Bộ GD-ĐT vừa ban hành Thông tư 34 quy định về việc xác định số lượng tuyển sinh ĐH, thạc sĩ, tiến sĩ và số lượng tuyển sinh CĐ ngành giáo dục mầm non, thay thế thông tư năm 2022 (áp dụng khóa tuyển sinh 2027), với những điểm mới được cho là tác động đáng kể tới chỉ tiêu tuyển sinh và kế hoạch phát triển đội ngũ giảng viên (GV) của các trường ĐH.
Theo thông tư này, để xác định số lượng tuyển sinh, GV phải ký hợp đồng làm việc toàn thời gian tối thiểu 3 năm. Điều đó có nghĩa năm 2025 hay 2026 một trường ĐH tuyển được 50 tiến sĩ, 15 thạc sĩ thì số lượng GV mới này không được tính để xác định chỉ tiêu. Quy định mới cũng đưa ra số lượng người học quy đổi trên GV quy đổi không theo nhóm ngành như trước (ví dụ kỹ thuật là 20 sinh viên (SV)/GV, kinh tế 25 SV/GV) mà tính chung là 40 SV/GV cho tất cả nhóm ngành.
Đặc biệt, hệ số quy đổi của GV có chức danh giáo sư (GS), phó giáo sư (PGS), trình độ tiến sĩ đều bằng 1 trong khi quy định cũ là GS = 5, PGS = 3 và tiến sĩ = 2. Bên cạnh đó thạc sĩ trước đây có hệ số 1 thì giờ giảm còn 0,75.
Tất cả những con số trên mới chỉ thể hiện năng lực đào tạo. Còn số lượng tuyển sinh được tính theo công thức: năng lực đào tạo – quy mô đào tạo + SV tốt nghiệp dự kiến trong năm.
Những điểm nói trên đã tác động trực tiếp tới việc xác định chỉ tiêu tuyển sinh của các cơ sở giáo dục ĐH. Theo tính toán của một lãnh đạo trường ĐH tại TP.HCM, nếu theo cách tính mới này, chỉ tiêu tuyển sinh các trường có thể sẽ giảm từ 10 – 30%.
Lấy ví dụ, một trường ĐH đào tạo khối ngành kinh tế (có tỷ lệ SV quy đổi trên GV quy đổi là 25 SV/GV) có 5 GS, 10 PGS, 100 tiến sĩ và 80 thạc sĩ. Nếu tính theo cách cũ, thì 5 GS được xác định 5 x 5 x 25 = 650 chỉ tiêu, 10 PGS được tuyển 10 x 3 x 25 = 750 chỉ tiêu, 150 tiến sĩ sẽ được tuyển 100 x 2 x 25 = 5.000 chỉ tiêu, 100 thạc sĩ được tuyển 100 x 25 = 2.500 chỉ tiêu. Tổng chỉ tiêu là 8.900.
Nếu tính theo cách mới (tỷ lệ SV quy đổi trên GV quy đổi là 40 SV/GV), năng lực đào tạo của GS là 5 x 40 = 200 chỉ tiêu, PGS là 10 x 40 = 400 chỉ tiêu, tiến sĩ là 100 x 40 = 4.000; thạc sĩ là 100 x 0,75 x 40 = 3.000. Tổng năng lực đào tạo lúc này là 7.600, tính ra đã giảm tới 1.300. Chưa kể khi tính theo công thức mới, chỉ tiêu = năng lực đào tạo – quy mô đào tạo + SV tốt nghiệp dự kiến, thì số lượng có thể còn giảm thêm.
Tiến sĩ Trần Hữu Duy, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Đà Lạt, cho biết: “Thông tư này nhằm siết quy mô đào tạo ĐH để nâng cao chất lượng và tăng quy mô đào tạo sau ĐH (tối thiểu 15% tổng chỉ tiêu). Một trường mà có nhiều GS, PGS, tiến sĩ thì tỷ lệ chỉ tiêu sẽ giảm khá nhiều so với cách tính cũ”.
Theo tiến sĩ Võ Văn Tuấn, Phó hiệu trưởng Trường ĐH Văn Lang, việc xác định số lượng tuyển sinh của nhiều trường sẽ bị thu hẹp hoặc phải tính lại theo hướng thực chất hơn và ít phụ thuộc hơn vào hệ số ưu thế của một số học hàm, học vị cao.
