Sáng 18.4, UBND xã Thạnh Bình (thành phố Đà Nẵng) cho biết lực lượng chức năng của địa phương vừa phối hợp với Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, môi trường Công an thành phố Đà Nẵng phát hiện và xử lý nhóm người khai thác vàng trái phép trên địa bàn.
Trước đó, vào chiều 16.4, Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về tham nhũng, kinh tế, buôn lậu, môi trường chủ trì, phối hợp với lực lượng chức năng đã tổ chức kiểm tra khu vực đồi keo do T.V.L (32 tuổi, trú thôn 5, xã Thạnh Bình) quản lý.
Tại đây, cơ quan chức năng phát hiện 2 hầm vàng đã được khai thác từ trước, có dấu hiệu vừa bị tác động trở lại.
Ngay tại cửa hầm, lực lượng chức năng ghi nhận 14 bao quặng với tổng khối lượng hơn 262 kg. Xung quanh khu vực là hàng loạt thiết bị phục vụ khai thác vàng gồm 3 máy phát điện, 3 máy nổ, 2 máy bơm hơi được chôn giấu dưới các hố sâu nhằm tránh bị phát hiện. Tuy nhiên, chưa phát hiện khu vực tuyển quặng hoặc hệ thống chế biến.
Ngoài ra, hiện trường còn có một lán trại chứa 2 máy cưa lốc cùng nhiều vật dụng sinh hoạt. Một số lán trại và đồ dùng khác bị đập phá, đốt bỏ rải rác, cho thấy dấu hiệu phi tang hoặc rút lui vội vàng.
Đáng chú ý, cách khu vực khai thác khoảng 1 km về phía chân đồi, lực lượng chức năng phát hiện 1 xe máy đào bánh xích màu cam không có người trông coi.
Tổ công tác đã lập biên bản hiện trường, đồng thời tiếp tục xác minh để làm rõ các đối tượng liên quan. Qua điều tra ban đầu, cơ quan chức năng nhận định H.V.T (49 tuổi, trú xã Thạnh Bình) là người đứng ra thuê T.V.K, N.V.K cùng một số người khác tổ chức khai thác vàng trái phép.
Nhóm này được cho là bắt đầu hoạt động từ ngày 12 đến 14.4, chủ yếu khai thác vào ban đêm, từ 22 giờ hôm trước đến 4 giờ sáng hôm sau nhằm qua mắt lực lượng chức năng.
Vụ việc đang được Công an thành phố Đà Nẵng tiếp tục điều tra, củng cố hồ sơ để xử lý nghiêm.
Tin Gốc: Thanh Niên

Bộ Tài chính vừa đề xuất loại bỏ sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu ô tô khỏi danh mục kinh doanh có điều kiện (từ ngày 1.7.2026). Đề xuất này tuy có vẻ mang lại sự thông thoáng, giảm chi phí nhưng sẽ đe dọa sự phát triển của công nghiệp ô tô, hệ sinh thái ô tô, quyền lợi người tiêu dùng và các hệ lụy cho phát triển của đất nước ở kỷ nguyên vươn mình.
Trải qua 30 năm phát triển, Việt Nam là một trong số ít các quốc gia (18 nước) có khả năng tự sản xuất được thương hiệu ô tô nội địa bài bản, sản lượng năm 2025 khoảng 484.500 xe, tăng trưởng 39,1% so với 2024. Theo Tổ chức các nhà sản xuất ô tô quốc tế (OICA), Việt Nam ở vị trí 32 - 34 sản lượng ô tô toàn cầu.
Tổng doanh thu toàn ngành công nghiệp ô tô hơn 1,7 triệu tỉ đồng, đóng góp khoảng 3% tổng sản phẩm nội địa (GDP), nếu tính cả các hệ sinh thái ô tô như sản xuất lắp ráp, công nghiệp hỗ trợ, dịch vụ kỹ thuật và thương mại thì mức đóng góp khoảng 5 - 7%.
