt 1.548 tỷ đồng, tăng 51% so với cùng kỳ năm trước. Lợi nhuận sau thuế đạt 1.245 tỷ đồng, tăng 55,75%.
Giải trình về kết quả kinh doanh, Sabeco cho biết tăng trưởng lợi nhuận đến từ sản lượng tiêu thụ cải thiện nhờ thời điểm Tết Nguyên đán 2026 rơi vào giữa tháng 2, thuận lợi hơn so với năm trước. Đồng thời, việc điều chỉnh cơ cấu giá từ tháng 7/2025 cùng nỗ lực tiết giảm chi phí tài chính, quản lý doanh nghiệp cúng giúp doanh nghiệp cải thiện đáng kể hiệu quả sinh lời.
Năm 2026, Sabeco đặt mục tiêu doanh thu thuần 28.959 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế 4.937 tỷ đồng. Như vậy, sau quý đầu năm, doanh nghiệp đã hoàn thành khoảng 22,3% kế hoạch doanh thu và 25,2% mục tiêu lợi nhuận cả năm.
Về tình hình tài chính, tính đến ngày 30/3/2026, tổng tài sản của Sabeco đạt hơn 30.874 tỷ đồng, giảm 5,3% so với đầu năm. Trong đó, khoản tiền gửi có kỳ hạn ngắn hạn (trên 3 tháng đến dưới 1 năm) lên tới gần 15.750 tỷ đồng, chiếm hơn 51% tổng tài sản.
Tiền và các khoản tương đương tiền đạt khoảng 3.699 tỷ đồng, giảm 7,9% so với đầu năm. Hàng tồn kho duy trì ổn định ở mức hơn 2.144 tỷ đồng.
Trong bối cảnh cuộc xung đột ở Trung Đông làm lung lay thị trường năng lượng truyền thống, người dân châu Âu đang đổ xô lắp đặt tấm pin năng lượng mặt trời trên mái nhà như một "lá chắn" bảo vệ túi tiền trước tình trạng giá khí đốt và giá điện leo thang.
Theo Reuters, nhu cầu từ các hộ gia đình và doanh nghiệp sẵn sàng lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái đã tăng vọt trong tháng 3 và tiếp tục tăng với tốc độ cao hơn nữa trong tháng 4.
Đáng chú ý, nhu cầu điện mặt trời áp mái ở Đức, Hà Lan và Anh đã tăng từ 30% đến 50% kể từ khi cuộc chiến ở Trung Đông bắt đầu vào ngày 28/2, các nguồn tin trong ngành nói với Reuters.
Ví dụ, doanh số bán hàng của nhà bán buôn thiết bị năng lượng mặt trời Solarhandel24 của Đức đã tăng hơn gấp 3 lần trong tháng trước và dự kiến sẽ tăng gấp 3 lần nữa trong tháng 4, trong bối cảnh nhu cầu về năng lượng mặt trời áp mái tăng vọt, đại diện công ty nói với Reuters.
"Cuộc xung đột chỉ đơn thuần là phơi bày vấn đề đã tồn tại từ lâu: Sự phụ thuộc vào năng lượng", Janik Nolden, đồng sáng lập công ty bán buôn thiết bị năng lượng mặt trời tư nhân Solarhandel24 của Đức, cho biết.
Để đảm bảo nguồn cung, Solarhandel24 đã dự trữ khoảng nửa triệu tấm pin mặt trời trong những tuần gần đây, ông Nolden cho biết.
Tương tự, nhà cung cấp giải pháp năng lượng mặt trời Enpal của Đức cũng báo cáo nhu cầu mạnh mẽ về năng lượng mặt trời trên mái nhà đã thúc đẩy đơn đặt hàng tăng 30% trong tháng 3 so với cùng kỳ năm ngoái và dự kiến sẽ tăng thêm 33% trong tháng 4.
"Đây là vấn đề về khả năng phục hồi của châu Âu", Giám đốc điều hành kiêm người sáng lập Enpal, Mario Kohle, cho biết. "Chúng ta cũng đang thấy xu hướng này trong lĩnh vực quốc phòng. Cũng như châu Âu phải có khả năng tự vệ, chúng ta cũng phải có khả năng tự cung cấp năng lượng cho chính mình".
Đối với người tiêu dùng châu Âu, đây không còn chỉ là vấn đề bảo vệ môi trường, mà là bài toán kinh tế sát sườn. Việc tự chủ nguồn cung năng lượng tại chỗ thông qua điện mặt trời áp mái đã trở thành lựa chọn ưu tiên hàng đầu để giảm thiểu sự phụ thuộc vào lưới điện quốc gia vốn đang chịu ảnh hưởng nặng nề từ giá khí đốt thế giới.
Vương quốc Anh cũng đang tìm cách thúc đẩy việc lắp đặt hệ thống điện mặt trời áp mái như một phần trong các biện pháp của chính phủ được công bố tuần này, nhằm mục đích phá vỡ ảnh hưởng quá lớn của giá khí đốt đối với giá điện.
Công ty OVO Energy của Anh cho biết trong một phân tích hồi tháng trước rằng có khoảng 13,7 triệu hộ gia đình trên khắp Vương quốc Anh sẵn sàng lắp đặt tấm pin năng lượng mặt trời – gần một nửa tổng số nhà ở.