“Trước đây, chỉ cần có một số lượng GS, PGS hoặc tiến sĩ thì tổng số GV quy đổi tăng lên rất mạnh, từ đó kéo theo năng lực đào tạo và chỉ tiêu tuyển sinh tăng tương ứng. Nay khi GS, PGS, tiến sĩ cùng được tính ở mức 1, khoảng chênh lệch đó gần như bị triệt tiêu. Vì vậy, những trường trước đây dựa khá nhiều vào hệ số cao của một đội ngũ GV có học hàm, học vị để xác định chỉ tiêu thì nay sẽ không còn lợi thế như trước. Trong khi những trường có đội ngũ ổn định nhưng không nhiều GS, PGS lại ít bị chênh lệch hơn trước”, tiến sĩ Tuấn nhìn nhận.
Nhưng chính vì thế mặt bằng chỉ tiêu giữa các trường sẽ có xu hướng được kéo lại gần nhau hơn. Không còn chuyện cùng một số lượng GV, nhưng chỉ cần cơ cấu học hàm, học vị khác nhau là kết quả chỉ tiêu có thể chênh lệch rất lớn. Với mức quy đổi này kết quả xác định chỉ tiêu sẽ phản ánh sát hơn quy mô đội ngũ thực tế.
Theo tiến sĩ Trần Hữu Duy, cho đến thời điểm hiện tại, quy định GV phải tối thiểu có trình độ thạc sĩ, nên cho dù hệ số quy đổi có giảm thì vai trò của GV có trình độ thạc sĩ là không thay đổi. Tuy nhiên, qua đây cũng có thể thấy quan điểm của Bộ GD-ĐT rất rõ ràng, tiến tới hạn chế GV có trình độ thạc sĩ. Điều này đặt ra nhiệm vụ cho các trường là phải khẩn trương có kế hoạch đào tạo nâng trình độ của GV, nếu không về lâu dài khi Bộ nâng chuẩn GV lên trình độ tiến sĩ thì sẽ rất khó khăn.
Tiến sĩ Võ Văn Tuấn cũng cho rằng quy định mới không hề làm giảm vai trò chính thức của GV trình độ thạc sĩ. Họ vẫn là lực lượng trực tiếp giảng dạy và đóng vai trò quan trọng trong vận hành chương trình đào tạo.
“Ở góc độ quy đổi chỉ tiêu, trọng số của đội ngũ thạc sĩ giảm ảnh hưởng tới những trường vốn dựa nhiều vào thạc sĩ. Nhưng về mặt vận hành, khi hệ số quy đổi thấp hơn, đóng góp của GV thạc sĩ vào năng lực tuyển sinh sẽ giảm so với trước. Điều này có thể dẫn đến việc họ được phân công nhiều hơn ở các học phần cơ bản hoặc đóng vai trò hỗ trợ trong nghiên cứu. Dù vậy, trong các ngành đào tạo mang tính ứng dụng cao, vai trò của GV thạc sĩ, đặc biệt là những người có kinh nghiệm thực tiễn, vẫn không thể thay thế. Vì vậy, vấn đề không phải là giảm vai trò mà là tái định vị vai trò cho phù hợp hơn với yêu cầu phát triển của hệ thống”, tiến sĩ Tuấn khẳng định.
PGS-TS Nguyễn Xuân Hoàn, Hiệu trưởng Trường ĐH Công thương TP.HCM, nhận định: “Chúng tôi hoàn toàn ủng hộ chủ trương được thể hiện thông qua các quy định về chuẩn cơ sở giáo dục ĐH, quy định về xác định số lượng người học… theo hướng nâng cao chất lượng đội ngũ GV, đặc biệt là tăng tỷ lệ tiến sĩ. Tuy nhiên, cần có lộ trình phù hợp và phân loại rõ các mô hình ĐH. Nếu áp dụng cứng nhắc có thể dẫn đến giảm chỉ tiêu đào tạo và thiếu hụt nguồn nhân lực cho thị trường lao động”.
Để thực hiện chiến lược phát triển đội ngũ GV trình độ cao, trong 3 năm trở lại đây và thời gian tới, Trường ĐH Công thương TP.HCM không tuyển thạc sĩ, chỉ tuyển tiến sĩ trở lên với chính sách đãi ngộ hấp dẫn.
