Trong công văn gửi các bộ ngành, UBND tỉnh thành tối 10/4, Bộ Nội vụ cho biết gần đây có thông tin công chức, viên chức, lao động có thể được nghỉ liên tục nhiều ngày dịp giỗ Tổ Hùng Vương và 30/4-1/5 thông qua hoán đổi ngày làm việc với nghỉ hàng tuần.
Bộ Nội vụ khẳng định lịch nghỉ được thực hiện theo quy định của Bộ Luật lao động. Theo đó, giỗ Tổ Hùng Vương nghỉ một ngày và dịp 30/4-1/5 nghỉ hai ngày. Giữa các kỳ nghỉ lễ là hai ngày làm việc 28-29/4, công chức, viên chức làm việc bình thường.
Đây là lần thứ hai Bộ Nội vụ lên tiếng về việc không có chủ trương hoán đổi ngày nghỉ lễ mà thực hiện theo thông báo từ cuối năm 2025.
Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam chiều qua công bố khảo sát trực tuyến về phương án hoán đổi ngày nghỉ lễ với hơn 70.000 lao động. Khoảng 35% người tham gia lựa chọn chuyển ngày nghỉ bù từ 27/4 sang 29/4 để được nghỉ 5 ngày liên tục. Khoảng 28% chọn hoán đổi sang 2/5 để làm việc 6 ngày trong tuần và nghỉ 4 ngày liền; 28% không muốn hoán đổi và giữ nguyên nghỉ ngày 27/4; khoảng 9% có ý kiến khác.
Khảo sát nhằm đo lường mong muốn của lao động về việc hoán đổi nghỉ lễ. Theo luật định, nếu ngày nghỉ hàng tuần trùng với ngày lễ, Tết thì người lao động được nghỉ bù vào ngày làm việc kế tiếp. Công đoàn Việt Nam không đề xuất chính thức về hoán đổi, song kiến nghị cần cách tiếp cận linh hoạt hơn để hài hòa giữa quy định pháp luật và nhu cầu thực tế của người lao động.
Năm nay, giỗ Tổ Hùng Vương (10/3 âm lịch) rơi vào chủ nhật 26/4 nên người lao động được nghỉ bù thứ hai 27/4. Người có chế độ nghỉ hai ngày cuối tuần sẽ được nghỉ 3 ngày liên tục từ 25 đến 27/4, còn người nghỉ chủ nhật sẽ nghỉ 2 ngày 26-27/4.
Với kỳ nghỉ 30/4-1/5, người nghỉ 2 ngày cuối tuần sẽ được nghỉ 4 ngày liên tục từ 30/4 đến hết 3/5, trong khi người nghỉ chủ nhật chỉ nghỉ 2 ngày 30/4 và 1/5.
Theo quy định, người lao động làm việc vào ngày nghỉ hàng tuần được trả ít nhất 200% lương; nếu làm vào ngày nghỉ trùng dịp lễ, mức lương tối thiểu là 300%.
Hồng Chiêu
Tin Gốc: https://vnexpress.net/khong-hoan-doi-de-nghi-le-9-ngay-5061093.html

Ngày 7.5, ông Ngô Chí Cường, Bí thư Tỉnh ủy Đồng Tháp, cùng lãnh đạo UBND tỉnh và các sở, ngành đã khảo sát thực tế dự án ngọt hóa Gò Công nhằm tìm giải pháp bảo đảm nguồn nước ngọt lâu dài và ngăn xâm nhập mặn cho khu vực phía đông của tỉnh.
Theo báo cáo của Ban Thường vụ Đảng ủy UBND tỉnh Đồng Tháp, vùng ngọt hóa Gò Công rộng khoảng 54.400 héc ta, dân số gần 500.000 người, được bao bọc bởi sông Cửa Tiểu, sông Vàm Cỏ và kênh Chợ Gạo. Sau hơn nửa thế kỷ đầu tư, nơi đây đã hình thành hệ thống thủy lợi khép kín gồm đê biển, đê sông, cống điều tiết và các tuyến kênh dẫn phục vụ sản xuất cho khoảng 44.000 ha đất nông nghiệp.