Hiện ngành ô tô Việt Nam có khoảng 1 triệu lao động, là nhóm có năng suất lao động cao nhất trong các ngành chế biến, chế tạo, gấp khoảng 3 - 5 lần so với các ngành lao động thấp khác.
Dư địa để phát triển ngành công nghiệp ô tô rất lớn khi tỷ lệ sở hữu xe hiện tại mới đạt khoảng 63 xe/1.000 dân, thấp hơn nhiều so với các nước trong khu vực như Thái Lan 280 xe/1.000 dân, Malaysia 170 xe/1.000 dân. Giai đoạn 2025 - 2030 được xác định là thời kỳ "bùng nổ ô tô hóa" (motorization) khi GDP bình quân đầu người vượt ngưỡng 5.000 USD hướng tới 7.500 USD vào năm 2030, là cơ hội "vàng" để ngành ô tô Việt Nam bứt phá.
Theo dự báo, tốc độ tăng trưởng ngành ô tô bình quân 14 - 16%/năm, đây là mức tăng trưởng rất cao, góp phần tăng trưởng GDP cả nước kỳ vọng 2 con số. Quy mô tiêu thụ dự kiến đạt 1 - 1,1 triệu xe năm 2030 với đóng góp GDP và vai trò ngành công nghiệp lên mức 7% - 9% GDP hoặc cao hơn, đáp ứng khoảng 70% nhu cầu nội địa. Công nghiệp hỗ trợ với mức nội địa hóa 55 - 60%, tạo tiền đề để xuất khẩu linh kiện và phụ tùng đạt giá trị 14 tỉ USD.
Với tiềm năng lớn, ngành ô tô Việt Nam cần một cuộc cách mạng về chính sách và đầu tư nghiên cứu và phát triển (R&D) để có thể tiến vào tốp 10 quốc gia sản xuất ô tô thế giới và làm chủ công nghệ lõi (ICE, PIN, EVCU).
Đầu tiên, Việt Nam cần thay đổi chính sách để tạo điều kiện phát triển, chuyển từ "lắp ráp" sang "nghiên cứu R&D và sản xuất" như duy trì "lá chắn" kỹ thuật giữ ô tô trong danh mục kinh doanh có điều kiện nhưng chuyển sang hậu kiểm minh bạch. Đồng thời, sử dụng rào cản kỹ thuật như khí thải Euro 6, 7, tiêu chuẩn an toàn để ngăn chặn xe công nghệ cũ, giá rẻ tràn vào.
Bên cạnh đó, nhà nước cũng cần ưu đãi đặc thù cho công nghệ lõi. Với xe ô tô truyền thống, nhà nước có thể hỗ trợ trực tiếp cho các dự án sản xuất động cơ, như mô hình Kim Long Motor hợp tác sản xuất, xuất khẩu động cơ. Còn với xe điện, ưu đãi đặc thù có thể tập trung vào sản xuất pin và hệ điều hành EVCU.
Chính sách thuế quan cũng nên áp dụng linh hoạt, trong đó mức thuế nhập khẩu 0% cho linh kiện phục vụ sản xuất trong nước chưa làm được, đồng thời bảo hộ có thời hạn cho linh kiện đã nội địa hóa đạt chuẩn.
Để đạt tốp 10, Việt Nam phải nâng tỷ lệ đầu tư cho R&D lên mức đột phá, từ 0,43% GDP tăng lên mức 2 - 4% doanh thu, tương đương các nước phát triển, thông qua các quỹ hỗ trợ đổi mới công nghệ của nhà nước.
Ngoài ra, nhà nước cũng cần hỗ trợ làm chủ công nghệ thông qua việc giúp doanh nghiệp giảm chi phí thử nghiệm sản phẩm mới và làm chủ các tiêu chuẩn quốc tế, đào tạo nhân lực chuyên sâu về động cơ ô tô, pin EVCU-AI…
Ô tô là "ngành công nghiệp nền tảng", đóng vai trò là ngành trung tâm, dẫn dắt nhiều ngành khác phát triển, kéo theo chuỗi cung ứng của các ngành công nghiệp và chuỗi dịch vụ kỹ thuật - thương mại. Nếu mất đi, Việt Nam sẽ chỉ là thị trường tiêu thụ, phụ thuộc hoàn toàn vào công nghệ và sản phẩm từ bên ngoài, đánh mất cơ hội làm chủ các ngành công nghiệp chế biến, chế tạo cốt lõi.