Tiến sĩ Võ Văn Tuấn đánh giá nguồn GV trình độ tiến sĩ ở VN vẫn còn hạn chế, đặc biệt ở các ngành mới hoặc liên ngành, hoặc có những ngành chưa đào tạo tiến sĩ ở trong nước. Khi tiêu chuẩn được nâng lên đồng loạt, các trường sẽ cạnh tranh rất mạnh để thu hút nhân sự, mà số lượng tiến sĩ trong thời gian tới không thể tăng nhanh như trước đây nên dẫn đến chi phí tăng cao và không phải trường nào cũng có lợi thế như nhau.
“Nếu không có sự linh hoạt trong triển khai và lộ trình hợp lý thì các quy định này có thể làm giảm tính năng động và dẫn đến những hệ lụy không mong muốn như méo mó cơ cấu ngành đào tạo, đặc biệt là gia tăng chi phí học tập. Vì vậy, cần có cơ chế điều chỉnh phù hợp theo từng nhóm ngành, từng loại hình cơ sở đào tạo, thì khi đó mục tiêu nâng cao chất lượng mới có thể đạt được mà không làm triệt tiêu động lực phát triển của hệ thống”, tiến sĩ Tuấn đề xuất.
“Nước ta hướng tới mục tiêu đó là tốt; tuy nhiên tỷ lệ GV có trình độ tiến sĩ của nước ta hiện nay rất thấp. Do đó Bộ cần phải có lộ trình phù hợp cho các trường để nâng chuẩn trình độ GV, thực hiện ngay sẽ rất phi thực tế. Lộ trình này có thể 5 – 7 năm là phù hợp; hoặc đến năm 2035 là hợp lý nhất”, tiến sĩ Trần Hữu Duy nhìn nhận.
Theo thông tin từ Sở GD-ĐT TP.HCM, dự kiến ngày 15.4 sẽ công bố chỉ tiêu tuyển sinh lớp 10 năm học 2026-2027. Sau đó, học sinh lớp 9 sẽ có 7 ngày (từ ngày 22-28.4) để đăng ký nguyện vọng vào các trường THPT.
Cụ thể, thí sinh được đăng ký 3 nguyện vọng vào lớp 10 ở các trường THPT bình thường, 2 nguyện vọng vào lớp 10 chuyên và 3 nguyện vọng vào lớp 10 chương trình tiếng Anh tích hợp.
Để chọn nguyện vọng lớp 10 chính xác, theo tư vấn của cán bộ Phòng Quản lý chất lượng Sở GD-ĐT TP.HCM, điều đầu tiên học sinh cần làm là tự đánh giá năng lực học tập của mình thông qua kết quả các môn toán, ngữ văn và ngoại ngữ.
Chuyên viên Phòng Quản lý chất lượng Sở GD-ĐT nêu cách tính đơn giản để học sinh tự ước lượng khả năng trúng tuyển: Lấy điểm trung bình học kỳ và điểm thi học kỳ của từng môn toán, văn, ngoại ngữ cộng lại rồi chia đôi. Sau đó cộng tổng điểm của 3 môn này để so sánh với điểm chuẩn của các trường THPT công lập trong năm trước.
Dựa vào điểm trung bình, học sinh có thể phân loại các trường thành 3 nhóm: tốp 1 (khoảng 8 điểm trở lên), tốp 2 (khoảng 7 điểm) và tốp 3 (khoảng 6 điểm trở xuống). Việc phân loại này giúp học sinh xác định rõ mức độ phù hợp, từ đó tăng khả năng trúng tuyển.
Ngoài năng lực, học sinh cũng nên cân nhắc các yếu tố khác như vị trí địa lý. Chọn trường gần nhà sẽ thuận tiện cho việc đi lại, đảm bảo sức khỏe và tinh thần ổn định. Đồng thời, học sinh cần tìm hiểu kỹ tổ hợp môn mà các trường dự kiến triển khai theo Chương trình GDPT 2018, để đảm bảo phù hợp với định hướng nghề nghiệp và sở thích cá nhân.
Báo Thanh Niên thống kê, so sánh độ chênh lệch điểm chuẩn của 109 trường THPT tại khu vực 1 (TP.HCM cũ) để phụ huynh học sinh tham khảo chuẩn bị cho việc đăng ký nguyện vọng lớp 10 cho con em sao cho phù hợp năng lực, theo định hướng nghề nghiệp.
