Gần đây, tại Quảng Trị liên tiếp ghi nhận nhiều trường hợp hóc dị vật với tình huống ‘dở khóc dở cười’, thậm chí tiềm ẩn nguy hiểm đến tính mạng. Không ít ca bệnh buộc các bác sĩ phải xử trí khẩn cấp để tránh biến chứng nặng.
Cụ thể, ngày 14.4, Bệnh viện đa khoa tỉnh Quảng Trị tiếp nhận ca cấp cứu hy hữu khi bệnh nhi L.B.N (21 tháng tuổi, ở xã Gio Linh) nuốt phải dị vật sắc nhọn. Theo người nhà, trong lúc chơi đùa, cháu bé vô tình nuốt một chiếc đinh vít dài khoảng 2,5 cm.
Do hoảng loạn, người mẹ đã vỗ lưng để mong đẩy dị vật ra ngoài, nhưng vô tình khiến chiếc đinh… trôi sâu hơn.
Kết quả thăm khám và chụp X-quang cho thấy dị vật đã nằm trong dạ dày, có nguy cơ gây thủng đường tiêu hóa, xuất huyết nếu không can thiệp kịp thời. Ngay lập tức, các bác sĩ thuộc nhiều chuyên khoa đã hội chẩn và nội soi cấp cứu dưới gây mê.
Sau khoảng 30 phút, chiếc đinh vít được lấy ra an toàn. Bệnh nhi hồi phục nhanh, ổn định và xuất viện vào ngày hôm sau.
Không chỉ ở trẻ nhỏ, các ca hóc dị vật ở người lớn cũng diễn ra khá phổ biến với nhiều tình huống bất ngờ. Tại khoa Nội tiêu hóa – Huyết học lâm sàng (Bệnh viện hữu nghị Việt Nam – Cu Ba Đồng Hới), thời gian qua liên tục tiếp nhận các ca dị vật thực quản.
Cụ thể, ngày 5.4, một bệnh nhân nhập viện do hóc… miếng xoài bóp. Trước đó, ngày 3.4, một người lớn tuổi vô tình nuốt răng giả khi uống thuốc. Ngày 23.3, một trường hợp khác phải nhập viện do nuốt phải xương gà.
Đáng chú ý, ngày 19.1, các bác sĩ tiếp nhận một ca xuất huyết tiêu hóa nôn ra máu, đồng thời nhận thông tin về bệnh nhân đau thắt ngực dữ dội. Qua chẩn đoán hình ảnh, phát hiện dị vật nghi đâm xuyên cơ thực quản. Sau hội chẩn liên khoa và phối hợp giữa các chuyên khoa tim mạch, ngoại tổng hợp, ê kíp đã nội soi gắp thành công một chiếc xương cá dài gần 7 cm, đảm bảo an toàn cho người bệnh.
Theo các bác sĩ, dị vật thực quản là một cấp cứu nội khoa nguy hiểm, có thể dẫn đến tử vong nếu xử trí chậm.
Thầy thuốc ưu tú, bác sĩ chuyên khoa 2 Nguyễn Duy Thạch, Trưởng khoa Nội tiêu hóa – Huyết học lâm sàng (Bệnh viện hữu nghị Việt Nam – Cu Ba Đồng Hới), cho biết thực quản có 5 đoạn hẹp sinh lý, dễ khiến dị vật mắc kẹt. Thống kê cho thấy dị vật thường dừng lại ở vùng cổ (74%), đoạn ngực (22%) và đoạn dưới ngực (4%).
“Nếu không được lấy ra kịp thời, dị vật có thể gây thủng thực quản, viêm trung thất, thậm chí đâm vào mạch máu lớn, dẫn đến tử vong nhanh”, bác sĩ Thạch nhấn mạnh.
Theo bác sĩ Thạch, nguyên nhân phổ biến nhất dẫn đến hóc dị vật là thói quen ăn uống vội vàng, không nhai kỹ hoặc vừa ăn vừa nói chuyện.
Với người lớn tuổi, việc mất răng hoặc sử dụng răng giả làm giảm khả năng kiểm soát nuốt. Trẻ nhỏ lại có thói quen ngậm đồ vật, chưa biết cách loại bỏ xương khi ăn.
Ngoài ra, những người mắc bệnh lý như u trung thất, ung thư thực quản hoặc co thắt thực quản cũng có nguy cơ cao. Đặc biệt, một số người do thói quen nghề nghiệp thường ngậm đinh, kim hoặc vật nhỏ trong miệng khi làm việc, tiềm ẩn rủi ro lớn.
