Khoảng 18h50 ngày 25-4, vụ cháy xảy ra tại khu kho xưởng ở xã Đông Anh (Hà Nội).
Nơi xảy ra hỏa hoạn là một khu xưởng có chứa các sản phẩm liên quan đến sơn, dung môi, rộng hàng trăm m2.
Nhân chứng cho hay họ nghe thấy tiếng nổ lớn, sau đó ngọn lửa bùng lên dữ dội kèm những cột khói bốc cao hàng trăm mét.
“Tôi đứng cách xa nơi xảy ra cháy gần 2km nhưng vẫn quan sát được cột khói bốc lên”, chị Vũ Hà (người địa phương) mô tả.
Trao đổi với Tuổi Trẻ Online, Bí thư Đảng ủy xã Đông Anh – ông Nguyễn Anh Dũng cho hay khu vực xảy ra hỏa hoạn nằm tách biệt với khu dân cư, không có nhà dân tiếp giáp.
Lúc 19h30, chính quyền cùng các lực lượng địa phương đã có mặt tại hiện trường, phối hợp cùng cảnh sát phòng cháy chữa cháy nỗ lực khống chế ngọn lửa.
“Bước đầu chưa ghi nhận thương vong về người trong sự cố này”, ông Dũng cho biết thêm.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Khoảng 8h30, xe khách do ông Phạm Hoàng Long (49 tuổi) điều khiển, chạy hướng miền Tây tới TP HCM. Khi qua đoạn xã Tân Hương, (huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang cũ), tài xế phát hiện khói từ phía sau nên tấp vào làn dừng khẩn cấp. Ít phút sau, lửa bùng lên, nhanh chóng bao trùm toàn bộ phương tiện.
Tài xế kịp đưa toàn bộ hành khách xuống xe an toàn, song nhiều hành lý không kịp di chuyển.
Lực lượng Cảnh sát PCCC & CNCH Công an tỉnh Đồng Tháp phối hợp đơn vị quản lý cao tốc dập lửa sau khoảng 30 phút. Vụ cháy không gây thương vong nhưng xe bị thiêu rụi.
Sự cố xảy ra trong cao điểm nghỉ lễ khiến cao tốc ùn tắc cả hai hướng. Cảnh sát phải điều tiết phương tiện xuống quốc lộ 1 để giải tỏa. Các hành khách được bố trí sang xe khác tiếp tục hành trình.
Cao tốc TP HCM - Trung Lương dài khoảng 50 km, quy mô 4 làn xe và 2 làn dừng khẩn cấp, khai thác từ năm 2010. Là trục huyết mạch đi miền Tây, tuyến thường xuyên quá tải, dễ xảy ra sự cố, tai nạn.
Gần nhất, vụ cháy ôtô 5 chỗ sáng hôm qua khiến kẹt xe hơn 10 km. Tuyến đang được triển khai mở rộng.
Tin Gốc: Vnexpress

Ông Nguyễn Văn Hưởng, Trưởng phòng Dự báo thời tiết (Trung tâm Dự báo Khí tượng Thủy văn quốc gia), cho biết từ ngày 3/4 Tây Bắc Bộ xuất hiện nắng nóng, cao nhất ngày từ 35 độ C trở lên, đến ngày 6/4 thì mở rộng ra hầu khắp miền Bắc.
Miền Trung cũng nắng nóng từ 3/4 và nhanh chóng gia tăng cường độ, đến ngày 4/4 bắt đầu gay gắt với nhiệt độ cao nhất từ 37 độ C trở lên. Trong khi đó, Tây Nguyên và Nam Bộ ghi nhận nắng nóng diện rộng từ ngày 5/4.
Dự báo, nắng nóng ở miền Bắc có khả năng duy trì đến ngày 12-13/4, sau đó giảm dần, nhiệt độ cao nhất 34-37 độ C, riêng Tây Bắc có thể lên 39-40 độ.
Tại miền Trung, nắng nóng kéo dài đến ngày 13-14/4, nhiệt độ phổ biến 36-39 độ C, có nơi trên 40 độ. Riêng Nam Bộ và Tây Nguyên nắng nóng có thể duy trì đến cuối tháng 4 và đầu tháng 5, nhiệt độ cao nhất 34-37 độ C, một vài ngày nắng giảm nhưng sau đó tiếp tục gia tăng trở lại.
Lý giải nguyên nhân, ông Hưởng cho biết nắng nóng tại miền Bắc và Trung chủ yếu do ảnh hưởng của hoàn lưu vùng thấp nóng phía tây kết hợp với hiệu ứng gió phơn khiến không khí khô, nhiệt độ tăng nhanh trong ngày. Cao nhất ngày tại khu vực này phổ biến 36-39 độ, riêng miền Trung có nơi trên 40 độ C.
Trong khi đó, Tây Nguyên và Nam Bộ do chịu tác động của khối không khí ổn định bao trùm, làm hạn chế sự hình thành mây, khiến trời ít mây, nắng kéo dài từ sáng đến chiều, làm nhiệt độ tăng cao.
