Trong bức tranh chung của nông nghiệp – nông thôn, xã Hồ Thị Kỷ vẫn giữ được nền tảng ổn định. Diện tích xuống giống thủy sản và sản lượng lúa vụ 2025 – 2026 đều đạt kế hoạch. Phía sau những con số cho thấy sản xuất duy trì được nhịp tăng trưởng là một quá trình chuyển động rõ nét: tái cấu trúc sản xuất để thích ứng linh hoạt với điều kiện tự nhiên và thị trường.
Năm 2025, tổng giá trị sản phẩm của xã Hồ Thị Kỷ đạt 2.066 tỉ đồng, tăng 6,99% so với năm 2024. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch theo hướng tích cực, khi khu vực dịch vụ chiếm 46,42%, trong khi ngư – nông nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng với 41,09%. Thu nhập bình quân đầu người đạt 70 triệu đồng, vượt kế hoạch đề ra. Ở lĩnh vực nông nghiệp, quy mô sản xuất tiếp tục được mở rộng. Diện tích lúa – tôm xuống giống đạt hơn 1.213 ha, vượt xa kế hoạch; diện tích nuôi thủy sản đạt 7.544 ha, trong đó tôm chiếm tới 7.457 ha. Sản lượng thủy sản thu hoạch đạt hơn 6.115 tấn, riêng tôm đạt 2.800 tấn.
Theo ông Trần Quốc Toàn, Chủ tịch UBND xã Hồ Thị Kỷ, việc giữ được nhịp tăng trưởng trong điều kiện chi phí đầu vào tăng và thời tiết nắng nóng kéo dài là kết quả của quá trình chủ động điều hành, bám sát thực tiễn sản xuất. “Địa phương xác định phải thích ứng sớm, không chờ khó khăn xảy ra mới xử lý. Vì vậy, việc điều chỉnh lịch thời vụ, chuyển giao kỹ thuật và tăng liên kết sản xuất được triển khai đồng bộ ngay từ đầu năm”, ông Toàn cho biết.
Con tôm tiếp tục giữ vai trò trục chính trong phát triển nông nghiệp của xã Hồ Thị Kỷ, với khoảng 7.457 ha nuôi tôm. Trong đó có khoảng 2.000 ha nuôi quảng canh cải tiến, năng suất trên 370 kg/ha. Đồng thời, địa phương đang phối hợp với doanh nghiệp xây dựng vùng nuôi tôm đạt chứng nhận quốc tế, dự kiến triển khai từ năm 2026 với quy mô 611 ha, 224 hộ tham gia, hướng tới mở rộng 1.500 ha vào năm 2030.
Ông Toàn chia sẻ: “Chúng tôi không chỉ dừng ở việc mở rộng diện tích, mà quan trọng hơn là nâng chất lượng sản xuất. Khi người dân tham gia vào vùng nuôi đạt chuẩn, giá trị con tôm sẽ được nâng lên, đầu ra ổn định hơn”.
Song song với chuyển đổi sản xuất, xã Hồ Thị Kỷ từng bước củng cố mô hình kinh tế tập thể. Xã hiện có 8 tổ hợp tác với tổng giá trị hợp tác 698 triệu đồng, diện tích sản xuất 107 ha, 66 thành viên; cùng với đó là 2 hợp tác xã nông nghiệp với tổng vốn điều lệ 265 triệu đồng. Việc thành lập thêm Hợp tác xã Dịch vụ nông nghiệp tổng hợp Đê Tây với 107 thành viên trong quý 1/2026 là tín hiệu tích cực, góp phần mở rộng quy mô liên kết, nâng cao hiệu quả tổ chức sản xuất và tăng khả năng tiếp cận thị trường.
Theo lãnh đạo xã, liên kết sản xuất là yếu tố then chốt trong giai đoạn tới. Nếu sản xuất đơn lẻ, rất khó đáp ứng yêu cầu thị trường. Khi vào hợp tác xã, người dân không chỉ được hỗ trợ kỹ thuật mà còn có cơ hội tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị. Ở góc độ phát triển sản phẩm, xã Hồ Thị Kỷ đã xây dựng 1 sản phẩm OCOP 3 sao – tôm khô Út Mau, đồng thời hỗ trợ quảng bá, kết nối tiêu thụ trong năm 2025, qua đó khẳng định hướng đi đúng trong đa dạng hóa sản phẩm, nâng giá trị và mở rộng thị trường.