Bác sĩ Thạch khuyến cáo, hóc dị vật hoàn toàn có thể phòng tránh bằng những thay đổi đơn giản trong sinh hoạt. Người lớn cần ăn chậm, nhai kỹ, tránh nói chuyện khi ăn; hạn chế chế biến thực phẩm khiến xương bị vỡ vụn, nên lọc xương trước khi ăn. Với trẻ nhỏ, cần loại bỏ hoàn toàn xương trong thức ăn và không để trẻ tiếp xúc với các vật nhỏ như đồng xu, kim băng, pin…
Đặc biệt, khi có dấu hiệu nuốt vướng, đau nghẹn hoặc nghi ngờ nuốt phải dị vật, cần đến ngay cơ sở y tế gần nhất. Bác sĩ Thạch nhấn mạnh, tuyệt đối không áp dụng “mẹo dân gian” như nuốt cơm to, uống nước liên tục hay dùng tay móc họng, bởi có thể khiến dị vật đi sâu hơn, gây tổn thương nghiêm trọng.
PGS-TS, bác sĩ Lương Tuấn Khanh, Giám đốc Trung tâm Phục hồi chức năng, Bệnh viện Bạch Mai cho biết, trung tâm tiếp nhận nhiều người bệnh đến khám, điều trị trong tình trạng đau do viêm quanh khớp vai.
Nguyên nhân viêm quanh khớp vai do tổn thương các cấu trúc mô mềm quanh khớp như gân, cơ, dây chằng, bao khớp, không liên quan trực tiếp đến tổn thương xương hay sụn khớp, chủ yếu ở phần mô mềm, nhưng lại gây ảnh hưởng rất lớn đến chức năng vận động.
Có 4 thể bệnh thường gặp, trong đó, thể đơn thuần thường do bệnh lý gân cơ; thể đau vai cấp; thể đông cứng do viêm dính, co thắt bao khớp, bao khớp dày, dẫn đến giảm vận động khớp ổ chảo - cánh tay; thể giả liệt do đứt gân cơ trên gai. Trong thực tế, các thể trên có thể kết hợp với nhau.
Các tổn thương thường gặp nhất trong viêm quanh khớp vai là tổn thương các gân cơ xoay gân cơ nhị đầu và bao thanh mạc dưới mỏm cùng vai.
Bệnh thường xuất phát từ 3 cơ chế chính: thoái hóa gân và chóp xoay theo tuổi; viêm bao hoạt dịch, viêm gân do vận động căng giãn gân cơ khớp vai lặp lại; co rút bao khớp (đông cứng khớp vai) gây hạn chế vận động.
Ngoài ra, những yếu tố như: lao động tay quá đầu (các hoạt động sử dụng cánh tay ở vị trí cao hơn vai, quá tầm đầu trong thời gian dài, hoặc lặp lại); chơi thể thao lặp đi lặp lại (tennis, golf, pickleball…), chấn thương hoặc phẫu thuật vùng vai, ít vận động hoặc bất động kéo dài đều có thể thúc đẩy bệnh tiến triển.
Về điều trị viêm quanh khớp vai, bác sĩ Khanh chia sẻ, nguyên tắc điều trị gồm 3 yếu tố chính: giảm đau, chống viêm; phục hồi tầm vận động khớp vai tăng sức mạnh cơ và ổn định khớp.
Trong đó, phục hồi chức năng và tập vận động là nền tảng quan trọng nhất, quyết định kết quả lâu dài, giúp người bệnh quay trở lại với các chức năng sinh hoạt bình thường.
Bệnh nhân cần được điều trị kết hợp: vật lý trị liệu (điện trị liệu và nhiệt trị liệu như: siêu âm trị liệu, điện xung, laser công suất cao, sóng xung kích, sóng ngắn; chương trình tập vận động trị liệu theo phác đồ cá thể hóa) và thuốc giảm đau, chống viêm khi cần.
"Điểm mấu chốt là không chỉ điều trị triệu chứng mà phục hồi chức năng vận động thực sự cho người bệnh", bác sĩ Khanh cho biết.
"Do triệu chứng ban đầu khá nhẹ, người bệnh thường nghĩ là đau cơ thông thường nên không đi khám. Ngoài ra, nhiều người ngại vận động vì sợ đau, điều này lại khiến khớp càng cứng hơn, tạo thành vòng xoắn bệnh lý", bác sĩ Khanh lưu ý.