Mức tăng, giảm điểm chuẩn lớp 10 của các trường THPT năm 2024, 2025
Bên cạnh đó phụ huynh học sinh khu vực 2 (Bình Dương cũ) và khu vực 3 (Bà Rịa-Vũng Tàu cũ) có thể tham khảo điểm chuẩn lớp 10 năm học 2025-2026 của các trường THPT đóng trên địa bàn như sau:
Kỳ thi tuyển sinh lớp 10 năm học 2026-2027 của TP.HCM sẽ diễn ra vào ngày 1-2.6, thí sinh sẽ dự thi 3 môn gồm: Toán, ngữ văn (thời gian làm bài 120 phút/môn), ngoại ngữ (90 phút) nếu dự thi lớp 10 thường và bài thi môn chuyên hoặc tích hợp nếu dự thi lớp 10 chuyên hoặc tích hợp.
Theo Sở GD-ĐT TP.HCM, hiện TP.HCM đang xây dựng chỉ tiêu tuyển sinh lớp 10 năm học 2026-2027 căn cứ trên đề xuất và điều kiện cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên của từng trường. Năm nay là năm đầu tiên TP.HCM tuyển sinh lớp 10 sau khi sáp nhập với Bình Dương và Bà Rịa-Vũng Tàu cũ.
Phụ huynh học sinh có thể tham khảo những trường có chỉ tiêu tuyển sinh cao nhất ở từng khu vực trong năm học 2025-2026 để chuẩn bị cho việc đăng ký nguyện vọng lớp 10 năm học 2026-2027 cho con em thời gian tới TẠI ĐÂY.
Công văn 3175/BGDĐT-GDTrH năm 2022 hướng dẫn: "Trong đánh giá kết quả học tập cuối học kỳ, cuối năm học, cuối cấp học, tránh dùng lại các văn bản đã học trong sách giáo khoa làm ngữ liệu xây dựng các đề kiểm tra đọc hiểu và viết để đánh giá chính xác năng lực học sinh, khắc phục tình trạng học sinh chỉ học thuộc bài hoặc sao chép nội dung tài liệu có sẵn". Thế nhưng, văn mẫu vẫn tồn tại do nhiều nguyên nhân.
Giữa hướng dẫn và thực tế vẫn còn khoảng cách
Công văn 3715 khuyến khích việc xây dựng và sử dụng các đề mở trong kiểm tra, đánh giá để phát huy cao nhất khả năng sáng tạo của học sinh. Xây dựng bộ công cụ đánh giá để hạn chế tính chủ quan, cảm tính của người chấm. Khi nhận xét, đánh giá các sản phẩm của học sinh, cần tôn trọng và khuyến khích cách nghĩ, cách cảm riêng của học sinh trên nguyên tắc không vi phạm những chuẩn mực đạo đức, văn hóa và pháp luật.
Tuy nhiên, cách dạy, cách ra đề kiểm tra, đề thi hiện nay vẫn chưa thực sự hướng đến phát huy phẩm chất, năng lực của người học. Phần nhiều kiến thức trong đề kiểm tra, đề thi môn ngữ văn vẫn thiên về tái hiện kiến thức như chương trình cũ.
Các hướng dẫn chấm bài kiểm tra, bài thi vẫn nặng nề theo đáp án. Nghĩa là học sinh làm khác đáp án của thầy cô khó đạt được điểm cao. Những lệnh đề, như: "theo em"; "em hãy trình bày suy nghĩ của mình" nhưng đáp án chấm lại cứ bám sát "theo thầy".
Công văn 3175 yêu cầu: "tránh dùng lại các văn bản đã học trong sách giáo khoa làm ngữ liệu xây dựng các đề kiểm tra đọc hiểu và viết" nhưng giáo viên ở nhiều trường học hiện nay vừa làm theo hướng dẫn nhưng vừa sợ. Mặc dù tuân thủ không lấy ngữ liệu trong sách giáo khoa để ra đề nhưng lại giới hạn một vài tác phẩm, một vài đề cụ thể trước khi kiểm tra thường xuyên, định kỳ để học sinh chuẩn bị trước.
Trước khi kiểm tra, một số thầy cô dạy chính khóa sẽ "ôn" khá kỹ cho học trò từ những tác phẩm văn học, hoặc các dạng đề đã được giới hạn. Ngoài ra, các em còn "chuẩn bị" bằng hình thức nhờ ChatGPT; Gemini; Roboki…hoặc thầy cô dạy thêm làm hộ. Vì thế, nhiều học sinh học thuộc bài mẫu, khi kiểm tra chỉ "tái hiện" lại những gì đã được ôn, hoặc đã chuẩn bị.