Trong xây dựng nông thôn mới, dù đã đạt chuẩn từ năm 2020, địa phương tiếp tục tập trung nâng chất tiêu chí, hoàn thiện hạ tầng và huy động nguồn lực xã hội hóa. “Chúng tôi xác định xây dựng nông thôn mới không dừng lại ở đạt chuẩn, mà phải nâng chất để người dân thực sự hưởng lợi”, ông Trần Quốc Toàn cho biết.
Từ thực tiễn sản xuất, Hồ Thị Kỷ đang từng bước định hình một mô hình nông nghiệp thích ứng – nơi người nông dân không chỉ sản xuất mà còn tham gia vào chuỗi giá trị, nơi sản phẩm được nâng tầm thông qua tiêu chuẩn và liên kết.
Định hướng thời gian tới tập trung vào theo dõi sát diễn biến thời tiết, chuyển giao khoa học kỹ thuật, nhân rộng mô hình hiệu quả; củng cố hợp tác xã, tăng cường liên kết với doanh nghiệp; mở rộng vùng nuôi tôm đạt chuẩn quốc tế; phát triển sản phẩm OCOP và tiếp tục nâng chất nông thôn mới. “Áp lực luôn có, nhưng đó cũng là động lực để thay đổi. Khi tổ chức lại sản xuất tốt hơn, giá trị nông nghiệp sẽ không chỉ nằm ở sản lượng mà còn ở chất lượng và sự bền vững”, ông Toàn nhìn nhận.
Năm 2026, xã Hồ Thị Kỷ đặt mục tiêu duy trì khoảng 7.400 ha nuôi tôm quảng canh cải tiến, năng suất bình quân 400 – 450 kg/ha, nhằm nâng hiệu quả sản xuất, tăng thu nhập và thực hiện khâu đột phá của địa phương.
Song song, xã tập trung phát triển 2 sản phẩm OCOP mới đạt 3 sao gồm rau mầm củ cải trắng (ấp Bào Nhàn) và cà chua cherry (ấp Bến Gỗ), đồng thời hỗ trợ nâng hạng tôm khô Út Mau (ấp Xóm Sở) từ 3 sao lên 4 sao, thúc đẩy giá trị và mở rộng thị trường…
Giữ vững nền tảng hiện có, chủ động đổi mới cách làm, xã Hồ Thị Kỷ đang từng bước chuyển mình theo hướng bền vững, thích ứng linh hoạt và tạo giá trị cao hơn, từng bước khẳng định hướng đi phù hợp trong giai đoạn mới.
Chính phủ vừa ban hành Nghị định 141/2026/NĐ-CP sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 68/2026/NĐ-CP và Nghị định 320/2025/NĐ-CP, có hiệu lực từ ngày 1.1.2026. Theo đó, ngưỡng doanh thu miễn thuế của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh (hộ kinh doanh) được nâng từ 500 triệu đồng/năm lên 1 tỉ đồng/năm.
Trao đổi với Thanh Niên, ông Lê Văn Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Kế toán Thuế Keytas, phân tích, Nghị định 141/2026/NĐ-CP kế thừa các nội dung cơ bản của Nghị định 68/2026/NĐ-CP. Điều này đồng nghĩa, phương pháp tính thuế của hộ kinh doanh sẽ không thay đổi.
Cụ thể, nếu doanh thu từ 1 tỉ đồng/năm trở xuống: hộ kinh doanh được miễn cả thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân.
Nếu doanh thu trên 1 tỉ đồng/năm: hộ kinh doanh sẽ tính thuế thu nhập cá nhân trên phần doanh thu vượt 1 tỉ đồng, còn thuế giá trị gia tăng tính từ đồng doanh thu đầu tiên.
Ông Tuấn lưu ý, Nghị định 141/2026/NĐ-CP cho phép hộ kinh doanh có doanh thu từ 1 tỉ đồng/năm trở xuống, nếu có nhu cầu sử dụng hóa đơn điện tử, thì được đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử.
