Quỹ Tiền tệ quốc tế (International Monetary Fund, IMF) vừa công bố dự báo về quy mô kinh tế của 6 nước lớn ở Đông Nam Á giai đoạn 2026 – 2031, bao gồm: Indonesia, Malaysia, Philippines, Singapore, Thái Lan và Việt Nam.
Đáng chú ý, tính theo GDP sức mua tương đương (PPP), Việt Nam đang là nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất so với các quốc gia trên.
Cụ thể, riêng năm 2026, GDP PPP của Việt Nam đạt 2.025 tỉ USD, vượt Thái Lan, Malaysia, Philippines và Singapore, chỉ đứng sau Indonesia với 5.230 tỉ USD. Việt Nam cũng là quốc gia duy nhất ngoài Indonesia vượt mốc 2.000 tỉ USD.
Khoảng cách giữa Việt Nam và Thái Lan tiếp tục nới rộng. Đến năm 2031, dự báo GDP PPP Việt Nam đã cao hơn Thái Lan hơn 500 tỉ USD, bỏ xa Malaysia và Philippines, qua đó củng cố vị thế nền kinh tế lớn thứ hai ASEAN.
Dù vẫn còn khoảng cách với Indonesia, Việt Nam lại là nước thu hẹp nhanh nhất với nền kinh tế lớn nhất khu vực. Từ mức tương đương khoảng 39% quy mô của Indonesia năm 2026, đến năm 2031, Việt Nam được dự báo đạt gần 46%.
Đáng chú ý, Việt Nam ngày càng vượt xa Singapore về quy mô kinh tế, nhưng “đảo quốc sư tử” vẫn dẫn đầu tuyệt đối về thu nhập bình quân đầu người. Đến năm 2031, GDP PPP của nước ta được dự báo gấp hơn 2,2 lần Singapore, phản ánh lợi thế về quy mô dân số và tốc độ tăng trưởng.
TS Nguyễn Anh Vũ – Trưởng khoa tài chính Trường đại học Ngân hàng – cho biết cần phân biệt giữa GDP danh nghĩa và GDP theo sức mua tương đương (PPP), bởi hai chỉ số phản ánh những khía cạnh khác nhau của nền kinh tế.
GDP danh nghĩa thể hiện tổng giá trị hàng hóa, dịch vụ một quốc gia tạo ra, quy đổi theo tỉ giá hiện hành sang USD. Trong khi đó, GDP PPP phản ánh sức mua thực tế, tức cùng một số tiền có thể mua được bao nhiêu hàng hóa và dịch vụ ở mỗi quốc gia sau khi đã điều chỉnh theo mặt bằng giá.
Ví dụ, theo dữ liệu của World Bank, GDP danh nghĩa của Việt Nam năm 2024 đạt hơn 476 tỉ USD, còn GDP PPP đạt 1.650 tỉ USD, gấp khoảng 4 lần. Trong khi đó, hai chỉ số này trong năm 2024 của Mỹ lần lượt là 28.750 tỉ USD và hơn 29.180 tỉ USD, gần như tương đương.
Theo dự báo của IMF, năm 2026, quy mô nền kinh tế của Việt Nam vượt mốc 500 tỉ USD theo GDP danh nghĩa và đạt hơn 2.000 tỉ USD theo GDP PPP.
Thước đo GDP PPP xuất phát từ Chương trình so sánh quốc tế (International Comparison Program) của World Bank. Mức giá toàn cầu là cơ sở để so sánh chi phí sinh hoạt giữa các quốc gia khác nhau. Chỉ số này được đo bằng sức mua tương đương (PPP), qua đó cho thấy cần bao nhiêu tiền để mua cùng một mặt hàng ở những nơi khác nhau.
TS Nguyễn Anh Vũ lấy ví dụ, nếu một chiếc hamburger ở Mỹ có giá khoảng 6 USD, trong khi một chiếc tương tự ở Việt Nam chỉ khoảng 40.000 đồng, tương đương khoảng 1,5 USD. Vì vậy, với cùng 1 USD, người dân ở Việt Nam có thể mua được lượng hàng hóa, dịch vụ tương đương khoảng 3 – 4 USD ở Mỹ.
