Theo Cục Thống kê, trong tháng 4/2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 94,32 tỷ USD, tăng 0,8% so với tháng trước và tăng 26,7% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung 4 tháng, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa ước đạt 344,17 tỷ USD, tăng 24,2% so với cùng kỳ năm trước, trong đó xuất khẩu tăng 19,7%; nhập khẩu tăng 28,7% . Cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 7,11 tỷ USD.
Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tháng 4 ước đạt 45,52 tỷ USD, giảm 2,0% so với tháng trước. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa tăng 21,0%, trong đó khu vực kinh tế trong nước giảm 4,2%, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) tăng 29,2%.
Tính chung 4 tháng, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa ước đạt 168,53 tỷ USD, tăng 19,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 33,65 tỷ USD, tăng 0,4%, chiếm 20,0% tổng kim ngạch xuất khẩu; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài (kể cả dầu thô) đạt 134,88 tỷ USD, tăng 25,8%, chiếm 80%.
Có 24 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 89,1% tổng kim ngạch xuất khẩu (có 7 mặt hàng xuất khẩu trên 5 tỷ USD, chiếm 69,1%).
Về cơ cấu nhóm hàng xuất khẩu, nhóm hàng công nghiệp chế biến ước đạt 151,5 tỷ USD, chiếm 89,9%; nhóm hàng nông sản, lâm sản ước đạt 12,68 tỷ USD, chiếm 7,5%; nhóm hàng thủy sản ước đạt 3,55 tỷ USD, chiếm 2,1%; nhóm hàng nhiên liệu và khoáng sản ước đạt 0,8 tỷ USD, chiếm 0,5%.
Ở chiều ngược lại, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tháng 4 ước đạt 48,8 tỷ USD, tăng 3,6% so với tháng trước. So với cùng kỳ năm trước, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa tăng 32,5%, trong đó khu vực kinh tế trong nước tăng 22,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tăng 36,8%.
Tính chung 4 tháng, kim ngạch nhập khẩu hàng hóa ước đạt 175,64 tỷ USD, tăng 28,7% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 49,27 tỷ USD, tăng 20,4%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 126,37 tỷ USD, tăng 32,3%.
Có 30 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 87,4% tổng kim ngạch nhập khẩu (có 2 mặt hàng nhập khẩu trên 5 tỷ USD, chiếm 49,2%).
Về cơ cấu nhóm hàng nhập khẩu, nhóm hàng tư liệu sản xuất ước đạt 165,37 tỷ USD, chiếm 94,2%, trong đó nhóm hàng máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng chiếm 54,8%; nhóm hàng nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 39,4%. Nhóm hàng vật phẩm tiêu dùng ước đạt 10,27 tỷ USD, chiếm 5,8%.
Về thị trường xuất, nhập khẩu hàng hóa trong 4 tháng, Mỹ là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước đạt 53,9 tỷ USD. Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước đạt 69,0 tỷ USD.
Ngày 5.5, Bộ Công thương công bố bản tổng hợp, tiếp thu, giải trình ý kiến góp ý, phản biện xã hội đối với hồ sơ dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung khoản 4 điều 15 Nghị định số 56/2025/NĐ-CP ngày 3.3.2025 của Chính phủ.
Nghị định 56 quy định chi tiết một số điều của luật Điện lực về quy hoạch phát triển điện lực, phương án phát triển mạng lưới cấp điện, đầu tư xây dựng dự án điện lực và đấu thầu lựa chọn nhà đầu tư dự án kinh doanh điện lực, được sửa đổi, bổ sung bởi khoản 2 điều 1 Nghị định số 100/2025/NĐ-CP ngày 8.5.2025 của Chính phủ, trong đó có đề xuất liên quan đến điện khí sử dụng LNG nhập khẩu.
Theo Bộ Công thương, hoàn thiện cơ chế “sản lượng điện hợp đồng tối thiểu dài hạn” (Qc) đối với các dự án điện khí sử dụng LNG nhập khẩu là một trong những nội dung trọng tâm của dự thảo lần này.
Trước đó, khi triển khai Nghị định 56 và Nghị định 100, nhiều chủ đầu tư phản ánh khó khăn trong việc thu xếp tài chính cho dự án, nguyên nhân chủ yếu xuất phát từ việc thiếu cơ chế đảm bảo dòng tiền ổn định, trong khi các dự án điện khí LNG có tổng mức đầu tư lớn, phụ thuộc nhiều vào vốn vay.
