Nhiều người có thói quen thức dậy, uống một cốc nước rồi đi bộ ngay khi chưa ăn sáng hoặc chưa uống cà phê. Với hình thức đi bộ nhẹ hoặc vừa phải, đây là lựa chọn khá phù hợp và tốt cho sức khỏe, theo chuyên trang sức khỏe Healthline (Mỹ).
Đi bộ trước, uống cà phê sau cũng phù hợp với những người dạ dày dễ cồn cào nếu uống cà phê lúc bụng đói. Ngoài ra, đi bộ ngoài trời vào buổi sáng còn giúp cơ thể tiếp xúc với ánh sáng tự nhiên, điều chỉnh đồng hồ sinh học và giúp tinh thần tỉnh táo hơn.
Trong khi đó, với những người thường đi bộ nhanh, đi bộ đường dài hoặc tập luyện với cường độ cao hơn, uống cà phê trước có thể mang lại một số lợi ích. Caffeine là chất kích thích hệ thần kinh trung ương, có khả năng làm giảm cảm giác mệt mỏi và cải thiện tỉnh táo.
Nhiều bằng chứng nghiên cứu cho thấy caffeine có khả năng cải thiện hiệu suất ở một số hình thức vận động sức bền và bài tập cường độ cao.
Tuy nhiên, điều này không có nghĩa càng uống nhiều cà phê càng tốt. Uống quá nhiều có thể khiến tim đập nhanh, bồn chồn hoặc khó chịu đường tiêu hóa. Nếu muốn thử cách này, mọi người chỉ nên uống lượng vừa phải và theo dõi phản ứng của cơ thể.
Sau khi thức dậy, cơ thể tự động tăng tiết cortisol, loại hoóc môn giúp duy trì sự tỉnh táo vào buổi sáng. Ở một số người, nạp caffeine ngay khi vừa ngủ dậy có thể ảnh hưởng đến nồng độ cortisol, có thể dẫn đến tình trạng hồi hộp, run tay, buồn nôn hoặc cảm giác mệt sau đó. Nếu gặp tình trạng này, hãy đợi khoảng 30 – 60 phút sau khi thức dậy hãy uống cà phê.
Đặc biệt, những người bị viêm dạ dày hoặc trào ngược dạ dày thực quản nên chú ý phản ứng của cơ thể. Trong trường hợp đó, đi bộ trước, ăn sáng nhẹ rồi uống cà phê sau bữa ăn sẽ là lựa chọn dễ chịu hơn, theo Healthline.
Cứ vào mùa nấm tràm, rất đông người dân địa phương tại tỉnh Quảng Trị, thành phố Huế... lại vào rừng tìm hái. Từ lâu loại nấm này được coi là món ăn bổ ích cho cơ thể, được ưa chuộng và tìm mua về chế biến.
Theo bác sĩ Nguyễn Thị Thanh Huyền, Khoa Dinh dưỡng, Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị, nấm tràm có hàm lượng nước rất cao, mật độ năng lượng cực thấp, rất phù hợp cho những người muốn kiểm soát cân nặng.
"Nấm tràm chứa nhiều protein, các loại khoáng chất như sắt, mangan, kali... cùng các loại vitamin nhóm B và các chất xơ thô. Với thành phần dinh dưỡng như trên, nấm tràm rất tốt cho hệ miễn dịch, hệ tiêu hóa - đường ruột, phù hợp với những người muốn kiểm soát cân nặng, tạo cảm giác no nhờ khối lượng chất xơ giãn nở trong dạ dày", bác sĩ Nguyễn Thị Thanh Huyền chia sẻ.
Với nguồn protein thực vật hoàn chỉnh, giàu axit amin thiết yếu, giúp ngăn ngừa nguy cơ giảm cơ bắp cùng các chất xơ kích thích nhu động ruột, nuôi vi khuẩn có lợi, giảm thời gian lưu trữ phân..., nấm tràm còn phù hợp với những người ăn chay, hạn chế thịt đỏ và người bị táo bón mạn tính, cần cải thiện hệ vi sinh đường ruột.