Thực tế cho thấy các quốc gia có ngành ô tô mạnh đều trải qua và duy trì bảo hộ. Đơn cử như Hàn Quốc từng cấm nhập khẩu xe nguyên chiếc trong nhiều thập niên để Hyundai, Kia có thời gian lớn mạnh và chiếm lĩnh thị trường. Thái Lan duy trì các điều kiện cực kỳ khắt khe về tỷ lệ nội địa hóa và tiêu chuẩn kỹ thuật...
Trung Quốc sử dụng chính sách "đổi thị trường lấy công nghệ", buộc các hãng xe ngoại phải liên doanh với doanh nghiệp nội và đáp ứng các tiêu chuẩn sản xuất nghiêm ngặt để được hoạt động.
Chưa kể, khi không còn hàng rào kỹ thuật, rủi ro "thương mại ngắn hạn" sẽ phát sinh với sự xuất hiện hàng loạt doanh nghiệp nhỏ chỉ làm thương mại, người tiêu dùng bị bỏ rơi. Ô tô là tài sản lớn và cần bảo trì định kỳ 10 - 15 năm, doanh nghiệp thương mại thuần túy thường không đầu tư kho phụ tùng hay trạm dịch vụ chuyên nghiệp, gây khó khăn cho người mua do thiếu linh kiện thay thế chính hãng.
Đối với doanh nghiệp, chính sách này có thể phá vỡ quy hoạch và "phi công nghiệp hóa", gây tác dụng ngược cho công nghiệp hiện đại. Các tập đoàn lớn sẽ cân nhắc việc đóng cửa nhà máy tại Việt Nam để chuyển sang nhập khẩu từ các trung tâm sản xuất lớn trong khu vực. Hậu quả, Việt Nam sẽ mất đi cơ hội tiếp nhận chuyển giao công nghệ và đào tạo nhân lực kỹ thuật cao.
Đối với kinh tế vĩ mô, thay vì giá trị gia tăng được giữ lại trong nước thông qua sản xuất, dòng tiền sẽ chảy ra nước ngoài để chi trả cho xe nguyên chiếc nhập khẩu. Nếu sản xuất đình trệ, làn sóng thất nghiệp ở nhóm lao động kỹ năng là điều khó tránh khỏi.
Chưa kể, việc nhập khẩu ồ ạt các dòng xe giá rẻ, công nghệ cũ (để tối ưu giá) sẽ gây áp lực cực lớn lên hạ tầng giao thông vốn đã quá tải và làm trầm trọng thêm vấn đề ô nhiễm môi trường.
Đặc biệt, Việt Nam có thể sẽ đánh mất cơ hội trong "kỷ nguyên xe điện" khi sản xuất, lắp ráp, nhập khẩu ô tô không còn trong danh mục kinh doanh có điều kiện. Việt Nam đang có cơ hội hiếm hoi để "đi tắt đón đầu" thông qua xe điện.
Nếu "thả cửa", các dòng xe điện giá siêu rẻ, không có hạ tầng trạm sạc tiêu chuẩn, không có cam kết tái chế pin từ các đơn vị nhập khẩu thương mại sẽ tràn vào, không chỉ phá vỡ quy hoạch ngành xe điện nội địa mà còn để lại gánh nặng về môi trường.
Thay vì xóa bỏ, nhà nước nên "nâng cấp" các điều kiện kinh doanh bằng số hóa thủ tục, chuyển toàn bộ việc đăng ký, kiểm định, báo cáo sang môi trường số, giúp loại bỏ cơ chế "xin - cho", giảm chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp. Tiêu chuẩn hóa thay vì định tính các điều kiện kinh doanh bằng các bộ tiêu chuẩn kỹ thuật rõ ràng thay vì những quy định chung chung dễ gây hiểu lầm.