Do nguyên nhân khác nhau nên mức độ nắng nóng giữa các miền cũng khác biệt. Nắng nóng ở Tây Bắc Bộ và Trung Bộ mang tính khô, gay gắt, còn ở Nam Bộ thì kéo dài, nhưng nhiệt độ cao nhất chỉ dao động 35-37 độ C.
So sánh với trung bình nhiều năm, ông Hưởng cho biết Tây Bắc Bộ và các tỉnh từ Nghệ An đến Đà Nẵng nắng nóng xuất hiện từ ngày 30-31/3, sớm hơn khoảng một tuần so với quy luật thông thường rơi vào tuần thứ hai của tháng 4.
Đông Bắc Bộ, nơi trung bình nhiều năm nắng nóng diện rộng thường đến vào nửa cuối tháng 5, năm nay ngay từ đầu tháng 4, sớm hơn khoảng 15-20 ngày.
Tại Đông Nam Bộ, đợt nắng nóng đầu tiên trong năm xuất hiện từ ngày 16-19/2, sớm hơn khoảng 10 ngày so với trung bình nhiều năm (thường từ 28/2 đến 8/3).
Theo nhận định của cơ quan khí tượng, trong tháng 4/2026, mức độ nắng nóng sẽ gay gắt hơn so với cùng kỳ nhiều năm, tập trung tại Tây Bắc Bộ, các tỉnh thành từ Thanh Hóa đến Huế và Nam Bộ. Nhiệt độ trung bình trong tháng 4 tại Bắc Bộ và Thanh Hóa - Huế dự báo cao hơn 1,5-2,5 độ so với trung bình nhiều năm; các khu vực khác cao hơn 0,5-1,5 độ C.
Từ khoảng tháng 5, nắng nóng có xu hướng xuất hiện nhiều hơn và gia tăng về cường độ tại Bắc Bộ và Trung Bộ, kéo dài đến khoảng tháng 8/2026, trước khi giảm dần từ tháng 9.
"Tổng thể, nắng nóng trong năm 2026 có khả năng xảy ra nhiều hơn và gay gắt hơn so với cùng kỳ năm 2025", ông Hưởng nhận định.
Gia Chính
Tin Gốc: https://vnexpress.net/ca-nuoc-nang-nong-den-bao-gio-5059922.html

Nơi con nước hòa mình với cửa đại, dòng sông Trà không chỉ là cảnh quan thiên nhiên mà còn là mạch sống nuôi dưỡng những phận người lam lũ, giúp họ dựng xây cuộc sống ấm no.
Gần 40 năm qua, vợ chồng ông Huỳnh Thống (60 tuổi) và bà Phạm Thị Lượm (57 tuổi, ở xã Tịnh Khê) vẫn đều đặn mưu sinh bằng nghề đánh bắt cá ở đoạn cuối sông Trà. Với họ, con sông không chỉ là nơi kiếm sống mà còn là một phần ký ức, gắn bó từ những ngày đầu lập gia đình.
Ông Thống nhớ lại, thuở mới cưới, hai vợ chồng bắt đầu bằng chiếc lưới đơn sơ, ngày ngày thả lưới trên dòng nước đục phù sa. "Nghề này nuôi sống cả gia đình tôi, lo cho con cái ăn học nên người", ông Thống nói, giọng trầm ấm.
Theo lời những bậc cao niên, trước đây vùng cửa đại là nơi hội tụ của nhiều loài cá. Mỗi buổi chiều, cá đối từ biển theo dòng nước ngược lên, gặp dòng sông Trà chảy ra, từng đàn cá dày đặc nhảy lên mặt nước trắng xóa cả khúc sông. Khung cảnh ấy giờ chỉ còn trong ký ức.
"Khi trước cá nhiều lắm, chỉ cần thả lưới chưa tới 2 tiếng là đủ cá mang ra chợ bán", bà Lượm kể. Cá ngạnh, cá úc, cá đối… từng là những loài quen thuộc, mang lại nguồn thu nhập ổn định cho người dân. Nay nguồn lợi thủy sản giảm dần nhưng ông bà vẫn gắn bó với nghề, bởi đó là kế sinh nhai duy nhất.
Mỗi ngày từ 5 giờ, ông bà đã ra sông, đến khoảng 8 giờ thì quay về mang cá ra chợ. Những mẻ cá hôm nay không còn dày như trước nhưng vẫn đủ để duy trì cuộc sống. "Cá hanh, cá dối, cá móm, cá hồng… còn gì bán nấy, miễn có đồng ra đồng vào", bà Lượm nói.
Không chỉ có nghề đánh bắt, những bãi bồi giữa dòng sông Trà còn mở ra hướng sinh kế khác cho người dân. Ông Nguyễn Bé (59 tuổi, ở xã Tịnh Khê) là một trong những người gắn bó lâu năm với nghề nuôi vịt và trồng trọt trên bãi bồi.