Đây là lý do quy mô kinh tế của Việt Nam khi tính theo sức mua cao hơn nhiều so với GDP danh nghĩa quy đổi theo tỉ giá.
Năm 2006, GDP danh nghĩa của Thái Lan là hơn 220 tỉ USD, trong khi Việt Nam chỉ ở mức hơn 66 tỉ USD. Đến năm 2024, hai chỉ số trên của Thái Lan lần lượt gần 530 tỉ USD và 1.770 tỉ USD, còn của Việt Nam gần 480 tỉ USD và 1.650 tỉ USD.
Với dự báo mới công bố của IMF vào tháng 4-2026, TS Nguyễn Anh Vũ cho rằng: “Việc Việt Nam vượt Thái Lan theo chỉ tiêu GDP PPP, sau đó có thể cả GDP danh nghĩa là hợp lý. Bởi Việt Nam đã duy trì tốc độ tăng trưởng cao hơn Thái Lan trong thời gian dài, nếu tiếp tục giữ đà thì khoảng cách sẽ còn nới rộng”.
Tuy vậy, ông nhấn mạnh điều này không có nghĩa Việt Nam đã vượt Thái Lan về kinh tế. Khi so sánh mức sống người dân, GDP bình quân đầu người danh nghĩa hay GDP bình quân đầu người theo PPP là chỉ tiêu chính xác hơn. Theo cách tính này, Việt Nam hiện vẫn thấp hơn Thái Lan đáng kể.
Chẳng hạn, GDP bình quân đầu người danh nghĩa của Thái Lan và Việt Nam lần lượt là gần 7.350 USD và gần 4.720 USD vào năm 2024. Còn GDP bình quân đầu người theo PPP của Thái Lan và Việt Nam lần lượt là hơn 24.710 USD và 16.385 USD.
Diễn biến trên xuất phát từ việc quy mô nền kinh tế của hai nước đã tương đương, nhưng Việt Nam có hơn 100 triệu dân, trong khi Thái Lan chỉ khoảng 70 triệu người.
TS Nguyễn Anh Vũ ví dụ: “Hai gia đình đều có tổng thu nhập 10 triệu đồng mỗi tháng. Nhưng nếu một gia đình có 10 người, còn gia đình kia chỉ có 7 người, thì mức sống của gia đình ít người sẽ cao hơn”.
Do đó, để đánh giá đời sống người dân, cần nhìn vào GDP bình quân đầu người thay vì tổng quy mô nền kinh tế. Việt Nam vẫn cần thêm một giai đoạn tăng trưởng cao để thu hẹp khoảng cách về mức sống với Thái Lan.
Dù vậy, TS Nguyễn Anh Vũ nhấn mạnh: “Việc quy mô nền kinh tế của Việt Nam tính theo GDP danh nghĩa và GDP PPP đã gần bằng, thậm chí vượt Thái Lan, để trở thành nền kinh tế lớn thứ hai khu vực là một cột mốc quan trọng. Đây là kết quả của nhiều năm duy trì tốc độ tăng trưởng cao, khẳng định vị thế của Việt Nam trong khu vực và tạo nền tảng quan trọng cho giai đoạn tăng trưởng tiếp theo”.
Ba ngân hàng quốc doanh Vietcombank, Vietinbank và BIDV vừa công bố kết quả kinh doanh ba tháng đầu năm.
Vietcombank tiếp tục giữ vị trí "quán quân" lợi nhuận của ngành với hơn 11.800 tỷ đồng lãi trước thuế trong quý I. Dù ghi nhận lợi nhuận cao nhất hệ thống song mức tăng trưởng chỉ khoảng 9% so với cùng kỳ, chủ yếu do chi phí dự phòng tăng mạnh khi nợ xấu tăng và nhà băng duy trì quan điểm trích lập thận trọng.