Vì thế, khi chấm bài định kỳ, mặc dù là nhà trường xếp học sinh ngồi theo thứ tự A, B, C, cắt phách bài kiểm tra nhưng đa phần các bài văn na ná như nhau. Gần với đáp án/hướng dẫn chấm của thầy cô.
Cho dù chương trình mới khuyến khích sáng tạo nhưng việc kiểm tra hiện nay vẫn nặng tính khuôn mẫu. Không ít đề kiểm tra, đề thi ngữ văn vẫn thiên về "đúng ý", "đủ ý". Điều này khiến học sinh tin rằng càng giống đáp án càng dễ đạt điểm cao. Khi đó, văn mẫu trở thành con đường ngắn nhất để lấy điểm.
Ngoài ra, hiện nay giáo viên chịu áp lực về tỷ lệ học lực của học sinh do nhà trường, tổ chuyên môn giao ở đầu năm học. Bên cạnh đó, kết quả thi tuyển sinh, thi tốt nghiệp cũng là một trong những tiêu chí đánh giá, xếp loại giáo viên.
Nếu không đạt chỉ tiêu, chất lượng giảng dạy không "bằng hoặc cao hơn năm trước" thì về cơ bản giáo viên không được xét thi đua các danh hiệu từ Chiến sĩ thi đua cơ sở trở lên; không đủ điều kiện để xét viên chức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Trong khi, những danh hiệu, xếp loại viên chức hằng năm gắn liền với quyền lợi, danh dự của giáo viên.
Vì vậy, nhiều thầy cô buộc phải cho học sinh luyện theo "khung", "dàn ý chuẩn", thậm chí cung cấp bài mẫu để học sinh dễ đạt điểm hơn.
Chưa kể, một bộ phận học sinh ngày nay rất ít đọc sách, báo, vốn từ khá ít ỏi. Một số em thiếu vốn từ, thiếu trải nghiệm sống và khả năng diễn đạt nên thường chọn cách học thuộc bài mẫu để "an toàn". Với những em học lực bình thường thì văn mẫu trở thành chiếc "phao cứu sinh" để hướng đến điểm trung bình (đạt).
Hiện nay, chỉ cần tìm kiếm vài giây là có hàng trăm bài văn mẫu trên các website học tập khiến việc sao chép trở nên quá dễ dàng. Bên cạnh đó, AI (trí tuệ nhân tạo) sử dụng khá phổ biên, chỉ cần câu lệnh là có bài văn hoàn chỉnh. Một khi nguồn cung lớn thì nhu cầu sử dụng cũng tăng theo.
Chúng ta đều biết, một khi văn mẫu thành "văn chép" cũng đồng nghĩa học sinh mất khả năng suy nghĩ độc lập, bài viết thiếu cảm xúc thật và ngày càng ngại sáng tạo.
Muốn văn mẫu bớt "đất sống" thì việc đầu tiên hội đồng cốt cán môn ngữ văn ở các địa phương, các thầy cô giáo cần phải đổi mới cách ra đề và chấm điểm. Thầy cô cần tôn trọng sự khác biệt trong bài viết, khuyến khích trải nghiệm cá nhân, dạy học sinh cách viết từ suy nghĩ thật của mình thay vì học thuộc.
Bên cạnh đó, thầy cô dạy ngữ văn cần hướng cho học sinh trau dồi vốn từ, thường xuyên đọc sách, khuyến khích những em viết hay, viết có cảm xúc.
Đặc biệt, các tiêu chí xét thi đua, đánh giá viên chức cuối năm cũng cần được nghiên cứu thấu đáo, tránh tình trạng chất lượng giáo dục cuối năm phải "bằng hoặc cao hơn năm trước" mới được xét danh hiệu cá nhân, tập thể. Xét thi đua, đánh giá, xếp loại viên chức cần hướng đến tính minh bạch, sự nỗ lực của từng giáo viên chứ không nhất thiết phải ràng buộc chất lượng giáo dục.
Ranh giới giữa chất lượng thật và thành tích rất mỏng manh. Một bộ phận giáo viên làm thật thì không được xét thi đua, bị nhắc nhở, phê bình. Từ đó, có tình trạng giáo viên phải tìm cách để "nâng" chất lượng giảng dạy của mình.