Tuy nhiên, nguồn nước ngọt của khu vực hiện phụ thuộc lớn vào cống Xuân Hòa. Khi xâm nhập mặn lấn sâu từ 60 - 70 km vào nội đồng. Toàn vùng có nguy cơ bị nước mặn bao vây trong thời gian dài, đe dọa nghiêm trọng đến sinh hoạt và sản xuất.
Thực tế cho thấy, thiệt hại do hạn mặn ngày càng gia tăng. Mùa khô 2015 - 2016, có gần 18.000 hộ dân thiếu nước sinh hoạt, hơn 3.700 héc ta lúa và hàng trăm héc ta rau màu bị ảnh hưởng. Đến mùa khô 2019 - 2020, thiệt hại tăng mạnh với hơn 8.500 héc ta lúa, gần 4.500 héc ta cây ăn trái bị tác động và khoảng 92.000 hộ dân gặp khó khăn về nước ngọt. Ngay cả mùa khô 2023 - 2024, hơn 17.650 hộ dân vẫn thiếu nước sinh hoạt dù tình hình hạn mặn chỉ ở mức trung bình nhiều năm.
Trong khi đó, nhu cầu nước tại khu vực này đang tăng nhanh. Theo quy hoạch đến năm 2030, vùng phía đông tỉnh Đồng Tháp không chỉ phục vụ sản xuất nông nghiệp mà còn cung cấp nước cho 9 khu, cụm công nghiệp cùng các đô thị, dịch vụ và du lịch ven biển. Tổng nhu cầu nước dự kiến lên tới khoảng 300.000 m3/ngày đêm, nhưng hệ thống hiện nay mới chỉ đáp ứng được khoảng 100.000 m3, tương đương 1/3 nhu cầu thực tế.
Để giải bài toán thiếu nước, tỉnh Đồng Tháp đang nghiên cứu phương án dẫn nước ngọt từ thượng nguồn sông Tiền thông qua hệ thống Bảo Định và các tuyến kênh trục về vùng Gò Công.
Theo đề xuất, nước được đưa băng qua kênh Chợ Gạo bằng hệ thống xi phông đường kính từ 2,5 - 3 mét kết hợp trạm bơm tăng áp. Phương án tận dụng hệ thống kênh hiện hữu, nạo vét khoảng 40 km tuyến dẫn nước có tổng vốn dự kiến khoảng 2.600 tỉ đồng được đánh giá khả thi và bền vững hơn. Ngoài ra, tỉnh cũng tính đến phương án xây thêm tuyến kênh mới dọc tỉnh lộ 877C với tổng vốn khoảng 3.400 tỉ đồng.
Lãnh đạo tỉnh Đồng Tháp cho biết sẽ tiếp tục khảo sát, đánh giá tác động dự án; đồng thời kiến nghị đưa công trình vào kế hoạch đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026 - 2030 nhằm sớm triển khai, bảo đảm an ninh nguồn nước cho toàn vùng ngọt hóa Gò Công.
Tin Gốc: Thanh Niên
Thời Sự
Nâng tầm kết nối chiến lược Việt Nam và Trung Quốc trong giai đoạn phát triển mới

Tuổi Trẻ Online trân trọng giới thiệu với bạn đọc nội dung bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có nhan đề "Phát huy truyền thống hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc, nâng tầm kết nối chiến lược trong giai đoạn phát triển mới" đăng trên Nhân Dân nhật báo của Trung Quốc trước chuyến thăm cấp Nhà nước đến Trung Quốc.
Nhận lời mời của đồng chí Tập Cận Bình, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, tôi và Đoàn đại biểu cấp cao sẽ thăm cấp Nhà nước đến Trung Quốc từ ngày 14 đến 17-4-2026. Đây là hoạt động đối ngoại cấp Nhà nước đầu tiên của tôi ngay sau khi được Quốc hội khóa XVI bầu giữ chức Chủ tịch nước.
