Chạy bộ chậm là một cách để tăng cường tính toàn diện cho bộ môn chạy bộ, phù hợp với nhiều độ tuổi và khả năng. Đơn giản như tên gọi của nó, chạy chậm và cần nhiều thời gian hơn để hoàn thành quãng đường mong muốn.
Định nghĩa của chạy chậm phụ thuộc vào mỗi cá nhân. Theo Health.com, ví dụ người có thể chạy một dặm (tương đương 1,61km) trong sáu phút sẽ có tốc độ chạy chậm rất khác so với người thường chạy một dặm trong 12 phút. Mặc dù tốc độ thực tế mang tính tương đối, nhưng có một số đặc điểm nhất định của chạy bộ chậm:
– Duy trì nhịp tim dưới 70% nhịp tim tối đa: Bạn có thể ước tính gần đúng nhịp tim tối đa của mình bằng cách lấy 220 trừ đi số tuổi của bạn.
– Có thể duy trì cuộc trò chuyện: Trong khi chạy chậm, bạn có thể trò chuyện mà không bị hụt hơi quá nhiều.
– Chạy chậm hơn tốc độ trung bình hoặc tốc độ ngưỡng của bạn từ 90 giây đến hai phút: Tốc độ ngưỡng là tốc độ bạn có thể chạy trong một giờ. Ví dụ, nếu bạn có thể chạy 6 dặm trong một giờ (tốc độ 10 phút mỗi dặm), tốc độ chạy chậm của bạn nên vào khoảng 12 phút mỗi dặm.
Chạy bộ chậm đơn giản là chạy với tốc độ khiến bạn thoải mái, dễ chịu và có thể duy trì trong khoảng thời gian dài.
Chạy chậm khuyến khích sự hòa nhập, các kết nối xã hội sâu sắc hơn và sức khỏe thể chất tốt hơn.
– Sự hòa nhập: Một lợi ích của chạy chậm và có lẽ là lý do cho sự phổ biến của bộ môn này là khiến việc chạy bộ trở nên dễ dàng hơn, bởi chạy bộ chậm phù hợp với nhiều đối tượng ở nhiều độ tuổi khác nhau.
– Tăng cường sự kết nối: Khi chạy bộ chậm cùng gia đình, bạn bè, mọi người có thể cùng trò chuyện dễ dàng hơn, khiến bộ môn này có tính kết nối hơn.
– Cải thiện sức khỏe thể chất: Chạy bộ chậm dễ dàng ngăn ngừa chấn thương hơn, đặc biệt là với những người thể lực không quá tốt. Chạy với tốc độ chậm hơn cũng giúp cơ thể bạn xây dựng sức bền.
Cho dù bạn đang luyện tập cho cự ly nào, phần lớn các lần chạy của bạn sẽ là những lần chạy chậm để hỗ trợ phục hồi cơ bắp, và sẽ tăng cường sức khỏe tim, phổi và thể lực tổng thể của bạn.
Mặc dù chạy bộ chậm có thể mang lại nhiều lợi ích cho sức khỏe, nhưng vẫn có một vài điều cần lưu ý. Bạn vẫn có thể tập luyện quá sức, ngay cả khi chạy bộ chậm.
Bất kể tốc độ của bạn là bao nhiêu, hãy đảm bảo mình đang chạy với tốc độ phù hợp, và bạn đang tăng dần cường độ tập luyện và nghỉ ngơi khi cần thiết. Việc kết hợp nghỉ ngơi khi cần thiết và rèn luyện thể lực là chìa khóa để ngăn ngừa chấn thương.
Nếu ai đó đang cân nhắc việc thêm các bài chạy chậm vào lịch tập luyện hằng tuần của mình, thì nên biết cách chạy này hầu như không có nhược điểm nào, cũng không cần phải lo lắng rằng việc giảm tốc độ chạy sẽ khiến bạn chạy chậm hơn.
Trên thực tế, các vận động viên chạy bộ ưu tú thường tập luyện ở tốc độ chạy chậm trong phần lớn thời gian, các bài tập tốc độ thường chỉ chiếm không quá 20% tổng quãng đường chạy hằng tuần của họ.
Bạn có thể kết hợp chạy và đi bộ. Những quãng nghỉ đi bộ này có thể giúp giữ nhịp tim ở mức thấp và ngăn người chạy chạy quá nhanh. Có thể chia nhỏ bài tập theo cách nào phù hợp nhất với mình.
Bất kể tốc độ, kinh nghiệm hay cách bạn sắp xếp các bài chạy, chạy chậm là rất quan trọng để hỗ trợ phục hồi và ngăn ngừa kiệt sức về thể chất và tinh thần.