Cơ quan Giáo dục New Zealand (ENZ) vừa chính thức công bố tiếp tục triển khai chương trình Học bổng Chính phủ New Zealand bậc đại học (NZUA) dành riêng cho học sinh Việt Nam với 15 suất cho năm 2026.
Được Thủ tướng New Zealand Christopher Luxon công bố lần đầu vào năm 2025 trong chuyến viếng thăm chính thức đến Việt Nam, chương trình Học bổng Chính phủ New Zealand bậc đại học (NZUA) đã trao các suất học bổng cho thế hệ sinh viên Việt Nam đầu tiên vào cuối năm 2025.
Năm 2026, chương trình nâng số suất học bổng lên 15 suất, với tổng giá trị gần 3,4 tỉ đồng, đồng thời tiếp tục mở rộng cơ hội tiếp cận cho học sinh Việt Nam thông qua cơ chế ứng tuyển sáng tạo và linh hoạt.
Học bổng NZUA 2026 chính thức nhận hồ sơ ứng tuyển trực tuyến từ ngày 15-4 đến hết ngày 12-7. Kết quả học bổng dự kiến được công bố vào đầu tháng 9-2026. Lễ vinh danh và trao chứng nhận học bổng sẽ được tổ chức vào tháng 10-2026.
Thông tin chi tiết về học bổng được đăng tải tại website chính thức: https://hocbongnzua.com/
ENZ cho biết học bổng dành riêng cho học sinh Việt Nam, NZUA mang đến lợi thế rõ rệt khi ứng viên Việt Nam không cần phải cạnh tranh với các thí sinh từ các quốc gia khác, đồng thời có thể ứng tuyển vào tất cả các ngành học ở bậc cử nhân của các đại học tại New Zealand.
Các suất học bổng NZUA được phân bổ cụ thể như sau: Đại học Auckland (2 suất), Đại học Waikato (3 suất), Đại học Massey (3 suất), Đại học Lincoln (3 suất), Đại học Canterbury (2 suất), Đại học Otago (2 suất). Mỗi suất học bổng trị giá 15.000 đô la New Zealand, áp dụng cho năm học đầu tiên trong chương trình cử nhân.
Bên cạnh đó, phần lớn các đại học thuộc chương trình NZUA 2026 còn cho phép sinh viên Việt Nam ứng tuyển thêm các học bổng riêng của trường và có thể cộng gộp giá trị học bổng NZUA và học bổng riêng của trường.
Chương trình NZUA 2026 tiếp tục duy trì hình thức nộp hồ sơ hoàn toàn trực tuyến, giúp giảm thiểu rào cản địa lý và chi phí, đồng thời mở rộng cơ hội tiếp cận trên toàn quốc.
Ngoài bảng điểm, chứng chỉ tiếng Anh, thư mời nhập học từ đại học New Zealand, ứng viên thể hiện bản sắc, sự sáng tạo và năng lực cá nhân qua video 90 giây để chinh phục ban giám khảo.
Ứng viên cần đạt trình độ tiếng Anh tương đương IELTS 7.0, nhưng không bắt buộc điểm tối thiểu cho từng kỹ năng. Thay đổi này mở rộng cánh cửa cho những học sinh có năng lực học thuật tốt nhưng chưa đồng đều giữa các kỹ năng ngôn ngữ vẫn có thể tự tin ứng tuyển.
Các trường đại học New Zealand cũng chủ động tạo điều kiện cho học sinh Việt Nam thuận tiện xin thư mời nhập học.
Phần lớn các đại học New Zealand cho phép học sinh Việt Nam nộp đơn xin nhập học ngay khi có kết quả lớp 12 mà không cần phải đợi đến khi có chứng nhận tốt nghiệp phổ thông trung học quốc gia, hoặc nộp đơn ngay khi có điểm dự đoán nếu theo học chương trình IB hoặc A-level mà không cần phải đợi kết quả chính thức.
Ông Ben Burrowes, Giám đốc khu vực châu Á của ENZ, nhấn mạnh: "Chúng tôi luôn chủ động điều chỉnh quy trình ứng tuyển để học bổng NZUA trở nên gần gũi và thực tế hơn với học sinh Việt Nam. Sự tham gia tích cực của các trường đại học với cơ chế học bổng kép thể hiện rõ mong muốn của New Zealand trong việc chào đón các học sinh Việt Nam tài năng".