Tôi gửi gắm tình cảm chân thành, sự trân trọng và ưu tiên hàng đầu của Đảng, Nhà nước cũng như mong muốn của Nhân dân Việt Nam cùng Đảng, Nhà nước và Nhân dân Trung Quốc tiếp tục kế thừa, phát huy truyền thống hữu nghị, nâng tầm kết nối chiến lược và cùng nhau đề ra những tầm nhìn phát triển mới cho quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trong kỷ nguyên mới.
Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng "núi liền núi, sông liền sông", có nhiều nét tương đồng về văn hóa. Quan hệ giữa hai dân tộc được bồi đắp qua giao lưu lâu dài trong lịch sử và được thử thách, tôi luyện qua thời gian.
Trong quan hệ giữa các quốc gia láng giềng, điều có ý nghĩa bền vững nhất là biết nhìn nhận quan hệ từ tầm cao chiến lược với tầm nhìn lâu dài; biết trân trọng những giá trị đã được các thế hệ đi trước dày công vun đắp; biết đặt lợi ích căn bản, lâu dài của Nhân dân lên trên hết, trước hết. Đó cũng là cách Việt Nam nhìn nhận và phát triển quan hệ với Trung Quốc.
Trong suốt hơn 100 năm qua, cách mạng Việt Nam gắn bó sâu sắc với cách mạng Trung Quốc. Năm 1925, tại Quảng Châu, Trung Quốc, lãnh tụ kính yêu của Nhân dân Việt Nam Nguyễn Ái Quốc đã sáng lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (Hội), chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trụ sở của Hội tại đường Văn Minh, thành phố Quảng Châu, Trung Quốc và sự kiện ra đời của Báo Thanh Niên đã trở thành những địa danh và dấu mốc không thể tách rời khỏi lịch sử cách mạng Việt Nam.
Đầu năm 1941, từ Quảng Tây, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Pác Bó, Cao Bằng để trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, mở ra bước ngoặt có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp giành độc lập dân tộc của Nhân dân Việt Nam.
Tình hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc được các thế hệ lãnh đạo tiền bối hai nước dày công vun đắp, từ Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Mao Trạch Đông, Thủ tướng Chu Ân Lai đến nhiều thế hệ những người cộng sản và Nhân dân hai nước. Trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc, hai bên đã dành cho nhau sự ủng hộ, giúp đỡ quý báu.
Bước sang giai đoạn xây dựng đất nước, hai nước lại cùng kiên trì lựa chọn con đường phát triển phù hợp với điều kiện của mình, cùng tiến hành công cuộc đổi mới, cải cách, mở cửa và hội nhập quốc tế, qua đó đạt được nhiều thành tựu có ý nghĩa lịch sử.
Việt Nam luôn ghi nhớ và trân trọng sự hỗ trợ mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân Trung Quốc dành cho Việt Nam trong các giai đoạn khó khăn.
Năm 2026 đánh dấu 76 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Trong suốt chặng đường đó, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc vượt qua thử thách thăng trầm, song hữu nghị và hợp tác vẫn là dòng chảy chính.
Thực tiễn lịch sử cho thấy quan hệ tốt đẹp, bền vững giữa hai nước phù hợp với lợi ích thiết thực của Nhân dân Việt Nam - Trung Quốc và có lợi cho hòa bình, phát triển của khu vực.
Với nhận thức quan trọng đó, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc luôn được hai Đảng, hai nước quan tâm vun đắp. Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn xác định phát triển quan hệ với Trung Quốc là chủ trương nhất quán, yêu cầu khách quan, lựa chọn chiến lược và ưu tiên hàng đầu trong tổng thể đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, đa phương hóa, đa dạng hóa.
Đảng, Nhà nước Trung Quốc cũng xác định Việt Nam là phương hướng ưu tiên trong ngoại giao láng giềng và có vị trí quan trọng trong đường lối đối ngoại tổng thể của Trung Quốc.
Đó không chỉ là sự kế thừa của lịch sử, mà còn là lựa chọn xuất phát từ lợi ích căn bản, lâu dài của hai nước, phù hợp với nguyện vọng của Nhân dân hai nước và yêu cầu giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển trong giai đoạn mới.