Mặc dù mang lại nhiều lợi ích cho cơ thể, bác sĩ Nguyễn Thị Thanh Huyền cũng đề cập nhóm người cần hạn chế hoặc không nên ăn nấm tràm.
Cụ thể, nấm tràm giải phóng lượng lớn các hợp chất hữu cơ purine chuyển hóa thành axit uric gây kết tủa tinh thể lại ở khớp, nên những người mắc bệnh gout không nên ăn nấm tràm. Nấm tràm giàu hàm lượng kali, những người bị suy thận cũng không nên sử dụng, bởi sẽ khiến thận không đào thải kịp, gây tăng kali máu dẫn đến rối loạn nhịp tim.
Phụ nữ mang thai và đang cho con bú cũng không nên ăn nấm tràm, bởi nguy cơ tích lũy sinh học kim loại nặng, chì và thủy ngân có thể xuyên qua hàng rào nhau thai gây khiếm khuyết thần kinh thai nhi, giảm IQ.
Theo bác sĩ Nguyễn Thị Thanh Huyền, mỗi bữa ăn chỉ nên ăn khoảng 150 - 200 gam nấm tràm tươi cho người trưởng thành với tần suất ăn 1 - 2 lần/tuần.
Nếu ăn nấm tràm quá nhiều, sẽ gây ra các rủi ro như hội chứng khó tiêu, trào ngược dạ dày, tăng axit uric nguy hiểm kể cả những người chưa bị bệnh gout, tích lũy các kim loại nặng độc hại.
Tiến sĩ Lê Thị Hương Giang, Trưởng khoa Tiết chế Dinh dưỡng - Bệnh viện 19-8 (Bộ Công An), cho biết ướp thịt từ tối hôm trước để sáng hôm sau chế biến là thói quen rất phổ biến trong nhiều gia đình, giúp món ăn đậm đà hơn, tiết kiệm thời gian nấu nướng. Tuy nhiên, dưới góc độ an toàn thực phẩm, thịt ướp qua đêm chỉ thực sự an toàn khi được bảo quản đúng cách.
"Nếu để sai nhiệt độ hoặc thao tác không đảm bảo vệ sinh, món ăn tưởng tiện lợi lại có thể trở thành nguồn gây ngộ độc thực phẩm", tiến sĩ nói.
Đặc biệt, nhiều người có thói quen ướp thịt rồi để ngoài nhiệt độ phòng vài giờ cho "ngấm", để thịt trong tủ lạnh nhưng không đậy kín. Nhiều trường hợp còn nhồi quá nhiều thực phẩm khiến tủ lạnh không đủ lạnh, dùng chung dao, thớt cho thực phẩm sống và chín.
"Đây mới là nguyên nhân chính làm tăng nguy cơ mất an toàn thực phẩm", tiến sĩ khuyến cáo.
Thịt tươi sống là môi trường giàu protein và độ ẩm, tạo điều kiện rất thuận lợi cho vi sinh vật phát triển. Khi thịt được cắt nhỏ, thêm gia vị như hành, tỏi, đường, nước mắm..., diện tích tiếp xúc tăng lên, đồng thời cung cấp thêm "nguồn dinh dưỡng" cho vi khuẩn sinh sôi nếu bảo quản không đúng.
Theo WHO, khoảng nhiệt độ từ 5°C–60°C được gọi là "vùng nguy hiểm", nơi vi khuẩn phát triển rất nhanh. Trong điều kiện thuận lợi, số lượng vi khuẩn có thể tăng gấp đôi chỉ sau khoảng 20 phút. Các tác nhân thường gặp trong thịt sống gồm như Salmonella, E.coli, Listeria monocytogenes, Staphylococcus aureus. Những vi khuẩn này có thể gây đau bụng, tiêu chảy, nôn, sốt, thậm chí nhiễm trùng nặng ở trẻ nhỏ, người cao tuổi, phụ nữ mang thai và người suy giảm miễn dịch.
