Từ cái cảnh lụi hụi nấu nồi cơm nhỏ xíu trong căn phòng trọ Sài Gòn, ăn qua loa cho xong bữa, về tới nhà là thành #cơmnhà thiệt sự – có người nấu, có người chờ, có tiếng cười nói rôm rả, nghe mà ấm lòng muốn rơi nước mắt.
Quê tôi ở một xóm nhỏ miền Tây, xứ sen hồng – trước nhà là con rạch nước đục phù sa, sau nhà là mấy liếp rau xanh rì. Xe vừa quẹo vô đầu xóm là tôi thấy lòng mình nhẹ hẳn, như trút được nguyên bao nhiêu mệt mỏi trên thành phố.
Ở TP.HCM, có khi chạy xe ngoài đường đông nghẹt, nghe còi inh ỏi, đầu óc lúc nào cũng căng như dây đàn. Vậy mà chỉ cần về tới cổng nhà, nghe tiếng má với câu chào quen thuộc, “về rồi hả con”, là tự nhiên thấy mọi thứ dịu xuống.
Bữa cơm quê không có gì cao sang mà sao ngon lạ. Ba tôi hay tranh thủ buổi sáng đi vợt hến dưới rạch. Ba nói: “Hến này tươi ăn mới ngọt”, rồi cười cười, tay còn dính bùn mà mặt thì khoái chí. Má thì ở trong bếp, lụi hụi rửa rau, nấu nồi canh chua thơm phức. Còn ngoại tôi, lúc nào cũng ngồi cái ghế gỗ cũ, chậm rãi nhìn con cháu, lâu lâu chen vô một câu: “Ăn nhiều vô con, ốm quá trời”.
Có bữa cơm chỉ có cá kho, dĩa rau luộc, chén nước mắm dầm ớt, vậy mà ngồi ăn, tôi thấy ngon hơn bất cứ món nào ngoài quán. Cá kho đậm đà, thịt săn, nước kho sền sệt. Má còn để thêm dĩa xoài chín vàng ươm, ăn kèm nghe vừa ngọt vừa béo, đúng cái kiểu “đặc sản nhà làm” mà đi đâu cũng không kiếm được. Tôi vừa ăn vừa xuýt xoa, ba nhìn qua cười: “Ở trên đó có ăn được vầy không con?”. Tôi chỉ biết lắc đầu.
Ở TP.HCM, nhiều khi ăn một mình riết rồi quen. Mở điện thoại lên coi cái gì đó, ăn cho qua bữa, xong rồi lại lao vô công việc. Không ai hỏi ngon không, cũng không có ai gắp cho miếng cá, chan thêm miếng canh. Mọi thứ nó gọn gàng, nhanh chóng, mà cũng lạnh lẽo dữ lắm.
Ở quê, bữa cơm kéo dài hơn bình thường. Ăn xong rồi vẫn ngồi đó, nói chuyện này chuyện kia. Ba kể chuyện xóm làng, má hỏi thăm công việc trên thành phố, ngoại thì lâu lâu chen vô nhắc chuyện hồi xưa. Có khi chỉ là mấy câu chuyện đơn giản vậy thôi, mà tôi nghe hoài không chán. Tại lâu rồi, tôi mới có lại cái cảm giác “được thuộc về chốn quê”.
Mỗi lần về quê, tôi hay tự nhủ: “Lần này ở lâu lâu chút”. Mà rồi cũng vài bữa là phải đi. Sài Gòn còn công việc, còn trách nhiệm, còn bao nhiêu thứ đang chờ. Ngày lên lại thành phố, má gói cho mớ đồ ăn, ba dặn dò đủ thứ, Ngoại thì đứng nhìn theo, ánh mắt hiền mà buồn buồn. Tôi quay xe đi mà lòng cứ nặng trĩu.