Góp ý vào dự thảo lần này, các nhà đầu tư kiến nghị một số cơ chế như áp dụng giá điện 2 thành phần, cơ chế bao tiêu sản lượng điện, kéo dài thời gian áp dụng sản lượng điện hợp đồng, cũng như nâng tỷ lệ sản lượng điện tối thiểu lên mức cao hơn.
Sau khi tiếp thu, xem xét các kiến nghị từ nhà đầu tư, Bộ Công thương đề xuất nâng mức sản lượng điện hợp đồng tối thiểu dài hạn từ 65% lên 75% sản lượng điện phát bình quân nhiều năm của dự án, đồng thời kéo dài thời gian áp dụng tối đa từ 10 năm lên 15 năm.
Theo lý giải từ Bộ Công thương, mức điều chỉnh Qc đối với dự án điện khí sử dụng LNG nhập khẩu nói trên nhằm tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư trong việc thu xếp vốn, đồng thời vẫn bảo đảm cân đối lợi ích giữa các bên và phù hợp với khả năng vận hành của hệ thống điện.
Tuy nhiên, Bộ Công thương vẫn nhận được nhiều ý kiến từ các chủ đầu tư cho rằng, mức 75% vẫn chưa đủ hấp dẫn để bảo đảm tính khả thi tài chính của dự án, đề xuất nâng lên 85 - 95% và kéo dài thời gian áp dụng đến 20 - 25 năm.
Phản hồi đề xuất này, Bộ Công thương cho rằng, cơ quan soạn thảo dự thảo nghị định đã tiến hành tính toán, đánh giá trên nhiều kịch bản phụ tải điện khác nhau, từ cơ sở đến cao và cao đặc biệt.
Kết quả cho thấy, nếu tỷ lệ Qc tăng từ 80% trở lên có thể xuất hiện tình trạng “over contract”, tức sản lượng điện hợp đồng cao hơn nhu cầu huy động thực tế của hệ thống. Khi đó, dù không phát điện, bên mua điện vẫn phải thanh toán theo hợp đồng, dẫn đến gia tăng chi phí toàn hệ thống.
Đặc biệt, trong bối cảnh giá điện từ các nhà máy LNG thường cao hơn so với nhiều nguồn điện khác, việc tăng nghĩa vụ thanh toán hợp đồng có thể gây áp lực lên giá điện bình quân và ảnh hưởng đến người tiêu dùng. Vì vậy, Bộ Công thương đề xuất Qc chỉ tăng từ 65% lên 75%.
Cũng theo Bộ Công thương, ngoài vấn đề sản lượng điện hợp đồng, các doanh nghiệp và nhà đầu tư cũng đưa ra nhiều kiến nghị liên quan đến cơ chế giá điện, hợp đồng mua bán điện, tỷ giá, lạm phát, cũng như cơ chế bao tiêu nhiên liệu LNG...
Dự thảo nói trên đã nhận được ý kiến tham gia của 16 cơ quan, tổ chức, bao gồm các bộ, ngành: Tài chính, Tư pháp, Ngoại giao, Xây dựng, Quốc phòng… cùng nhiều tập đoàn, doanh nghiệp lớn trong lĩnh vực năng lượng như Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Tập đoàn Công nghiệp Than - Khoáng sản Việt Nam (TKV), Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) và các nhà đầu tư dự án điện khí LNG.
Ngày 5.5, Bộ Tài chính công bố bảng tổng hợp, giải trình ý kiến góp ý của các cơ quan, tổ chức về dự thảo Nghị định sửa đổi, bổ sung một số điều quy định của Nghị định 68/2026 về chính sách thuế đối với hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh. Trong đó, UBND tỉnh Nghệ An đề xuất Ban soạn thảo xem xét việc quy định ngưỡng doanh thu áp dụng cho từng ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh. Lý do tỷ suất lợi nhuận trên doanh thu của từng nghề, lĩnh vực kinh doanh là khác nhau. Bên cạnh đó, đề nghị Ban soạn thảo bổ sung thêm quy định về xác định doanh thu của hộ kinh doanh có hành vi chia tách thành nhiều hộ kinh doanh (căn cứ vào các yếu tố: địa điểm kinh doanh, ngành nghề,mối quan hệ giữa các chủ thể kinh doanh, dòng tiền và các dấu hiệu liên kết khác) nhằm hạn chế việc lợi dụng kẽ hở chính sách để tránh thuế.