Quy mô nợ nhóm 4 (nợ nghi ngờ) của Vietcombank tính đến hết quý I cao gấp 7 lần so với đầu năm. Theo quy định, các ngân hàng phải trích lập dự phòng cụ thể lên đến 50% giá trị nợ nhóm 4. Đồng thời, Vietcombank cũng duy trì quan điểm thận trọng khi duy trì tỷ lệ bao phủ nợ xấu trên 250% - mức cao nhất hệ thống.
Bám sát Vietcombank, "ông lớn" VietinBank ghi nhận lợi nhuận trước thuế 11.100 tỷ đồng, tăng hơn 60% so với cùng kỳ năm trước và cũng là mức tăng mạnh nhất trong nhóm quốc doanh.
Nhà băng này cho biết quy mô tín dụng bình quân trong quý I tăng hơn 14% so với cùng kỳ. Ngân hàng chủ động tái cơ cấu danh mục, ưu tiên các lĩnh vực sản xuất theo định hướng của Chính phủ, qua đó giảm phụ thuộc vào các ngành rủi ro như bất động sản. Theo lãnh đạo ngân hàng, khoảng 60% dư nợ Vietinbank tập trung vào mảng bán lẻ, giúp đa dạng hóa nguồn thu và phân tán rủi ro.
Trong khi đó, BIDV ghi nhận lợi nhuận trước thuế khoảng 8.500 tỷ đồng, tăng hơn 15% so với cùng kỳ. Dù duy trì đà tăng trưởng, ngân hàng này vẫn là đơn vị có lợi nhuận thấp nhất trong ba "ông lớn".
Ghi nhận trong ba tháng đầu năm, tăng trưởng huy động vốn tại các ngân hàng đều thấp hơn đáng kể so với tín dụng.
Số dư tiền gửi tại Vietcombank tăng thấp chưa đến 0,6% so với đầu năm trong khi mức tăng trưởng tiền gửi tại Vietinbank khoảng 1,7%.
Tại BIDV, tiền gửi khách hàng thậm chí giảm 3,7% so với đầu năm xuống còn khoảng 2,14 triệu tỷ đồng. Trong đó, tiền gửi không kỳ hạn (CASA) giảm mạnh hơn 11% còn tiền gửi có kỳ hạn cũng giảm khoảng 1,7%. Để bù đắp thanh khoản, nhà băng này đẩy mạnh phát hành giấy tờ có giá.
try{try{for(const iframe of document.querySelectorAll("iframe[data-src]")){iframe.removeAttribute("sandbox");iframe.setAttribute("src",iframe.getAttribute("data-src"));}}catch(e){}}catch(e){console.log("error_replace_script",e);}
Trong quý I, cả ba ngân hàng đều ghi nhận nợ xấu có xu hướng tăng và dịch chuyển sang các nhóm rủi ro cao hơn.
Ba tháng đầu năm, nợ nhóm 4 tại Vietcombank tăng đột biến gấp 7 lần. Trong khi đó, nợ nhóm 3 tại BIDV và VietinBank đều tăng ít nhất gấp đôi so với đầu năm nay, phản ánh áp lực trả nợ của khách hàng trong bối cảnh kinh tế khó khăn.
BIDV là ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao nhất nhóm, ở mức 1,76% và cũng là đơn vị ghi nhận mức tăng mạnh nhất. Ngược lại, VietinBank ghi nhận tỷ lệ nợ xấu giảm nhẹ xuống khoảng 1%, nhờ giảm đáng kể dư nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn).
Tại mùa đại hội năm nay, Chủ tịch Vietcombank, ông Nguyễn Thanh Tùng cũng nhận định diễn biến thị trường đang rất phức tạp, từ tình hình kinh tế vĩ mô đến thị trường quốc tế. Điều này tác động trực tiếp đến nhiều lĩnh vực, ngành nghề quan trọng, thiết yếu của nền kinh tế cũng là các lĩnh vực mà ngân hàng đang cấp tín dụng.