Chuyển từ "tiền kiểm" sang "hậu kiểm có kiểm soát" là mấu chốt của cải cách hiện đại. Tiền kiểm thường bắt doanh nghiệp phải chứng minh đủ điều kiện mới được phép kinh doanh. Điều này thường tạo ra rào cản gia nhập thị trường và gây chậm trễ.
Trong khi đó, hậu kiểm có kiểm soát cho phép kinh doanh dựa trên cam kết, doanh nghiệp được phép hoạt động ngay sau khi đăng ký và cam kết đáp ứng đầy đủ các tiêu chuẩn về bảo hành, bảo dưỡng, an toàn. Cách làm này vừa tạo sự thông thoáng cho các doanh nghiệp làm ăn chân chính, vừa loại bỏ được các doanh nghiệp "thương mại chụp giật" không đủ năng lực hậu mãi bài bản.
Tin Gốc: Thanh Niên

Rừng Cấm, còn gọi rú Cấm rộng hơn 4 ha, nằm trên đồi cao khoảng 70 m, ở làng Thọ Linh. Rừng được bảo vệ bằng hương ước truyền đời và trở thành lá phổi của vùng đất bán sơn địa, giữa miền gió Lào khắc nghiệt.
Từ trên cao nhìn xuống, rừng Cấm cách làng Thọ Linh bởi con sông rộng hơn 100 m, là mảng xanh giáp với rừng trồng gỗ keo. Trong rừng có hàng trăm cây gỗ quý như lim, sến, dỗi, gõ, giẻ... Nhiều cây đường kính gốc hơn một mét, tầng tán xếp chồng nhau. Do gần khu dân cư, động vật không nhiều, chủ yếu là chim, sóc và ong.
Theo gia phả của 5 dòng họ chính và bia đá trước đình làng, Thọ Linh được hình thành từ cuối thời Trần, đầu thời Lê, khoảng thế kỷ XV. Thời điểm đó, vùng đất này thường xuyên bị quân Chiêm Thành quấy nhiễu. Triều đình cử một vị tướng đến vùng đất Ô Châu, nay thuộc Quảng Trị dẹp loạn, đồng thời chiêu dân khai khẩn, lập làng. Cánh rừng Cấm hình thành từ những ngày đầu ấy.
Trong 8 năm chiến tranh phá hoại miền Bắc của Mỹ, khu rừng từng che chở cho bộ đội, điểm ẩn náu của lực lượng Hải quân khi tàu từ sông Gianh ngược dòng tiến vào. Tàu trú ẩn hai bên sông được cây rừng che chắn. Ven rừng là trận địa pháo, tạo thành thế phòng thủ vững chắc.
Ông Phan Xuân Hải, trưởng làng Thọ Linh, cho biết để bảo vệ rừng Cấm, người xưa đã có hương ước miệng quy định mọi cư dân, từ già đến trẻ, đều có trách nhiệm giữ rừng. Người lớn phải dạy con cháu không chặt phá cây, không xâm hại hệ sinh thái. Những ai vi phạm sẽ bị xử phạt nghiêm khắc.
"Rừng là tài sản của làng, là di sản của tổ tiên để lại. Mất rừng là có tội với tiền nhân", ông Hải nói. Quan niệm này đã ăn sâu vào nhận thức của người dân, trở thành quy ước bất thành văn nhưng có sức ràng buộc mạnh mẽ.
Sau ngày đất nước thống nhất, rừng xung quanh được người dân khai hoang, trồng trọt để phát triển kinh tế. Tuy nhiên, rừng Cấm vẫn được giữ nguyên. Thời kỳ hợp tác xã, làng chỉ cho phép khai thác một số cây phục vụ công trình chung, còn lại tuyệt đối không đụng đến.
"Người dân ý thức rõ đây là rừng cấm. Dù cuộc sống còn khó khăn, không ai nghĩ đến chuyện phá rừng để lấy gỗ", ông Trần Đình Trường, trưởng thôn Linh Cận Sơn, làng Thọ Linh, cho hay.