Nếu được lắp đặt, những tấm pin này sẽ tạo ra 28,5 terawatt-giờ (TWh) năng lượng tái tạo mỗi năm – đủ điện để sạc tất cả 1,2 triệu xe điện của Vương quốc Anh trong gần 10 năm, theo OVO Energy.
Nhờ điện mặt trời, EU đã tiết kiệm được 130 triệu USD (111,7 triệu Euro) mỗi ngày trong 17 ngày đầu tiên của cuộc xung đột ở Trung Đông – khoản tiết kiệm từ việc không phải nhập khẩu nhiên liệu hóa thạch khi giá cả biến động mạnh, Hiệp hội công nghiệp SolarPower Europe cho biết.
Theo ước tính của hiệp hội này, nếu không có điện mặt trời, hóa đơn nhập khẩu nhiên liệu hóa thạch của EU sẽ cao hơn 32% so với hiện tại.
Chương trình mang đến nhiều ưu đãi về thanh toán quốc tế, tài trợ thương mại và giải pháp tài chính, hỗ trợ doanh nghiệp tiết giảm chi phí, nâng cao hiệu quả vận hành và tăng năng lực cạnh tranh.
Trong hoạt động xuất nhập khẩu, thanh toán quốc tế là nghiệp vụ cốt lõi, gắn liền với nhiều giao dịch như phát hành và thanh toán thư tín dụng (L/C), nhờ thu, chuyển tiền quốc tế và xử lý chứng từ. Mỗi nghiệp vụ phát sinh các loại phí riêng, phụ thuộc vào giá trị và tần suất giao dịch của từng doanh nghiệp.
Đối với các doanh nghiệp có quy mô giao dịch lớn hoặc phát sinh thanh toán thường xuyên, các chi phí này không còn mang tính đơn lẻ mà trở thành một cấu phần vận hành đáng kể khi cộng dồn theo thời gian, đặc biệt đối với nhóm doanh nghiệp lớn và doanh nghiệp FDI.
Ở chiều xuất khẩu, thời gian thu tiền phụ thuộc nhiều vào phương thức thanh toán và quá trình xử lý chứng từ. Việc phát sinh thêm chi phí hoặc kéo dài thời gian xử lý có thể ảnh hưởng trực tiếp đến vòng quay vốn và hiệu quả sử dụng dòng tiền của doanh nghiệp. Trong khi đó, doanh nghiệp nhập khẩu cần đồng thời đảm bảo thanh toán đúng hạn cho đối tác nước ngoài và kiểm soát chi phí để tối ưu giá vốn hàng hóa.
Trong bối cảnh biên lợi nhuận ngày càng thu hẹp, chi phí thanh toán quốc tế không còn là chi phí giao dịch đơn thuần mà gắn trực tiếp với hiệu quả sử dụng vốn và năng lực quản trị dòng tiền của doanh nghiệp. Đây cũng là lý do nhiều doanh nghiệp bắt đầu rà soát kỹ hơn các khoản phí ngân hàng phát sinh trong hoạt động xuất nhập khẩu.
Xuất phát từ nhu cầu thực tế của doanh nghiệp, Eximbank triển khai chương trình CIB Trade Return 2026 với trọng tâm tối ưu chi phí tại các nghiệp vụ thanh toán quốc tế và tài trợ thương mại có tần suất sử dụng cao.
Cụ thể, đối với doanh nghiệp xuất khẩu, chương trình áp dụng chính sách miễn phí nhận tiền, phí xử lý chứng từ và phí thông báo L/C, đồng thời giảm đến 70% phí thanh toán L/C và nhờ thu. Việc tối ưu chi phí tại các khâu giao dịch giúp doanh nghiệp cải thiện vòng quay vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng dòng tiền và tăng tính chủ động trong hoạt động thương mại quốc tế.
Đối với doanh nghiệp nhập khẩu, Eximbank miễn phí chuyển tiền quốc tế và ký hậu vận đơn, đồng thời giảm đến 70% phí phát hành L/C, phí thanh toán L/C và nhờ thu. Cấu trúc ưu đãi được thiết kế theo nhu cầu giao dịch thực tế, hỗ trợ doanh nghiệp kiểm soát chi phí nhập khẩu, tối ưu kế hoạch tài chính và nâng cao hiệu quả vận hành.
Chương trình CIB Trade Return 2026 được triển khai xuyên suốt năm 2026, từ ngày 01/01/2026 đến hết ngày 31.12.2026, áp dụng cho khách hàng doanh nghiệp lớn (có doanh thu từ 1.000 tỷ đồng trở lên) và doanh nghiệp FDI bao gồm các khách hàng mới hoặc chưa phát sinh doanh số thanh toán quốc tế tại Eximbank trong vòng 6 tháng gần nhất, cũng như các khách hàng hiện hữu đang giao dịch tại ngân hàng.
Trong bối cảnh doanh nghiệp xuất nhập khẩu cần kiểm soát chi phí để duy trì biên lợi nhuận, các giải pháp tối ưu chi phí giao dịch và vận hành dòng tiền đang trở thành yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp duy trì hiệu quả hoạt động và năng lực cạnh tranh, đặc biệt đối với nhóm doanh nghiệp có tần suất giao dịch cao và nhu cầu thanh toán thường xuyên.