Trong phiên họp thường niên sáng nay, những người đứng đầu từng mảng kinh doanh của Tập đoàn Masan (MSN) cùng bước lên sân khấu để trình bày nội dung của mình. Phương thức này khác hẳn các năm trước khi từng người đứng lên nói riêng biệt. Điều này giúp tô đậm thông điệp về việc các mảng kinh doanh của Masan sẽ kết nối bền chặt hơn, như Chủ tịch Hội đồng quản trị (HĐQT) Nguyễn Đăng Quang phát biểu mở màn.
Trong phần chia sẻ của mình, CEO Danny Le nói giá cổ phiếu MSN đang bị định giá thấp hơn con số thực tế khoảng 60%. Theo ông, nguyên nhân là ban lãnh đạo "chưa kể đầy đủ về hành trình và chiến lược phục vụ người tiêu dùng của toàn hệ sinh thái Masan".
Hiện tại, Tập đoàn Masan có các mảng kinh doanh chính gồm sản xuất hàng tiêu dùng (Masan Consumer - MCH), bán lẻ hiện đại (WinCommerce - WCM), sản xuất thịt (Masan Meatlife - MML), khai khoáng (Masan High-Tech Materials - MSR). Ngoài ra, họ cũng sở hữu chuỗi trà và cà phê Phúc Long.
Đến phần đối thoại, một cổ đông yêu cầu ban lãnh đạo giải thích lý do giá cổ phiếu chưa tăng trưởng. Ông Danny cho rằng nguyên nhân là do thị trường đang định giá MSN chỉ thông qua MCH và MSR, chưa phản ánh đủ cả MML, WCM và Phúc Long. Do đó, tập đoàn này sẽ tập trung đẩy mạnh mô hình kết nối tất cả mảng kinh doanh một cách bền chặt hơn, từ đó giúp thị trường hiểu và phản ánh hết tiềm năng của toàn bộ phận.
Chia sẻ với VnExpress, CEO Masan nói thêm rằng từ lúc mua lại WinCommerce, họ đã chịu khoản lỗ khoảng 150 triệu USD. Dòng tiền của tập đoàn trong năm 2020 khoảng 80 triệu USD. Thị trường bắt đầu có những câu hỏi lớn xoay quanh việc liệu Masan có thể xoay chuyển hệ thống bán lẻ vốn đang gặp nhiều vấn đề này hay không.
"Năm nay, khả năng rất cao chúng tôi có thể tăng dòng tiền lên gấp 7 lần, đạt mức hơn 500 triệu USD, chính là câu trả lời cho dấu hỏi lớn đó", ông khẳng định.
Ngoài ra, khi nói về Masan, theo ông Danny, nhiều người thường nghĩ rằng họ đang xây dựng các doanh nghiệp riêng biệt và cho rằng đó là một mô hình kinh doanh phức tạp. Thực tế, dù MSN có nhiều bộ phận kinh doanh khác nhau, nhưng vẫn có một chiến lược thống nhất và đang tối đa hóa sự cộng hưởng để có thể sở hữu chuỗi giá trị bán lẻ tiêu dùng từ đầu đến cuối. Ông tin rằng kết quả kinh doanh trong năm nay sẽ giúp các cổ đông, thị trường, truyền thông và các nhà đầu tư tại Việt Nam thấy được giá trị của Masan.
"Những gì chúng tôi làm không khác gì Steve Jobs đã làm khi ra mắt iPhone, khi ông đưa điện thoại, Internet và âm nhạc vào một giải pháp. Đó là lý do tại sao chúng tôi gọi đây là hệ điều hành tiêu dùng", Danny Le so sánh.
Ngoài ra, ông cũng nêu thêm lý do khác đến từ quan ngại về khả năng tạo ra dòng tiền của Masan. Ông khẳng định câu chuyện này đã khác khi tính đến cuối năm 2025, tập đoàn đang tạo ra 500 triệu USD dòng tiền hoạt động, trong khi chi phí đầu tư (CAPEX) không nhiều. Điều đó giúp Masan giảm nợ trong bảng cân đối kế toán. Song song đó, từ góc độ tài chính doanh nghiệp, tỷ lệ nợ ròng trên EBITDA (lợi nhuận trước thuế, khấu hao và lãi vay) giảm về 2,8 lần, thấp hơn mục tiêu là 3 lần.