Điều này giúp hộ chủ động hơn, có thể xuất hóa đơn cho đối tượng khách hàng là doanh nghiệp hoặc hộ kinh doanh khác, tránh tình trạng bị hạn chế tiếp cận đối tượng khách hàng như các hướng dẫn trước đây.
Theo ông Tuấn, sau khi nâng ngưỡng miễn thuế như trên, về nguyên tắc, hộ kinh doanh có doanh thu từ 1 tỉ đồng/năm trở xuống sẽ không phải nộp tờ khai thuế, chỉ nộp thông báo doanh thu cho cơ quan thuế. Hộ kinh doanh có doanh thu trên 1 tỉ đồng/năm thì cần nộp tờ khai thuế và nộp thuế theo thời hạn quy định.
Cách áp dụng này tương tự như với hộ kinh doanh có doanh thu từ 500 triệu đồng/năm trở xuống và trên 500 triệu đồng/năm trước đây.
Như vậy, với các hộ kinh doanh có doanh thu năm từ trên 500 triệu đồng đến 1 tỉ đồng, sẽ có 3 trường hợp xảy ra như sau:
Thứ nhất, hộ kinh doanh chưa nộp tờ khai thuế quý 1 và chưa nộp thuế: sẽ không cần nộp tờ khai và nộp thuế quý 1, chỉ cần thông báo doanh thu cho cơ quan thuế trước ngày 31.7 (với các hộ kinh doanh mới được thành lập 6 tháng đầu năm) hoặc chậm nhất là ngày 31.1.2027.
Thứ hai, hộ kinh doanh đã nộp tờ khai thuế quý 1 và chưa nộp thuế: lưu ý xử lý theo 2 trường hợp.
Trường hợp 1, hộ kinh doanh cần ước tính lại doanh thu năm 2026, nếu cảm thấy doanh thu sẽ vượt trên 1 tỉ đồng thì tờ khai đã nộp cần được giữ nguyên, tiến hành nộp tiền thuế theo tờ khai.
Trường hợp 2, nếu hộ kinh doanh xác định doanh thu năm 2026 sẽ dưới 1 tỉ đồng, cần tiến hành thủ tục hủy tờ khai thuế đã nộp trước đó với cơ quan thuế và chờ nộp thông báo doanh thu cho cơ quan thuế theo quy định.
Thứ ba, hộ kinh doanh đã nộp tờ khai thuế quý 1 và đã nộp thuế: cách xử lý tương tự như trên.
hộ kinh doanh cần ước tính lại doanh thu năm 2026, nếu cảm thấy doanh thu sẽ vượt trên 1 tỉ đồng thì tờ khai thuế và số thuế đã nộp được giữ nguyên. Hộ kinh doanh tiến hành nộp thuế và tờ khai thuế cho các kỳ tiếp theo theo quy định hiện hành.
Nếu hộ kinh doanh xác định doanh thu năm 2026 sẽ dưới 1 tỉ đồng, cần tiến hành thủ tục hủy tờ khai thuế đã nộp trước đó, chờ nộp thông báo doanh thu cho cơ quan thuế theo quy định.
Với số thuế đã nộp, hộ kinh doanh sẽ làm thủ tục hoàn hoặc bù trừ kỳ tiếp theo, theo hướng dẫn tại điều 12 Nghị định 68/2026/NĐ-CP.
Đó là chỉ đạo nóng trong văn bản được Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Môi trường Lê Công Thành ký ngày 28.4, gửi các tập đoàn: Điện lực Việt Nam (EVN); Công nghiệp năng lượng quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) và Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV) và 32 nhà máy nhiệt điện.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường đề nghị các chủ đầu tư, đơn vị vận hành nhà máy nhiệt điện rà soát toàn diện hiện trạng thiết bị, hiệu quả vận hành của các công trình xử lý chất thải; chủ động rà soát hệ thống xử lý khí thải nhằm phòng ngừa, giảm thiểu sự cố môi trường có thể dẫn tới nguy cơ xả khí thải vượt quy chuẩn kỹ thuật.