Trên nền tảng quan hệ láng giềng hữu nghị, coi trọng lẫn nhau và hợp tác bình đẳng, những năm qua, lãnh đạo cao nhất hai bên đã kịp thời đưa ra những quyết sách đúng đắn, từ việc xác định phương châm "16 chữ", tinh thần "4 tốt", đến thiết lập khuôn khổ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện, xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam - Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược và thúc đẩy quan hệ theo định hướng "6 hơn".
Điều quan trọng không chỉ là những khái niệm mới, mà là ở chỗ hai bên đã cùng khẳng định cần nhìn nhận và phát triển quan hệ Việt Nam - Trung Quốc từ tầm cao chiến lược với tầm nhìn lâu dài, coi sự phát triển của Bạn là cơ hội phát triển của mình.
Với những nhận thức chung đó, trao đổi cấp cao giữa hai Đảng, hai nước được duy trì thường xuyên hơn; các cơ chế hợp tác trên tất cả kênh Đảng, Chính phủ, Quốc hội/Nhân đại, Mặt trận Tổ quốc/Chính hiệp được triển khai đồng bộ hơn.
Tháng 3 vừa qua, hai nước đã tổ chức thành công rất tốt đẹp Đối thoại chiến lược "3+3" cấp Bộ trưởng Ngoại giao, Quốc phòng, Công an lần thứ nhất, là bước phát triển mới trong hợp tác kết nối chiến lược giữa hai nước, cho thấy quan hệ song phương đang đi vào chiều sâu hơn, thực chất hơn.
Bất chấp tình hình quốc tế diễn biến rất phức tạp, hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư song phương không ngừng phát triển. Kim ngạch thương mại hai chiều năm 2025 tăng trưởng ấn tượng với hai con số; Việt Nam duy trì vị thế đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc trong các nước ASEAN và lớn thứ tư của Trung Quốc trên phạm vi toàn cầu; Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất và là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam.
Hợp tác kết nối chuỗi cung ứng, logistics, hạ tầng, khoa học, công nghệ, kinh tế số, kinh tế xanh đều tiến triển nhanh. Hai nước quyết tâm đẩy mạnh hợp tác kết nối đường sắt, ba dự án đường sắt khổ tiêu chuẩn khu vực phía Bắc Việt Nam được cả hai bên chủ động thúc đẩy, đạt đột phá tích cực.
Giao lưu Nhân dân tiếp tục phát triển sâu sắc hơn, tạo nền tảng xã hội ngày càng vững chắc hơn cho quan hệ song phương. Năm Giao lưu nhân văn Việt Nam - Trung Quốc 2025 được triển khai bằng nhiều hoạt động phong phú; các chương trình giao lưu thanh niên, học giả, địa phương và văn hóa được đẩy mạnh.
Chương trình "Hành trình đỏ nghiên cứu, học tập của thanh niên Việt Nam ở Trung Quốc" do đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình và tôi cùng khởi động từ tháng 4-2025 đã được triển khai tích cực, thu hút đông đảo thanh niên tham gia. Thông qua đó giúp thế hệ trẻ hai nước hiểu nhau rõ hơn, nhận thức sâu sắc hơn về truyền thống hữu nghị, ý thức sâu sắc hơn về sứ mệnh trở thành lực lượng có chí hướng tiếp bước thế hệ cha anh, tiếp tục vun đắp cho quan hệ Việt Nam - Trung Quốc.
Để quan hệ Việt Nam - Trung Quốc đạt được những thành quả toàn diện, thực chất như ngày hôm nay, yếu tố quan trọng hàng đầu là sự chân thành, tin cậy, hiểu biết lẫn nhau giữa lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước; sự chung tay, vào cuộc quyết liệt, sự ủng hộ mạnh mẽ, nỗ lực bền bỉ của các ban, bộ, ngành, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và người dân hai nước.
Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam hết sức trân trọng tình cảm hữu nghị, tâm huyết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình đối với từng bước phát triển của quan hệ Việt - Trung trong những năm qua.