Trên đường trở lại, tôi biết rồi mình sẽ lại quay về với những bữa ăn vội vàng. Nhưng trong lòng tôi, cái vị cơm quê vẫn còn đó. Cái vị cá kho đậm đà, cái ngọt của xoài chín, cái ấm áp của tiếng cười bên mâm cơm… nó theo tôi lên tới tận Sài Gòn, len vô từng ngày bận rộn.
Có người hỏi tôi, sao cứ thích về quê hoài vậy. Tôi cười, trả lời vui: “Về ăn cơm”. Nhưng thiệt ra, đâu chỉ là ăn. Là về để thấy mình vẫn còn một nơi để thương, để nhớ. Là về để biết, dù ngoài kia có mệt cỡ nào, thì vẫn có một mâm cơm chờ mình, có ba má, có ngoại, có một mái nhà luôn mở cửa.
Với tôi – một thằng con trai miền Tây đi làm xa – hạnh phúc nhiều khi chỉ là vậy thôi – một bữa cơm nhà, ăn cho no bụng, rồi cười cho đã lòng.
Thời điểm có mặt ở hiện trường, anh T. nhìn thấy một bên chân của nạn nhân mắc kẹt giữa tảng đá lớn và các hòn đá khác nên không thể rút ra được.
Biết sự việc, người dân trong thôn cùng Công an xã, Ban chỉ huy Quân sự xã với số lượng cả trăm người lập tức có mặt ở hiện trường.
"Khó nhất là khối đá có trọng lượng rất lớn. Nếu muốn kéo toàn bộ chân của nạn nhân ra phải nhấc được khối đá lên", anh T. cho biết.
Tại hiện trường, các lực lượng họp bàn tại chỗ tìm ra cách tối ưu, nhanh nhất để cứu được người đàn ông.
Do khối đá có trọng lượng lớn, lực lượng chức năng huy động một xe cẩu tới hiện trường, đỗ cách con suối khoảng 30m rồi dùng hệ thống nâng hạ thả dây nhằm cố định tảng đá lớn.
"Cả trăm người người phối hợp dùng sức nâng khối đá hàng chục tấn, kết hợp kích thủy lực tạo khoảng hở để kéo phần chân ra ngoài", anh T. kể lại.
Sau thời gian hơn 1 tiếng, khối đá được kéo ra, nạn nhân được đưa ra ngoài trong tình trạng tỉnh táo, phần chân bị thương nhẹ, không nguy hiểm tính mạng.
Chứng kiến toàn bộ quá trình giải cứu, anh T. khâm phục sự đoàn kết giữa người dân và lực lượng chức năng, nỗ lực tìm mọi cách để đảm bảo tính mạng cho người bị nạn.
"Nhà tôi sống gần suối Cái. Đây là lần đầu tiên chứng kiến tình huống khối đá lăn trúng chân một người dân", anh bày tỏ.
Anh Nguyễn Lương - người nhà nạn nhân, cũng có mặt ở hiện trường - cho biết, gần 2 tiếng giải cứu là những giây phút cân não, căng thẳng. Ban đầu, lực lượng chức năng và mọi người dự tính dùng xe cẩu kéo toàn bộ khối đá lên. Tuy nhiên, phương án này có thể khiến tảng đá đè lên người, dẫn tới nguy hiểm tính mạng.
"Đội cứu hộ chọn phương án dùng xe cẩu thả dây, ngăn khối đá tiếp tục sạt trượt rồi dùng kích để nhấc lên", người đàn ông nhớ lại.
Khi nạn nhân được đưa ra khỏi khối đá, cả gia đình vỡ oà, thở phào nhẹ nhõm.
"Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn đến Công an xã, UBND xã và các lực lượng khác cùng người dân đã hỗ trợ cứu nạn nhân trong đêm tối", anh nói thêm.
Trao đổi với phóng viên Dân trí, đại diện Công an xã Ba Vì xác nhận khoảng 20h ngày 11/5 nhận được tin báo về việc có người dân bị đá đè mắc kẹt tại khu vực suối Cái trên địa bàn thôn Hợp Nhất.