Thạc sĩ vật lý trị liệu Nguyễn Thành Nam (Trung tâm Phục hồi chức năng, Bệnh viện Bạch Mai), chia sẻ thêm khi tham gia điều trị người bệnh thường sợ đau nên không muốn trị liệu, tập vận động, ngại hoặc bỏ dở tập giữa chừng, khiến bệnh kéo dài hoặc nặng hơn.
Với mỗi người, khi áp dụng vật lý trị liệu cũng như tập vận động phục hồi chức năng, kỹ thuật viên sẽ cài đặt, điều chỉnh các phương pháp vật lý trị liệu, thiết kế bài tập phù hợp với từng giai đoạn và theo dõi phản ứng của người bệnh, điều chỉnh cường độ tập.
Người bệnh cần tập vận động đúng hướng dẫn và duy trì luyện tập đều đặn; không bỏ tập giữa chừng, tập quá sức; không tự ý tập theo mạng.
Người bệnh nam, 19 tuổi, trước đó hoàn toàn khỏe mạnh, không có tiền sử chấn thương hay bệnh lý nền. Tuy nhiên, sau một thời gian dài duy trì thói quen ngồi khoanh chân khi học, làm việc, người bệnh bắt đầu xuất hiện cảm giác tê bì vùng bàn chân trái.
Ban đầu triệu chứng khá nhẹ nhưng nhanh chóng tiến triển thành yếu cơ: người bệnh không thể gấp cổ chân trái, đầu gối khó nhấc cao khi di chuyển. Dáng đi thay đổi rõ rệt, bàn chân quệt xuống đất gây khó khăn trong sinh hoạt, học tập và tiềm ẩn nguy cơ chấn thương.
Kết quả điện có tổn thương thần kinh mác sâu bên trái. Sau đó, người bệnh được nhập viện điều trị tại khoa y học cổ truyền với chẩn đoán liệt dây thần kinh mác - nguyên nhân gây ra hội chứng "bàn chân rủ".
Theo bác sĩ Hoàng Kim Chung, khoa y học cổ truyền, Bệnh viện Bạch Mai, dây thần kinh mác có vai trò chi phối động tác gấp mu bàn chân và nghiêng trong bàn chân. Khi bị tổn thương, người bệnh không thể nâng bàn chân lên, phải nhấc cao gối khi đi. Đây là biểu hiện điển hình của "bàn chân rủ".
Trong y học hiện đại, nguyên nhân phổ biến nhất của tình trạng này là chèn ép dây thần kinh kéo dài, thường gặp ở những người có thói quen vắt chéo chân, ngồi khoanh chân hoặc nằm bất động lâu.
Ngoài ra, bệnh lý cũng có thể xuất phát từ chấn thương vùng cẳng chân, đầu trên xương mác, sai khớp gối, tổn thương dây chằng, biến chứng thần kinh ngoại biên do đái tháo đường hoặc do khối u chèn ép dây thần kinh.
Dưới góc nhìn y học cổ truyền, bác sĩ Chung cho tình trạng này thuộc phạm vi chứng tý hoặc nuy chứng, do khí huyết ứ trệ, kinh lạc bế tắc, khiến gân cơ không được nuôi dưỡng đầy đủ. Phục hồi tích cực nhờ kết hợp châm cứu, bấm huyệt và phục hồi chức năng
Tại khoa y học cổ truyền, người bệnh được điều trị theo hướng kết hợp y học cổ truyền và y học hiện đại, bao gồm sử dụng thuốc chống viêm, bổ sung vitamin nhóm B (B1, B6, B12).
Châm cứu, điện châm, xoa bóp, bấm huyệt vùng cẳng chân, cùng thuốc y học cổ truyền phù hợp thể trạng và tập phục hồi chức năng.
Không chỉ điều trị về thể chất, đội ngũ y bác sĩ và điều dưỡng còn đặc biệt chú trọng hỗ trợ tâm lý. Khi nhập viện, người bệnh có biểu hiện lo lắng, tự ti do dáng đi bất thường. Sau quá trình được động viên, tư vấn, tinh thần người bệnh đã ổn định, hợp tác tốt với điều trị.
Sau khoảng gần 2 tuần, tình trạng cải thiện rõ rệt. Người bệnh hết tê bì chân trái, không còn phải nhấc cao gối khi đi. Biên độ gấp cổ chân của người bệnh đạt khoảng 15 độ, gần tương đương chân lành và có thể chạy đoạn ngắn.