TS.BS.CK2. Trà Anh Duy, Trung tâm Sức khỏe Nam giới Men's Health, cho biết khi quyết định "thả", nhiều cặp đôi dễ rơi vào trạng thái căng thẳng, người thì canh ngày quá kỹ, người lại lo quan hệ nhiều sẽ làm "yếu" tinh trùng. Thực tế, điều quan trọng không phải dồn vào một thời điểm, mà là duy trì tần suất phù hợp, đều đặn và đúng nhịp sinh học.
Theo bác sĩ Duy, cơ hội có thai phụ thuộc lớn vào việc quan hệ có rơi vào "cửa sổ thụ thai" hay không. Khoảng thời gian này kéo dài khoảng 6 ngày, kết thúc vào ngày rụng trứng.
Tinh trùng có thể sống trong cơ thể người nữ 3-5 ngày, trong khi trứng chỉ tồn tại 12-24 giờ sau khi rụng. Vì vậy, quan hệ trước rụng trứng vài ngày vẫn có thể dẫn đến thụ thai. Chiến lược hiệu quả là đảm bảo luôn có tinh trùng "chờ sẵn" trong những ngày này, thay vì chỉ tập trung vào một thời điểm.
Về tần suất, các khuyến cáo y khoa cho thấy tối ưu là quan hệ mỗi ngày hoặc cách ngày trong cửa sổ thụ thai. Thực tế, việc quan hệ đều 2-3 lần mỗi tuần vẫn cho hiệu quả gần tương đương với nhiều cặp đôi. Điểm mấu chốt là chọn nhịp độ có thể duy trì lâu dài, không tạo áp lực.
Trong thực hành, có hai cách tiếp cận đơn giản, dễ áp dụng mà vẫn bám sát khuyến cáo chuyên môn. Cách thứ nhất là quan hệ đều 2-3 lần mỗi tuần, phù hợp với người bận rộn hoặc chu kỳ không đều. Cách hai là gần ngày rụng trứng, tăng lên mỗi ngày hoặc cách ngày trong 5-6 ngày. Cả hai cách đều giúp "phủ" được giai đoạn dễ thụ thai mà không cần canh quá chi li.
Một số người có tâm lý kiêng để "tinh trùng dày" rồi mới quan hệ. Đây là hiểu lầm rất phổ biến. Kiêng vài ngày có thể làm tăng lượng tinh dịch, nhưng không đồng nghĩa tăng khả năng có thai. Ngược lại, việc "kiêng dài rồi dồn một lần" dễ khiến lệch thời điểm rụng trứng, tăng áp lực tâm lý, giảm cơ hội nếu lỡ nhịp.
Khi quan hệ trở thành "nhiệm vụ", áp lực dễ khiến nam giới lo lắng, ảnh hưởng khả năng cương; nữ giới căng thẳng, khó chịu khi quan hệ. Hệ quả là tần suất giảm hoặc chất lượng quan hệ không tốt. Do đó, duy trì sự thoải mái và tự nhiên mới là yếu tố giúp duy trì đều đặn.
Trên thực tế, nhiều cặp đôi có thói quen kiêng dài ngày, chỉ quan hệ khi que thử rụng trứng báo đậm. Điều này vô tình tạo áp lực lớn và dễ "trượt" cơ hội nếu lệch thời điểm. Bác sĩ thường khuyên chuyển sang nhịp ổn định hơn, duy trì 2-3 lần mỗi tuần, tăng tần suất nhẹ vào giai đoạn nghi ngờ rụng trứng, đồng thời điều chỉnh lối sống.
Nếu hai vợ chồng quan hệ đều, không tránh thai mà sau 12 tháng chưa có thai, nên đi khám. Người vợ trên 35 tuổi hoặc chu kỳ không đều, thường nên đi sớm hơn. Ngoài ra, nếu nam giới có rối loạn cương, xuất tinh kéo dài, đau nặng bìu, tiền sử quai bị biến chứng tinh hoàn, tinh hoàn ẩn... thì việc "tối ưu tần suất" chỉ là một phần; cần kiểm tra nguyên nhân để không mất thời gian.
Phần lớn các ca bệnh đều có thể phòng ngừa được nếu cha mẹ để ý từ những điều rất nhỏ trong sinh hoạt hằng ngày.
Trẻ thường sốt, đau họng, biếng ăn. Nguyên nhân chủ yếu vẫn là siêu vi nhưng thời tiết nắng nóng tạo điều kiện thuận lợi cho bệnh xuất hiện nhiều hơn.
Khi trời quá nóng, nhiều gia đình cho trẻ ở phòng máy lạnh nhiệt độ thấp, uống nước đá hoặc ăn đồ lạnh để giải nhiệt nhanh.
Sự thay đổi nhiệt độ đột ngột giữa bên ngoài và trong phòng lạnh làm niêm mạc họng bị khô, giảm sức đề kháng tại chỗ, từ đó siêu vi dễ xâm nhập. Ngoài ra, việc để quạt thổi trực tiếp vào mặt trẻ khi đang ra mồ hôi cũng khiến đường hô hấp dễ bị kích thích.