Các nhà máy nhiệt điện bảo đảm vận hành ổn định, hiệu quả hệ thống thu gom, xử lý khí thải và hệ thống quan trắc khí thải tự động, liên tục; ưu tiên rà soát, sửa chữa, thay thế, bổ sung vật tư tiêu hao, định kỳ bảo trì, bảo dưỡng thiết bị để bảo đảm điều kiện vận hành ổn định, đặc biệt là trong các tháng cao điểm mùa khô.
Khi phát hiện hệ thống xử lý khí thải xuống cấp, hư hỏng, các nhà máy phải kịp thời khắc phục, sửa chữa và có kế hoạch định kỳ bảo dưỡng, sửa chữa, thay thế vật tư, hóa chất, thiết bị theo hướng chủ động, ưu tiên thực hiện trước mùa khô hoặc bố trí trong các thời điểm phụ tải thấp; không làm gián đoạn vận hành các tổ máy phát điện.
Trường hợp bảo dưỡng, sửa chữa, cải tạo thiết bị có khả năng ảnh hưởng đến công tác huy động công suất phát điện, các nhà máy cần lập kế hoạch cụ thể, phối hợp với đơn vị điều độ hệ thống điện để bố trí thời gian thực hiện phù hợp với kế hoạch huy động điện trong mùa khô theo chỉ đạo, hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng đề nghị chủ đầu tư, đơn vị vận hành nhà máy nhiệt điện xem xét, lựa chọn, kết hợp thực hiện một số biện pháp cụ thể đối với công tác vận hành tổ máy phát điện và hệ thống xử lý bụi, khí thải.
Các nhà máy nhiệt điện tăng cường kiểm soát chặt chẽ chất lượng nhiên liệu đầu vào, đặc biệt là các chỉ tiêu kỹ thuật về hàm lượng lưu huỳnh, tro, độ ẩm trong than. Trên cơ sở đó, các nhà máy dự báo nồng độ phát thải đối với các thông số ô nhiễm cơ bản trong khí thải (SO2, NOx và bụi tổng) để điều chỉnh tỷ lệ phối trộn nhiên liệu phù hợp; không tiếp nhận than không bảo đảm chất lượng theo thiết kế công nghệ của tổ máy.
Các nhà máy nhiệt điện duy trì và tăng cường bề mặt trao đổi nhiệt (thông qua cơ chế nghiền than, chế độ cấp gió, xử lý xỉ lò), bảo đảm hiệu suất cháy ổn định, hạn chế dao động tải nhằm vận hành tổ máy ở chế độ tối ưu đồng thời hạn chế tối đa việc thay đổi đột biến về nồng độ của các thông số ô nhiễm trong khí thải.
Để tăng cường khả năng vận hành hiệu quả hệ thống xử lý khí thải, giảm thiểu nguy cơ xả khí thải vượt quy chuẩn kỹ thuật môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường khuyến nghị thiết lập ngưỡng cảnh báo nội bộ về các thông số ô nhiễm trong khí thải (như CO, NOx, SO2, bụi tổng) phù hợp để chủ động điều chỉnh tỷ lệ thành phần nhiên liệu, chế độ vận hành của tổ máy.
Bộ Nông nghiệp và Môi trường cũng lưu ý các đơn vị về lộ trình áp dụng Quy chuẩn kỹ thuật quốc gia mới về khí thải công nghiệp (QCVN 19:2024/BTNMT) có hiệu lực từ ngày 1.7.2025. Các nhà máy vận hành trước ngày 1.7.2025 tiếp tục áp dụng quy chuẩn cũ (QCVN 22:2009/BTNMT) đến hết ngày 31.12.2031.
Ngay từ bây giờ, các chủ đầu tư nhà máy nhiệt điện khẩn trương nghiên cứu chuyển đổi công nghệ sản xuất và xử lý chất thải ngay để đáp ứng các quy định nghiêm ngặt tại quy chuẩn QCVN 19:2024/BTNMT từ ngày 1.1.2032.