Để món ăn vừa ngon vừa đảm bảo sức khỏe, sau khi ướp phải cho ngay vào ngăn mát ≤5°C. Dùng hộp kín hoặc bọc kín thực phẩm. Nên sử dụng trong vòng 12–24 giờ. Nếu chưa dùng ngay nên cấp đông sớm.
Không để thịt sống gần thực phẩm ăn liền. Nấu chín kỹ. Không nhồi nhét thực phẩm quá nhiều trong tủ lạnh. "Chỉ một thao tác vệ sinh sai cũng có thể khiến món ăn trở thành nguy cơ cho sức khỏe cả gia đình", tiến sĩ nói.
Để tối ưu khả năng kiểm soát đường huyết, đậu bắp nên kết hợp với những món sau:
Khi ăn đậu bắp cùng các thực phẩm giàu protein như cá, thịt nạc, trứng hoặc đậu hũ, cơ thể sẽ tiêu hóa chậm hơn. Điều này có nghĩa là đường glucose được giải phóng vào máu từ từ thay vì tăng nhanh sau bữa ăn.
Protein có khả năng kích thích tiết hoóc môn giúp điều hòa đường huyết, đồng thời làm chậm quá trình tiêu hóa. Trong khi đó, chất xơ hòa tan trong đậu bắp tạo thành một lớp gel trong ruột, làm chậm quá trình hấp thu tinh bột. Khi hai yếu tố này kết hợp, hiệu quả kiểm soát đường huyết sẽ rõ rệt hơn.
Ví dụ đơn giản là canh đậu bắp nấu cá, đậu bắp xào thịt nạc hoặc đậu bắp hấp kèm trứng luộc. Đây đều là những cách ăn dễ áp dụng mà vẫn hỗ trợ tốt cho kiểm soát đường huyết.
Một nguyên tắc quan trọng là không chỉ nhìn vào từng món ăn riêng lẻ mà cần xem xét cả bữa ăn. Đậu bắp nên được kết hợp với các thực phẩm có chỉ số đường huyết thấp như gạo lứt, yến mạch hoặc khoai lang.
Những thực phẩm này giải phóng đường glucose vào máu chậm hơn so với tinh bột trắng như cơm hoặc bánh mì. Khi ăn cùng đậu bắp, hiệu ứng làm chậm hấp thu đường sẽ càng rõ hơn, giúp đường huyết ổn định sau ăn. Ngược lại, nếu ăn đậu bắp nhưng vẫn dùng nhiều tinh bột tinh chế, đường huyết vẫn có thể tăng nhanh.
Polyphenol là nhóm hợp chất chống ô xy hóa có trong nhiều thực phẩm như trà xanh, nghệ, rau củ màu đậm hoặc quả mọng. Những chất này có khả năng giảm viêm và cải thiện độ nhạy insulin.
Đậu bắp cũng chứa polyphenol, đặc biệt là các flavonoid như quercetin. Khi kết hợp với các thực phẩm giàu polyphenol khác, hiệu quả chống ô xy hóa sẽ được tăng cường, từ đó giúp kiểm soát đường huyết tốt hơn. Mọi người có thể kết hợp đậu bắp với rau củ nhiều màu như cà chua, ớt chuông, hoặc các món có nghệ.
Chất béo lành mạnh như dầu ô liu, dầu mè, quả bơ hoặc các loại hạt cũng quan trọng với mục tiêu ổn định đường huyết. Khi được dùng trong bữa ăn, chất béo sẽ làm chậm quá trình tiêu hóa và hấp thu tinh bột. Điều này giúp đường huyết không tăng vọt sau ăn mà duy trì ổn định hơn.
Trong khi đó, đậu bắp chứa nhiều hợp chất chống ô xy hóa. Khi kết hợp với chất béo tốt, hiệu quả bảo vệ chuyển hóa sẽ được tăng cường. Mọi người có thể thử đậu bắp luộc chấm dầu mè, trộn với dầu ô liu hoặc nấu chung với cá. Những cách chế biến này vừa ngon miệng vừa có lợi cho đường huyết.