Công an xã và các lực lượng đã khẩn trương huy động người và phương tiện để triển khai công tác cứu hộ.
Người gặp nạn là ông Nguyễn Minh T. (SN 1987, trú ở thôn Lặt, xã Ba Vì). Trước đó, ông soi đèn đi bắt ếch, cua tại suối Cái thì tảng đá lớn xô trượt đè trúng và bị mắc kẹt chân trái.
Đến 21h45 cùng ngày, Công an xã phối hợp dân quân tự vệ cùng người dân đưa anh T. ra khỏi tảng đá trong tình trạng tỉnh táo. Ngoài phần chân bị thương do bị kẹp vào tảng đá, không phát hiện thương tích khác. Người đàn ông được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa Ba Vì.
Từ những quan sát của một người mất thị lực bẩm sinh, tôi hiểu rằng sự cống hiến ấy không phải là phép màu sẵn có. Đó là cuộc đối thoại công bằng giữa nỗ lực từ cá nhân và sự thấu cảm thực tâm của xã hội.
Sinh non với ngoại hình chỉ lớn bằng một "chú cá lóc", ký ức tuổi thơ của tôi được dệt nên bằng xúc giác và trí nhớ thay vì màu sắc. Tôi bắt đầu hành trình cuộc đời của mình bằng cách tập ghi nhớ vị trí từng món đồ vật nhỏ trong nhà do gia đình hướng dẫn, rồi dần mở rộng ra những địa hình phức tạp hơn.
Đó là những ngày lẩn mẩn đếm từng bước chân trên con đường quen thuộc từ nhà đến trường, cảm nhận sự thay đổi của mặt đường dưới đế giày để biết mình đang ở đâu.
Tôi học cách nhận diện bạn bè qua nhịp điệu của tiếng bước chân, hiểu về sự bao la của không gian qua tiếng gió rít, hay sự dội lại của âm thanh trong một căn phòng trống. Và trên hết, tôi cảm nhận tình yêu hay sự chân thành qua tông giọng, qua những rung cảm nhỏ nhất trong hơi thở của người đối diện.
Nhiều người thường ngạc nhiên khi biết tôi đã học hòa nhập với các bạn sáng mắt trừ năm 7 tuổi, hiện giờ là sinh viên khiếm thị hiếm hoi theo học chuyên ngành quan hệ quốc tế - Trường đại học Ngoại ngữ - Tin học TP.HCM.
Họ thắc mắc: Vì sao tôi lại chọn một ngành nghề vốn đòi hỏi sự quan sát nhạy bén, những nghi thức ngoại giao khắt khe và khả năng giao tiếp bằng ánh mắt?
Câu trả lời nằm ở niềm tin của tôi về sự kết nối.
Tôi tin rằng trong bất kỳ thời đại nào, sự gắn kết giữa người với người vẫn là điều quan trọng nhất.
Minh chứng rõ nhất trong đời tôi là dấu mốc tuổi 20, khi tôi trở thành đồng tác giả trẻ nhất trong cuốn sách "Không có đá quá mềm" cùng giáo sư Phan Văn Trường.
Chính sự kết nối về tư duy và niềm tin mà thầy dành cho một cô học trò khiếm thị đã biến những rào cản tưởng chừng như đá cứng trở nên mềm mại.
Hay trong chuyến tham gia Hội nghị Thanh niên khiếm thị khu vực châu Á - Thái Bình Dương tại Manila philippines, do Quỹ The Nippon Foundation tổ chức vào năm 2023, sự kết nối và đồng cảm từ những người bạn quốc tế trong hội nghị giúp tôi mở mang tư duy, bước ra khỏi "ốc đảo" của chính mình.
Đầu năm nay, tại tọa đàm "Ánh sáng từ trái tim và khát vọng" do Trường trung học Thực hành (Trường đại học Sư phạm TP.HCM) tổ chức, tôi đã có một cuộc gặp gỡ đặc biệt. Đứng trước các em học sinh đang tràn đầy hoài bão nhưng cũng không ít chênh vênh, tôi nhận ra: sự khiếm khuyết về thể xác không đáng sợ bằng sự thiếu hụt niềm tin vào bản thân.