Gần đây có nhiều ca ngộ độc thực phẩm. Không chỉ bệnh hô hấp, tiêu chảy cấp cũng tăng trong mùa nắng. Nhiệt độ cao làm thức ăn nhanh hư nếu bảo quản không đúng cách. Trẻ ăn phải thức ăn nhiễm khuẩn hoặc uống nước không sạch rất dễ bị tiêu chảy.
Với trẻ nhỏ, tình trạng mất nước do tiêu chảy lại cộng thêm việc ra mồ hôi nhiều khiến bệnh có thể nặng lên nhanh chóng.
Đây là bệnh do vi rút đường ruột, lây qua tiếp xúc và đường tiêu hóa. Mùa hè trẻ thường chơi chung, nếu không rửa tay sạch thì vi rút rất dễ lây lan.
Để giúp trẻ hạn chế mắc bệnh, cha mẹ chỉ cần chú ý những điều đơn giản. Giữ nhiệt độ phòng khoảng 26-27oC, tránh chênh lệch quá lớn. Khi trẻ đi nắng về nên lau mồ hôi, cho nghỉ rồi mới tắm.
Trong ăn uống cần đảm bảo ăn chín, uống sôi, hạn chế thức ăn để lâu và không lạm dụng nước đá, đồ lạnh. Quan trọng nữa là nhắc trẻ uống nước đều trong ngày và rửa tay bằng xà phòng đúng cách. Khi trẻ có dấu hiệu bất thường cần đưa đi khám sớm.
TS điều dưỡng Nguyễn Thị Thu Hiền, khoa da liễu và bỏng - Bệnh viện Bạch Mai, cho biết theo khuyến cáo, việc nhận biết sớm và chăm sóc đúng ngay từ những ngày đầu có ý nghĩa quyết định đến hiệu quả điều trị.
Khi xuất hiện các dấu hiệu như nóng rát, đau trên da, kèm theo mảng đỏ, mụn nước hoặc bọng nước thành chùm, người bệnh cần đến cơ sở y tế để được chẩn đoán và điều trị, đặc biệt trong 72 giờ đầu.
Người bệnh không tự ý dùng thuốc, nhất là corticoid, kháng sinh, thuốc nam hoặc các loại thuốc bôi không rõ nguồn gốc, cũng như không đắp lá lên vùng tổn thương. Những biện pháp này có thể khiến bệnh nặng hơn, tăng nguy cơ nhiễm trùng và để lại sẹo.
TS Hiền khuyến cáo tổn thương da do zona cần được giữ sạch - khô - thoáng, tắm rửa nhẹ nhàng, tránh nước quá nóng hoặc xà phòng gây kích ứng. Có thể che phủ bằng gạc sạch, mềm, không dính khi cần.
Không gãi, chà xát, chích vỡ mụn nước hoặc cạy vảy. Mặc quần áo rộng, thấm hút mồ hôi. Sử dụng riêng khăn tắm, quần áo, chăn ga trong thời gian còn mụn nước.
Những nguyên tắc đơn giản này giúp giảm nguy cơ nhiễm trùng và hạn chế sẹo.
Theo TS Hiền, zona không lây trực tiếp giữa người với người, nhưng dịch từ mụn nước có thể chứa vi rút Varicella-Zoster - vi rút gây bệnh thủy đậu - ở người chưa có miễn dịch.
Để phòng lây nhiễm, người bệnh cần che phủ vùng tổn thương; rửa tay thường xuyên; không dùng chung đồ cá nhân.
Đồng thời tránh tiếp xúc gần với phụ nữ mang thai, trẻ nhỏ, người suy giảm miễn dịch. Các biện pháp này cần duy trì đến khi tổn thương khô và đóng vảy hoàn toàn.
Người bệnh cần đến cơ sở y tế sớm nếu có các dấu hiệu zona xuất hiện ở vùng mắt, mặt; đau nhiều, sốt, tổn thương lan rộng; có dấu hiệu nhiễm trùng: sưng, nóng, đỏ, chảy dịch.
Việc thăm khám kịp thời giúp phòng ngừa các biến chứng nguy hiểm, đặc biệt là ảnh hưởng đến thị lực.
Bên cạnh đó, đau do zona liên quan đến tổn thương thần kinh, thường có cảm giác bỏng rát, nhói từng cơn và có thể kéo dài.
"Người bệnh cần tuân thủ đơn thuốc của bác sĩ, không tự ý tăng/giảm liều. Đồng thời, nghỉ ngơi đầy đủ, ăn uống cân đối, uống đủ nước. Có thể chườm mát bằng khăn sạch trong thời gian ngắn (không chườm đá trực tiếp)", TS Hiền khuyến cáo.