Hiện ông nuôi hơn 2.500 con vịt cỏ lấy trứng, đồng thời canh tác hơn 1 ha bí đỏ. Mỗi sáng, ông chèo ghe ra trại vịt thu trứng, cho vịt ăn xong quay về nhà; đến chiều lại tiếp tục chèo ghe từ đất liền ra bãi bồi chăm sóc đàn vịt và cây trồng.
Theo ông Bé, điều kiện tự nhiên ở bãi bồi rất thuận lợi: nguồn thức ăn dồi dào, không gian yên tĩnh, giúp đàn vịt phát triển tốt và đẻ trứng đều. "Trứng vịt bán cho thương lái khoảng 40.000 đồng/chục, cũng đủ trang trải cuộc sống", ông Bé chia sẻ.
Sinh ra trong gia đình có truyền thống chăn nuôi, ông Bé theo cha ra đồng từ nhỏ. Học hết lớp 9, ông nghỉ học, gắn bó với nghề nuôi vịt suốt hơn 40 năm qua. Những kinh nghiệm tích lũy từ thực tế giúp ông duy trì đàn vịt ổn định, dù phải đối mặt với nhiều biến động thời tiết, dịch bệnh.
"Mùa mưa lũ, tôi phải đưa vịt lên đồng cao để tránh nước dâng. Còn cây trồng thì chỉ làm từ tháng 1 - 9, tới mùa lũ thì để đất trống", ông Bé nói.
Cách đó không xa, ông Nguyễn Thanh (66 tuổi, cũng ở xã Tịnh Khê) đang tận dụng gần 3 ha đất bãi bồi để phát triển mô hình nông nghiệp tổng hợp. Trên mảnh đất giữa sông, gia đình ông trồng bí đỏ, cà tím, hành, đậu đen, chuối, cỏ voi và nuôi bò, trong đó bí đỏ là cây trồng chủ lực.
Cuối tháng 11.2025, ông Thanh bắt đầu xuống giống vụ bí mới. Đến nay, cây đã cho trái, hứa hẹn một mùa thu hoạch thuận lợi. Mỗi ngày, hai vợ chồng ông Thanh và bà Huỳnh Thị Mến (63 tuổi) chèo ghe ra bãi bồi từ sáng sớm, chăm sóc cây trồng, chăn nuôi, đến chiều tối lại quay về đất liền.
Gắn bó với bãi bồi gần 30 năm, ông Thanh hiểu rõ từng đặc tính của đất và con nước. "Đất phù sa nên cây trồng phát triển tốt, năng suất cao. Mỗi năm gia đình thu khoảng 5 tấn bí, thu nhập ổn định", ông Thanh cho biết.
Không chỉ mang lại kinh tế, bãi bồi còn giúp gia đình ông xây dựng cuộc sống ổn định, nuôi con ăn học đến nơi đến chốn. "Nhờ đất này mà con cái có điều kiện học hành, giờ đều có việc làm", ông Thanh nói với niềm tự hào.
Trước đây ông Thanh từng nuôi vịt trên bãi bồi. Hai vợ chồng ông từng có thời gian dài sống hẳn ngoài bãi để trông coi đàn vịt và chăn bò. Cuộc sống tuy vất vả nhưng thanh bình. Sau này, do dịch bệnh khiến đàn vịt thiệt hại, gia đình ông chuyển sang tập trung làm nông nghiệp và chăn nuôi bò.
Dòng sông Trà, đoạn cuối trước khi đổ ra biển, không chỉ mang phù sa mà còn mang theo hy vọng của người dân. Từ nghề đánh bắt cá, nuôi vịt đến trồng trọt trên bãi bồi, tất cả đều dựa vào sự ưu đãi của thiên nhiên.
Những bãi bồi giữa sông giống như "cánh đồng vàng" nổi giữa dòng nước, mỗi năm lại được bồi đắp thêm lớp phù sa mới. Nhờ đó, cây trồng phát triển xanh tốt, cho năng suất cao mà không cần quá nhiều phân bón.
Tuy nhiên, cuộc sống nơi đây cũng đối mặt không ít thách thức. Nguồn lợi thủy sản suy giảm, thời tiết thất thường, dịch bệnh trong chăn nuôi… tất cả đều ảnh hưởng trực tiếp đến sinh kế của người dân. Dù vậy, họ vẫn kiên trì bám sông, bám đất.
Với những người như ông Thống, bà Lượm, ông Bé hay ông Thanh, bà Mến, dòng sông Trà không chỉ là nơi mưu sinh mà còn là một phần cuộc đời. Ở nơi cuối dòng sông ấy, cuộc sống vẫn tiếp diễn, lặng lẽ mà kiên cường, như chính dòng sông Trà bao đời nay vẫn âm thầm chảy, mang theo phù sa và nuôi dưỡng những ước mơ giản dị của bao người.
Tin Gốc: Thanh Niên