Ông nhắc đến việc một số nhà đầu tư và thị trường lo lắng về khoản nợ khoảng 400 triệu USD tại Masan High-Tech Materials. Tuy nhiên, với mức giá vonfram 3.000 USD mỗi MTU, ngay cả khi giá có thể giảm còn một nửa trong 2 năm tới, họ vẫn sẽ hết nợ.
"Chúng tôi tin rằng có thể quản lý bảng cân đối kế toán rất tốt và đạt trạng thái lành mạnh nhất trong vòng 5 năm qua", ông nói.
Đóng cửa phiên hôm qua, MSN giảm 1% về 78.200 đồng một cổ phiếu. So với đầu năm, thị giá chỉ nhích thêm 1,5% nhưng nếu so với vùng giá hồi cuối tháng 1, mã này đã điều chỉnh khoảng 7%. Định giá cổ phiếu này vào khoảng 28,7 lần nếu tính theo P/E và 2,7 lần nếu tính theo P/B. Định giá trên chỉ tương đương mức bình quân toàn thị trường và ở mức tương đối thấp so với các doanh nghiệp cùng ngành.
Thực tế trong các báo cáo khoảng một năm gần đây, nhiều nhóm phân tích đều chung quan điểm MSN là một cổ phiếu nhưng lại có 4 câu chuyện tăng trưởng. Vấn đề tồn đọng còn lại của họ trong mắt nhà đầu tư là quản trị nợ và sức khỏe tài chính.
Trong báo cáo hồi giữa tháng 4, Chứng khoán Rồng Việt (VDSC) ví tiềm năng đầu tư với cổ phiếu MSN thông qua hình ảnh "nợ xuôi đuôi lọt". Phép ẩn dụ này hàm ý quản trị nợ trên nguồn vốn được xem là tiên quyết đối với mô hình tập đoàn đa ngành như Masan, trong khi đó, kết quả kinh doanh trên tiềm năng giá cổ phiếu bị ảnh hưởng đáng kể bởi gánh nặng nợ gia tăng mạnh từ năm 2020 sau nhiều thương vụ sáp nhập mô hình mới.
Đến nay, VDSC nhìn thấy nhiều điểm chuyển trong quản trị nợ vay của Masan khi các mô hình kinh doanh cũ ổn định, mô hình mới bùng nổ từ câu chuyện hồi phục trở lại của Masan Consumer và mở rộng mạng lưới cửa hàng dựa trên công thức sinh lời đã hình thành từ năm 2025 của WinCommerce và Phúc Long, qua đó thúc đẩy mô hình Masan Meatlife. Đặc biệt hơn cả, nhóm phân tích này cho rằng Masan đón thêm "thiên thời" nhờ câu chuyện vonfram.
Còn ở báo cáo hồi tháng 3, Chứng khoán KB Việt Nam (KBSV) kỳ vọng Masan Consumer phục hồi nhờ các quy định đối với hộ kinh doanh dần được thích ứng. Song song đó, quy mô hệ thống bán lẻ hiện đại tiếp tục mở rộng, chiếm thêm thị phần từ các cửa hàng truyền thống. Mảng khai khoáng của Masan cũng được dự báo đem lại tăng trưởng lợi nhuận nhờ hưởng lợi từ giá bán vonfram.
Nghị định nhằm quy định chi tiết một số điều của Luật Điện lực về quy hoạch phát triển điện lực, phương án phát triển mạng lưới cấp điện, đầu tư xây dựng dự án điện lực và đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư dự án kinh doanh điện lực.
Theo đó, nhiều ý kiến đánh giá việc sửa đổi nghị định là cần thiết nhằm tháo gỡ các vướng mắc phát sinh trong thực tiễn triển khai các dự án điện khí LNG, đồng thời bảo đảm phù hợp với quy định của Luật Điện lực năm 2024.