Thế giới đang trải qua những biến chuyển mang tính thời đại rất sâu sắc, tạo ra cả cơ hội và thách thức lớn.
Việt Nam bước vào giai đoạn triển khai Nghị quyết Đại hội XIV với hai mục tiêu chiến lược 100 năm. Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị Việt Nam cũng xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính cho phát triển nhanh và bền vững.
Về phía Trung Quốc, năm 2026 mở đầu cho thời kỳ thực hiện Quy hoạch 5 năm lần thứ 15 với trọng tâm phát triển chất lượng cao, tự cường khoa học - công nghệ, chuyển đổi xanh và mở cửa ở trình độ cao hơn.
Chính từ yêu cầu mới của thời đại và từ những nhiệm vụ phát triển mới của mỗi nước, theo tôi, hai bên cần cùng tập trung làm tốt bốn việc lớn.
Trước hết, cần tiếp tục củng cố nền tảng chính trị của quan hệ Việt Nam - Trung Quốc ngày càng vững chắc hơn. Định hướng chiến lược của lãnh đạo cao nhất hai Đảng, hai nước có vai trò quyết định đối với sự phát triển ổn định, lành mạnh của quan hệ song phương.
Vì vậy, cần tiếp tục duy trì thường xuyên trao đổi cấp cao, tăng cường chia sẻ chiến lược, phát huy tốt vai trò của các cơ chế hiện có, đồng thời triển khai hiệu quả hơn hợp tác trên tất cả các kênh Đảng, Chính phủ, Quốc hội/Nhân đại, Mặt trận Tổ quốc/Chính hiệp, cũng như giữa các ngành, các cấp.
Quan hệ càng có tin cậy chiến lược sâu thì càng có điều kiện để mở rộng hợp tác thực chất và xử lý tốt hơn những vấn đề đặt ra trong thực tiễn.
Thứ hai, cần tạo bước chuyển mạnh hơn trong hợp tác thực chất, lấy kết quả cụ thể làm thước đo. Trong giai đoạn tới, hợp tác giữa hai nước cần chuyển mạnh từ "tăng quy mô" sang "nâng chất lượng"; từ mở rộng giao thương sang kết nối sâu hơn giữa các chiến lược phát triển, các hành lang kinh tế, các chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng và hạ tầng chiến lược.
Việt Nam mong muốn cùng Trung Quốc đẩy nhanh triển khai các dự án kết nối đường sắt, đường bộ cao tốc, hạ tầng thương mại biên giới (logistics, cửa khẩu thông minh...); thúc đẩy thương mại phát triển cân bằng, lành mạnh và bền vững hơn; tạo điều kiện để đầu tư từ Trung Quốc vào Việt Nam ngày càng tập trung hơn vào những lĩnh vực Việt Nam ưu tiên và Trung Quốc có thế mạnh.
Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cần trở thành điểm nhấn mới của quan hệ Việt Nam - Trung Quốc. Việt Nam đang đặt lĩnh vực này vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển đất nước; Trung Quốc cũng đang thúc đẩy mạnh mẽ phát triển chất lượng cao, tự cường khoa học - công nghệ và các lực lượng sản xuất mới. Đẩy mạnh hợp tác trong lĩnh vực này vừa có ý nghĩa phát triển kinh tế, vừa có ý nghĩa chiến lược đối với năng lực tự chủ của mỗi quốc gia.
Thứ ba, cần làm sâu sắc hơn nữa nền tảng xã hội của quan hệ hai nước. Quan hệ giữa hai quốc gia chỉ thực sự bền vững khi được nuôi dưỡng, bồi đắp trong lòng Nhân dân, nhất là trong thế hệ trẻ. Vì vậy, cần tiếp tục phát huy kết quả của Năm Giao lưu nhân văn Việt Nam - Trung Quốc 2025; tạo bước đột phá thực sự trong phát triển, hợp tác du lịch 2026 - 2027, mở rộng hơn giao lưu thanh niên, giáo dục, du lịch, văn hóa, báo chí, địa phương; khai thác hiệu quả hơn những "địa chỉ đỏ" của lịch sử cách mạng hai nước để giáo dục truyền thống và tăng cường hiểu biết lẫn nhau.