Trả lời góp ý này, Bộ Tài chính cho biết, luật Thuế Thu nhập cá nhân quy định 1 mức doanh thu không chịu thuế thu nhập cá nhân; tại luật Thuế giá trị gia tăng cũng chỉ quy định 1 mức doanh thu để xác định đối tượng không chịu thuế giá trị gia tăng. Việc quy định 1 mức doanh thu không phải nộp thuế thu nhập cá nhân, không chịu thuế giá trị gia tăng đã thực hiện ổn định thời gian qua. Quy định này đảm bảo thống nhất, công bằng một cách tương đối cho các đối tượng nộp thuế. Mức miễn thuế là mức doanh thu phát sinh từ đầu nên chênh lệch về thu nhập ở mức này giữa các ngành nghề, lĩnh vực là không lớn. Khi doanh thu đến mức chịu thuế, thu nhập giữa các ngành nghề/lĩnh vực có sự chênh lệch lớn thì luật Thuế thu nhập cá nhân và luật Thuế giá trị gia tăng đã có quy định mức thuế suất khác nhau để điều tiết cho phù hợp với từng loại hình. Cụ thể, đối với lĩnh vực phân phối, cung cấp hàng hóa thì tỷ lệ thuế thu nhập cá nhân là 0,5%, tỷ lệ thuế giá trị gia tăng là 1%; đối với lĩnh vực dịch vụ, xây dựng không bao thầu nguyên vật liệu thì tỷ lệ thuế thu nhập cá nhân là 2%,tỷ lệ thuế giá trị gia tăng là 5%; đối với lĩnh vực sản xuất, vận tải, dịch vụ có gắn với hàng hóa, xây dựng có bao thầu nguyên vật liệu thì tỷ lệ thuế thu nhập cá nhân là 1,5%, tỷ lệ thuế giá trị gia tăng là 3% và đối với hoạt động kinh doanh khác tỷ lệ này lần lượt là 1% và 2%.
Bộ Tài chính nhấn mạnh: thay vì quy định mức doanh thu miễn thuế khác nhau, đối với từng ngành nghề/lĩnh vực, luật đã quy định tỷ lệ thuế tính trên doanh thu (%) khác nhau cho từng nhóm ngành. Việc quy định 1 mức doanh thu, không phân biệt theo ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh đảm bảo thống nhất và cũng tương đồng với kinh nghiệm của một số nước trên thế giới.
Theo Nghị định 141/2026/NĐ-CP, doanh thu miễn thuế của hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh chính thức nâng từ 500 triệu đồng/năm lên 1 tỉ đồng/năm.
Ngày 12.5, Thuế cơ sở 9 tỉnh An Giang có công văn yêu cầu các doanh nghiệp kinh doanh vàng, bạc, đá quý trên địa bàn cung cấp thông tin người lao động và người thân trong gia đình chủ doanh nghiệp.
Cụ thể gồm: tên, căn cước công dân, địa chỉ, tất cả tài khoản mở tại ngân hàng và tổ chức tín dụng. Người thân trong gia đình chủ doanh nghiệp còn phải cung cấp rõ mối quan hệ với chủ doanh nghiệp.
Theo ông Nguyễn Quang Huy, Giám đốc điều hành Khoa Tài chính - Ngân hàng (Trường đại học Nguyễn Trãi), trong bối cảnh gần đây xuất hiện một số vụ việc doanh thu của doanh nghiệp được luân chuyển qua các tài khoản cá nhân thay vì phản ánh đầy đủ trên hệ thống kế toán, cơ quan thuế tăng cường quản lý dòng tiền đối với lĩnh vực vàng, bạc, đá quý là diễn biến có thể hiểu được.
Kinh doanh vàng, bạc, đá quý là lĩnh vực có đặc thù giao dịch giá trị lớn, tốc độ luân chuyển vốn nhanh và tỷ lệ thanh toán tiền mặt còn cao nên luôn nằm trong nhóm cần được giám sát chặt chẽ hơn nhằm bảo đảm tính minh bạch của thị trường.