Hiện nay, để tăng cường bảo vệ và cải thiện cảnh quan, dân làng còn trồng thêm các hàng xà cừ ven rừng. Những hàng cây này vừa tạo ranh giới tự nhiên, vừa góp phần giữ đất, chống xói mòn. Sắp tới làng mua cây lim trồng quanh rừng.
"Rừng Cấm là niềm tự hào của làng Thọ Linh. Nếu không có quy ước gìn giữ thì sẽ bị phá lấy đất sản xuất", trưởng làng Phan Xuân Hải nói, cho hay nhiều cây gỗ gõ thuộc nhóm 1, giá hàng chục triệu đồng một mét khối. Nhưng với người dân "đừng nói tiền triệu mà trăm tỷ đồng cũng không ai dám đụng đến cây".
Đắc Thành
Tin Gốc: https://vnexpress.net/canh-rung-go-quy-duoc-gin-giu-suot-6-the-ky-5058540.html
Thời Sự
'Sẽ không để ý kiến, kiến nghị chính đáng của nhân dân rơi vào im lặng'

Sáng 13.5, trả lời tại họp báo thông tin kết quả Đại hội đại biểu toàn quốc MTTQ Việt Nam lần XI, nhiệm kỳ 2026 - 2031, Phó chủ tịch - Tổng thư ký Ủy ban Trung ương MTTQ Việt Nam Hà Thị Nga thông tin thêm về công tác giám sát và phản biện xã hội.
Bà Hà Thị Nga cho biết, Mặt trận được hiến định chức năng, nhiệm vụ để giám sát phản biện xã hội. "Nếu như phát huy một cách mạnh mẽ tốt nhất sự tham gia của người dân thì người dân chính là những người tham gia hỗ trợ để hoạt động giám sát và phản biện của MTTQ Việt Nam hiệu quả nhất", bà nhấn mạnh.
Cạnh đó, Mặt trận sẽ thông qua các kênh tiếp nhận, như kênh Mặt trận số 24/7 để tiếp nhận ý kiến của người dân.
"Một trong những điểm hạn chế của nhiệm kỳ vừa rồi chúng tôi đã nêu trong Báo cáo chính trị chính là việc chưa theo đuổi đến cùng, chưa quyết liệt đối với những nội dung mà MTTQ kiến nghị sau thực hiện giám sát và phản biện xã hội. Trong thời gian tới, chúng tôi sẽ thực hiện một cách hiệu quả hơn nữa, đảm bảo tính thực chất, không để những ý kiến kiến nghị chính đáng của cử tri rơi vào im lặng", bà Nga nhấn mạnh.
Hiện nay, theo bà Nga, các quy định của Đảng đã có quy định sau những kiến nghị của MTTQ Việt Nam, sau hoạt động giám sát, phản biện xã hội, các tổ chức Đảng và cơ quan liên quan phải thực hiện những ý kiến, kiến nghị của MTTQ, phải có trách nhiệm báo cáo về kết quả thực hiện những nội dung kiến nghị của Mặt trận.
Thực hiện đến đâu cũng cần có thông tin phản hồi lại với người dân. Chỉ khi những đề xuất, kiến nghị của người dân được thực hiện, có câu trả lời một cách thỏa đáng nhất mới đem lại sự hài lòng. Đó cũng là cách để MTTQ Việt Nam tiếp tục khẳng định vai trò, niềm tin của mình đối với xã hội.
Tại họp báo, bà Hà Thị Nga cũng thông tin về việc triển khai kế hoạch Tháng nghe dân nói. Đây sẽ là đối thoại rộng rãi ở các tầng lớp, thành phần khác nhau, không chỉ có tính đại diện như trước đây.
Trong thời gian tới, Mặt trận sẽ triển khai rất cụ thể để lắng nghe được ý kiến của người dân, đảm bảo tính khách quan, toàn diện, đầy đủ trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là những nội dung cử tri và người dân đang rất quan tâm.
Tin Gốc: Thanh Niên