Tôi mong rằng ngày càng có nhiều sinh viên, nhà khoa học trẻ, doanh nhân trẻ hai nước đến với nhau trong các chương trình học tập, nghiên cứu, khởi nghiệp và trao đổi thực tiễn, bởi chính họ sẽ viết tiếp chương mới của quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trong thế kỷ XXI.
Thứ tư, cùng với mở rộng hợp tác, hai bên cần tiếp tục giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định, kiểm soát tốt bất đồng và xử lý thỏa đáng những vấn đề còn tồn tại.
Trong quan hệ giữa hai nước láng giềng, giá trị của quan hệ tốt đẹp không chỉ thể hiện ở những lĩnh vực hợp tác thuận lợi, mà còn thể hiện ở năng lực cùng nhau xử lý khác biệt bằng đối thoại, kiềm chế, tôn trọng lẫn nhau và trách nhiệm với tổng thể quan hệ hai nước.
Việt Nam mong muốn cùng Trung Quốc kiên trì giải quyết bất đồng bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở nhận thức chung cấp cao, luật pháp quốc tế và lợi ích chính đáng của mỗi bên; đồng thời tăng cường phối hợp tại các cơ chế đa phương, góp phần giữ gìn hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.
Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mới với ý chí và khát vọng rất lớn. Chúng tôi hiểu rõ rằng muốn phát triển nhanh và bền vững thì phải giữ vững môi trường hòa bình; muốn thực hiện thành công các mục tiêu đến năm 2030 và 2045 thì phải phát huy cao nhất nội lực, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế hiệu quả trên cơ sở độc lập, tự chủ.
Trong toàn bộ định hướng đó, quan hệ với Trung Quốc luôn được Việt Nam xác định là một ưu tiên chiến lược. Điều này xuất phát từ sự gần gũi về địa lý, sự gắn bó của lịch sử, có nhiều nét tương đồng về văn hóa, lợi ích đan xen ngày càng sâu về phát triển, và từ trách nhiệm chung của hai nước đối với hòa bình, ổn định và thịnh vượng của khu vực.
Tôi tin tưởng rằng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc với hạt nhân là đồng chí Tập Cận Bình, Nhân dân Trung Quốc sẽ tiếp tục thực hiện thắng lợi Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm lần thứ 15, đạt thêm nhiều thành tựu mới trong công cuộc hiện đại hóa đất nước. Việt Nam luôn coi sự phát triển ổn định, chất lượng cao của Trung Quốc là nhân tố quan trọng đối với hòa bình, hợp tác và phát triển ở khu vực, đồng thời là cơ hội cho các nước láng giềng, trong đó có Việt Nam.
Tôi cũng tin tưởng rằng, với nền tảng hữu nghị do các thế hệ tiền bối hai nước dày công vun đắp, với nhận thức chung cấp cao đã được xác lập, với quyết tâm của các cấp, các ngành, các địa phương và với sự đồng hành của Nhân dân hai nước, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc nhất định sẽ tiếp tục phát triển ổn định, lành mạnh, bền vững lâu dài, mang lại lợi ích thiết thực hơn cho hai Đảng, Nhà nước và Nhân dân hai nước, đóng góp tích cực hơn cho hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Chuyến thăm lần này của tôi tới Trung Quốc diễn ra với tinh thần đó, với kỳ vọng đó, và với mong muốn cùng các đồng chí lãnh đạo Trung Quốc tiếp tục mở ra một không gian phát triển mới, nâng tầm kết nối chiến lược giữa hai nước trong thời gian tới.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Thời Sự
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu chấm dứt tình trạng hội họp nhiều, sản phẩm ít

Sáng 14/5, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm chủ trì phiên họp thứ nhất Ban Chỉ đạo tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam, định hướng phát triển đất nước trong 100 năm tiếp theo và tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.