Tuy nhiên, trong quá trình triển khai, cần lưu ý sự hài hòa giữa mục tiêu quản lý và ổn định môi trường kinh doanh.
Nhấn mạnh chủ trương kiểm soát dòng tiền nhằm chống thất thu thuế là cần thiết, song luật sư Nguyễn Văn Được, Tổng giám đốc Công ty TNHH Kế toán và tư vấn thuế Trọng Tín, Ủy viên thường trực Hội Tư vấn thuế Việt Nam, lại chưa đồng tình với cách làm của cơ quan thuế.
Việc yêu cầu các doanh nghiệp kinh doanh vàng, bạc cung cấp tất cả số tài khoản của nhân viên cũng như người thân trong gia đình chủ doanh nghiệp là chưa đúng quy định pháp luật hiện hành, vi phạm luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân, đồng thời không khả thi trong thực tiễn.
"Doanh nghiệp chỉ quản lý nhân sự nói chung, không thể quản lý cả số tài khoản của nhân viên. Với người nhà chủ doanh nghiệp, mỗi người đều có quyền riêng tư, doanh nghiệp cũng không thể can thiệp, quản lý tài khoản cá nhân.
Đó là chưa kể, nếu họ không chủ động, thành thực cung cấp số tài khoản, dù doanh nghiệp có muốn thu thập cũng không khả thi", ông Được nói.
Về cách triển khai quản lý dòng tiền, ông Được phân tích, theo quy định của bộ luật Dân sự, doanh nghiệp kinh doanh vàng, bạc cũng như doanh nghiệp kinh doanh các loại hàng hóa, dịch vụ khác được phép ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác thu tiền hộ.
Do đó, cơ quan thuế muốn kiểm soát dòng tiền, nên thông báo theo hướng: các đơn vị kinh doanh vàng, bạc, bên cạnh tài khoản chính của doanh nghiệp, nếu có ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác thu tiền hộ thì phải kê khai đầy đủ số tài khoản của tổ chức, cá nhân đó.
Các đơn vị kinh doanh sẽ tự động kê khai tài khoản thu hộ, có thể là tài khoản của nhân viên thu hộ, người nhà chủ doanh nghiệp thu hộ.
Cách tiếp cận thứ hai vị luật sư đề cập là, chỉ nên yêu cầu các tổ chức kinh doanh vàng, bạc cung cấp danh sách nhân viên, gồm thông tin: họ và tên, căn cước công dân.
Hiện nay, căn cước công dân chính là mã số thuế. Cơ quan thuế có thể yêu cầu tổ chức tín dụng, ngân hàng thương mại phối hợp, cung cấp các số tài khoản liên quan đến từng nhân viên cũng như người thân của chủ doanh nghiệp.
"Trên thực tế, theo quy định của luật Quản lý thuế và Nghị định 126/2020/NĐ-CP, các tổ chức tín dụng định kỳ chậm nhất vào ngày 10 của tháng phải gửi dữ liệu về người nộp thuế mở/đóng tài khoản cho cơ quan thuế bằng phương thức điện tử.
Như vậy, cơ quan thuế vốn đã có dữ liệu về việc mở/đóng tài khoản của người nộp thuế. Trong khi người lao động và người nhà của chủ doanh nghiệp kinh doanh vàng, bạc đều là người nộp thuế. Nguyên tắc là, cơ quan thuế đã có dữ liệu rồi thì không được yêu cầu doanh nghiệp phải cung cấp thông tin nữa", ông Được nhấn mạnh.
Không riêng gì với doanh nghiệp kinh doanh vàng, bạc, theo ông Được, trong đẩy mạnh kiểm soát dòng tiền, các cách tiếp cận như trên nên được cơ quan thuế áp dụng với mọi ngành nghề có rủi ro cao về thuế. Nên có chỉ đạo thống nhất cách làm từ Cục Thuế (Bộ Tài chính), tránh mỗi thuế cơ sở lại triển khai khác nhau.
Song song với tăng cường quản lý dòng tiền, ông Huy nhấn mạnh, hoàn thiện cơ chế bảo mật dữ liệu, xác định rõ phạm vi trách nhiệm và đẩy mạnh hướng dẫn doanh nghiệp thích ứng với các chuẩn mực quản trị mới sẽ là yếu tố giúp chính sách quản lý thuế đạt hiệu quả bền vững hơn thời gian tới.