"Em cảm thấy đi lại mọi thứ thuận tiện hơn hẳn, chủ động trong sinh hoạt, không còn phải phụ thuộc vào người thân hỗ trợ, tự tin hơn khi tình trạng bệnh tình của mình được cải thiện", nam sinh chia sẻ.
Các bác sĩ y học cổ truyền khuyến cáo thói quen ngồi vắt chân, khoanh chân lâu không chỉ ảnh hưởng đến tuần hoàn máu mà còn có thể gây chèn ép dây thần kinh, dẫn đến những hậu quả nghiêm trọng như trường hợp trên.
Để phòng tránh, người dân cần: hạn chế ngồi vắt chéo chân, khoanh chân trong thời gian dài. Thay đổi tư thế thường xuyên khi ngồi học, làm việc. Tăng cường vận động, tập luyện nhẹ nhàng. Khi xuất hiện dấu hiệu tê bì, yếu cơ kéo dài, người bệnh cần đi khám sớm.
Ca bệnh là lời nhắc nhở với những thói quen nhỏ trong sinh hoạt hằng ngày cũng có thể gây ra hệ quả lớn đối với sức khỏe. Việc phát hiện sớm và điều trị kịp thời, đặc biệt kết hợp hiệu quả giữa y học hiện đại và y học cổ truyền, có thể giúp người bệnh phục hồi nhanh chóng và hạn chế di chứng.
Tăng huyết áp có thể cải thiện nếu phát hiện sớm, nhưng đa số trường hợp cần theo dõi và kiểm soát lâu dài, theo trang Onlymyhealth (Ấn Độ).
Ông Deebanshu Gupta, bác sĩ tim mạch tại Ấn Độ, cho biết tăng huyết áp gồm 2 dạng chính.
Tăng huyết áp nguyên phát hình thành theo thời gian và không có nguyên nhân cụ thể. Nghiên cứu trên tạp chí Nature Reviews Nephrology vào năm 2026 cho thấy bệnh có thể do tuổi tác, di truyền và lối sống.
Tăng huyết áp thứ phát xuất hiện do bệnh lý nền như bệnh thận, rối loạn nội tiết hoặc tác dụng của thuốc.
Tăng huyết áp thứ phát có thể cải thiện nếu xử lý được nguyên nhân gốc. Khi điều chỉnh rối loạn nội tiết hoặc điều trị bệnh nền, huyết áp có thể trở lại mức bình thường.
Tăng huyết áp nguyên phát không thể chữa khỏi hoàn toàn theo cách thông thường. Tuy vậy, việc điều chỉnh lối sống có thể đưa chỉ số về mức an toàn, thậm chí không cần thuốc.
Nguy cơ tái phát tăng huyết áp vẫn tồn tại nếu không duy trì thói quen lành mạnh. Việc kiểm soát lâu dài phù hợp hơn khái niệm chữa dứt điểm.
Lối sống ảnh hưởng trực tiếp đến huyết áp. Việc giữ cân nặng hợp lý, ăn nhạt, vận động đều đặn và hạn chế rượu bia giúp cải thiện rõ rệt.
Nghiên cứu trên The Journal of Clinical Hypertension vào năm 2023 cho thấy giảm vài kg có thể giúp hạ huyết áp. Việc giảm thực phẩm chế biến sẵn cũng mang lại hiệu quả rõ rệt.
Các thay đổi này cần duy trì lâu dài. Sự đều đặn mang lại hiệu quả cao hơn nỗ lực ngắn hạn.
Nghiên cứu trên Clinical Hypertension vào năm năm 2024 chỉ ra chế độ ăn đóng vai trò quan trọng trong kiểm soát huyết áp. Rau xanh và trái cây cung cấp kali, giúp cân bằng natri trong cơ thể.
Ngũ cốc nguyên hạt, đạm nạc, sữa ít béo và các loại hạt giúp ổn định huyết áp. Ngược lại, muối, đồ ăn chế biến sẵn, đồ ngọt và chất béo bão hòa cần hạn chế.
Việc nấu ăn tại nhà và chọn thực phẩm tươi giúp kiểm soát lượng muối tốt hơn. Uống đủ nước cũng hỗ trợ điều hòa huyết áp.
Vận động giúp tim hoạt động hiệu quả, giảm áp lực lên mạch máu. Nghiên cứu trên Hypertension Research vào năm 2024 khẳng định đi bộ nhanh, bơi lội hoặc đạp xe giúp hạ huyết áp.