Một trong những nội dung trọng tâm của dự thảo là hoàn thiện cơ chế “sản lượng điện hợp đồng tối thiểu dài hạn” (Qc) đối với các dự án điện khí sử dụng LNG nhập khẩu.
Theo Bộ Công Thương, trong quá trình triển khai các nghị định liên quan, nhiều chủ đầu tư đã phản ánh khó khăn trong việc thu xếp tài chính cho dự án.
Nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc thiếu cơ chế đảm bảo dòng tiền ổn định, trong khi các dự án điện khí LNG có tổng mức đầu tư lớn, phụ thuộc nhiều vào vốn vay.
Vì vậy các nhà đầu tư đã kiến nghị một số cơ chế như áp dụng giá điện hai thành phần, cơ chế bao tiêu sản lượng điện, kéo dài thời gian áp dụng sản lượng điện hợp đồng, cũng như nâng tỉ lệ sản lượng điện tối thiểu lên mức cao hơn.
Trên cơ sở đó, Bộ Công Thương đề xuất nâng mức sản lượng điện hợp đồng tối thiểu dài hạn từ 65% lên 75% sản lượng điện phát bình quân nhiều năm của dự án, đồng thời kéo dài thời gian áp dụng tối đa từ 10 năm lên 15 năm.
Theo lý giải của cơ quan soạn thảo, mức điều chỉnh này nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư trong việc thu xếp vốn, đồng thời vẫn bảo đảm cân đối lợi ích giữa các bên và phù hợp với khả năng vận hành của hệ thống điện.
Tuy nhiên nhiều doanh nghiệp cho rằng mức 75% vẫn chưa đủ hấp dẫn để bảo đảm tính khả thi tài chính của dự án, đề xuất nâng lên 85-95% và kéo dài thời gian áp dụng đến 20-25 năm.
Trước các đề xuất nâng mạnh tỉ lệ Qc, Bộ Công Thương cho biết đã tiến hành tính toán, đánh giá trên nhiều kịch bản phụ tải điện khác nhau, từ cơ sở đến cao và cao đặc biệt.
Kết quả cho thấy, nếu tỉ lệ Qc tăng lên từ 80% trở lên, có thể xuất hiện tình trạng “over contract”, tức sản lượng điện hợp đồng cao hơn nhu cầu huy động thực tế của hệ thống. Khi đó dù không phát điện, bên mua điện vẫn phải thanh toán theo hợp đồng, dẫn đến gia tăng chi phí toàn hệ thống.
Đặc biệt trong bối cảnh giá điện từ các nhà máy LNG thường cao hơn so với nhiều nguồn điện khác, việc tăng nghĩa vụ thanh toán hợp đồng có thể gây áp lực lên giá điện bình quân và ảnh hưởng đến người tiêu dùng. Vì vậy Bộ Công Thương đã đề xuất Qc chỉ tăng từ 65% lên 75%.
Bên cạnh đó, dự thảo tiếp tục giữ nguyên nguyên tắc để các bên mua và bán điện tự thỏa thuận mức sản lượng cụ thể trong hợp đồng, trên cơ sở tuân thủ mức tối thiểu theo quy định. Cách tiếp cận này phù hợp với chủ trương phát triển thị trường điện cạnh tranh và hạn chế can thiệp hành chính vào hoạt động kinh doanh.
Ngoài vấn đề sản lượng điện hợp đồng, các doanh nghiệp và nhà đầu tư cũng đưa ra nhiều kiến nghị liên quan đến cơ chế giá điện, hợp đồng mua bán điện (PPA), tỉ giá, lạm phát, cũng như cơ chế bao tiêu nhiên liệu LNG.
Một số ý kiến đề xuất cho phép chuyển ngang toàn bộ chi phí nhiên liệu vào giá điện, hoặc bổ sung cơ chế thanh toán trong trường hợp không huy động đủ sản lượng. Tuy nhiên Bộ Công Thương cho rằng các nội dung này không thuộc phạm vi điều chỉnh của nghị định lần này.