Ông nhấn mạnh đây là nhiệm vụ chính trị đặc biệt quan trọng, có ý nghĩa lớn cả về lý luận, thực tiễn, chính trị, tư tưởng và tổ chức, thể hiện trách nhiệm của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa 14. Với khối lượng công việc lớn, yêu cầu cao, phải thực hiện đồng thời với nhiều nhiệm vụ trọng tâm khác, các cơ quan "phải chuyển ngay sang trạng thái làm việc mới" theo hướng khẩn trương, khoa học, thực chất hơn, có thời hạn, có sản phẩm và người chịu trách nhiệm cụ thể.
Người đứng đầu Đảng và Nhà nước yêu cầu không để công việc trôi theo quán tính hành chính, chấm dứt tình trạng hội họp nhiều nhưng sản phẩm ít, phân công rộng nhưng trách nhiệm không rõ. Văn kiện tổng kết cũng không được đơn giản hóa thành báo cáo tình hình hay biên soạn tư liệu lịch sử đơn thuần.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước cho rằng tổng kết 100 năm Đảng lãnh đạo cách mạng Việt Nam không phải chỉ kể lại các sự kiện lịch sử theo trình tự thời gian, mà phải trả lời được nhiều câu hỏi lớn.
Đó là: Vì sao Đảng có thể lãnh đạo dân tộc vượt qua những bước ngoặt lịch sử và đạt thành tựu to lớn; đâu là những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam; những bài học mang tính quy luật nào cần tiếp tục kế thừa và phát triển; những hạn chế, khuyết điểm nào cần nhìn thẳng, đánh giá khách quan để sửa chữa, khắc phục. Đâu là tầm nhìn phát triển của đất nước trong 100 năm tới? Những trụ cột nào bảo đảm cho sự vững bền của Đảng, sự trường tồn của dân tộc và chế độ?
Tổng kết 40 năm thực hiện Cương lĩnh phải làm rõ hơn mô hình phát triển của Việt Nam, mô hình chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội của Việt Nam; xây dựng hệ luận cứ phục vụ xây dựng Cương lĩnh phát triển đất nước và bảo vệ Tổ quốc trong thời kỳ mới.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu tiếp tục hoàn thiện đề cương chi tiết theo hướng thể hiện được các thông điệp cốt lõi, xuyên suốt, mang tầm nhìn chiến lược của Đảng trong kỷ nguyên mới; nâng tầm báo cáo tổng kết thành tuyên ngôn phát triển của Đảng.
"Từng câu, từng chữ phải có chiều sâu tư tưởng; từng nội dung phải thể hiện tầm cao tư duy và quan điểm chiến lược; từng kết luận phải khai mở và thúc đẩy hành động", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nói.
Về phương pháp tổng kết, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước yêu cầu kết hợp chặt chẽ giữa lý luận và thực tiễn. Lý luận không được xa rời đời sống; thực tiễn không mô tả tản mạn, thiếu khái quát; đề xuất cho tương lai phải dựa trên bằng chứng khoa học, dự báo xu thế và yêu cầu phát triển đất nước.
Ông cũng yêu cầu tổng kết ở tầm quốc gia phải gắn với tổng kết tại địa phương, ngành và lĩnh vực; đặc biệt là các địa phương có dấu ấn lịch sử cách mạng, mô hình đổi mới sáng tạo hoặc vị trí chiến lược về quốc phòng, an ninh, đối ngoại, kinh tế, văn hóa.
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nhấn mạnh việc tham khảo kinh nghiệm quốc tế phải trên tinh thần độc lập, khách quan, cầu thị, chọn lọc, phù hợp với điều kiện Việt Nam; không rập khuôn, giáo điều hay sao chép máy móc. Trong quá trình tổng kết, các cơ quan phải đánh giá thành tựu đúng và đủ, có sức thuyết phục; đồng thời nhìn thẳng hạn chế, khuyết điểm, phân tích rõ nguyên nhân, nhất là nguyên nhân chủ quan.
"Tổng kết để tự hào nhưng không phải để tự mãn; để khẳng định nhưng không né tránh những vấn đề đặt ra", Tổng Bí thư, Chủ tịch nước nói.
Tin Gốc: Vnexpress