Theo các thông báo kết luận thanh tra được ban hành cuối tháng 4/2026, dù các chi nhánh trên của KienlongBank duy trì hoạt động ổn định, kinh doanh có lãi và cơ bản chấp hành nhiều quy định pháp luật trong lĩnh vực ngân hàng, cơ quan thanh tra vẫn phát hiện một số tồn tại đáng chú ý liên quan đến công tác cho vay, kiểm soát rủi ro và xử lý nợ.
Theo Thông báo kết luận thanh tra số 17/TB-TTRA, Chánh Thanh tra NHNN Khu vực 13 đã ban hành Kết luận thanh tra số 13/KL-TTRA đối với KienlongBank Chi nhánh Đồng Tháp.
Cơ quan thanh tra cho biết, trong thời kỳ thanh tra, KienlongBank Đồng Tháp duy trì hoạt động ổn định, kinh doanh có lãi, các chỉ tiêu cơ bản như huy động vốn và cho vay đều tăng trưởng qua các năm. Công tác xử lý nợ xấu được thực hiện tương đối hiệu quả, góp phần kéo giảm tỷ lệ nợ xấu về mức an toàn theo khuyến cáo của NHNN.
Tuy nhiên, bên cạnh các kết quả đạt được, cơ quan thanh tra xác định hoạt động của chi nhánh vẫn phát sinh một số tồn tại, hạn chế và rủi ro liên quan đến điều kiện vay vốn; công tác thẩm định, xét duyệt cho vay; kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn vay; hồ sơ đề nghị bảo lãnh; thứ tự thu hồi gốc, lãi khoản vay quá hạn; phân loại nợ và cho vay ngoài địa bàn.
Theo kết luận, các tồn tại trên chủ yếu mang tính chủ quan, xuất phát từ việc chưa thực hiện đầy đủ quy định nội bộ và các quy định pháp luật liên quan.
Tại KienlongBank Chi nhánh Tây Ninh, kết luận thanh tra số 15/KL-TTRA ban hành ngày 29/4/2026 ghi nhận đơn vị đã thực hiện đúng định hướng tăng trưởng tín dụng do hội sở giao, đồng thời chấp hành quy định về phân loại tài sản có, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro.
Dù vậy, cơ quan thanh tra cũng chỉ ra nhiều tồn tại, hạn chế và rủi ro trong công tác cho vay và kiểm tra, giám sát sau cho vay.
Theo NHNN Khu vực 13, nguyên nhân xuất phát từ việc đơn vị chưa nghiêm túc chấp hành các quy định nội bộ cũng như quy định pháp luật trong hoạt động cho vay và hậu kiểm tín dụng.
Kết luận thanh tra xác định trách nhiệm trực tiếp thuộc về các cá nhân, bộ phận thực hiện nghiệp vụ, đồng thời thuộc trách nhiệm chung của Giám đốc KienlongBank Tây Ninh trong công tác quản lý, điều hành và kiểm soát.
Theo Thông báo kết luận thanh tra số 19/TB-TTRA, Chánh Thanh tra NHNN Khu vực 13 đã ban hành Kết luận thanh tra số 12/KL-TTRA đối với KienlongBank Chi nhánh Tiền Giang.
Kết luận cho biết, trong thời kỳ thanh tra, KienlongBank Tiền Giang duy trì hoạt động ổn định, kinh doanh có lãi, nguồn vốn huy động tăng trưởng qua các năm. Đơn vị cơ bản chấp hành quy định liên quan đến phân loại nợ, trích lập dự phòng rủi ro và quan tâm đến công tác xử lý, thu hồi nợ xấu.
Tuy nhiên, cơ quan thanh tra xác định hoạt động cho vay của chi nhánh còn phát sinh một số tồn tại, hạn chế và rủi ro trong công tác thẩm định, xét duyệt cho vay; kiểm tra, giám sát vốn vay; xử lý các khoản nợ có vấn đề. Đồng thời, cơ quan thanh tra cũng lưu ý một số dấu hiệu tiềm ẩn rủi ro trong hoạt động của đơn vị.
Theo kết luận thanh tra, nguyên nhân xuất phát từ việc một số khách hàng chưa thực hiện đúng nguyên tắc vay vốn, đồng thời đơn vị còn chủ quan trong quá trình xét duyệt cho vay.