Tôi chia sẻ với các bạn về cách dùng AI làm "đôi mắt" thứ hai để tự học đa ngoại ngữ và xử lý tài liệu. Khi kể về cách tôi dùng tính năng voice chat của AI để tự học đa ngoại ngữ, thông qua tiếng ồ, à của các em.
Các bạn sẽ hiểu ra rằng công nghệ không chỉ để giải trí, mà là công cụ để giúp người khiếm thị nâng cao năng lực của mình. Cuộc đối thoại ấy không đơn thuần là chia sẻ kỹ năng, mà là sự truyền lửa: Khi ta đủ khát khao, thế giới mới sẽ mở ra theo cách bạn không ngờ tới.
Nhiều người hỏi tôi, liệu sự tự tin và tinh thần lạc quan có phải là "chìa khóa vạn năng" giúp người khuyết tật luôn vững bước? Tôi cho rằng, lạc quan là nền tảng để bắt đầu tự tin sống hòa nhập.
Hòa nhập thực chất không chỉ nằm ở quyền được giáo dục, mà còn ở quyền được thụ hưởng cái đẹp và sự an toàn. Khoảnh khắc tôi đeo tai nghe, lắng nghe từng cử chỉ của nghệ sĩ Thành Lộc tại sân khấu Thiên Đăng (dự án Từ tai đến mắt) là một giây phút kỳ diệu. Đó là khi khát khao của tôi gặp được một "điểm tựa" thấu cảm từ cộng đồng.
Nhưng cuộc đời không chỉ có ánh đèn sân khấu. Vẫn còn đó những góc khuất rủi ro nơi cơ quan Liên hợp quốc về bình đẳng giới và trao quyền cho phụ nữ (UN Women Viet Nam) khẳng định: 76,8% phụ nữ và trẻ em khuyết tật trở thành đối tượng dễ tổn thương trước vấn nạn quấy rối tình dục.
Để góp phần giảm thiểu điều này, lớp tập huấn phòng chống xâm hại tình dục dành cho học sinh khiếm thị do tôi thực hiện tại mái ấm Huynh Đệ Như Nghĩa (cùng Tổ chức Nơ Xanh Việt Nam) giúp những nữ sinh nơi đây bảo vệ bản thân trước sóng gió cuộc đời.
Sau cùng, nỗ lực cá nhân dù phi thường đến đâu cũng chỉ là một nửa chiếc chìa khóa. Nếu người khuyết tật cố gắng 200% sức lực nhưng xã hội vẫn thiếu hạ tầng và dịch vụ hỗ trợ, thiếu cơ hội việc làm công bằng, thì mọi nỗ lực sẽ như "muối bỏ biển".
Vì vậy đừng chỉ trao tặng chúng tôi những đóa hoa hướng dương rực rỡ trong ngày lễ, hãy trao cho chúng tôi chiếc chìa khóa của sự thấu cảm thực tâm. Để mỗi bước đi không còn là những nỗ lực đơn độc, mà là hành trình cộng hưởng chung của những con người tin vào sức mạnh của sự kết nối chân thành.
Sommaroy là một làng chài nhỏ nằm ở phía bắc Vòng Bắc Cực, cách thành phố Tromso khoảng 36 km. Hòn đảo rộng 0,41 km2 với hơn 300 cư dân với cơ sở hạ tầng khoảng 70 ngôi nhà, một khách sạn, một quán cà phê và một trường học. Thu nhập chính của người dân từ đánh bắt cá và dịch vụ du lịch.
Từ ngày 18/5 đến 26/7 hàng năm, mặt trời tại Sommaroy không lặn. Do trời sáng liên tục, nhịp sinh hoạt của người dân hoàn toàn thay đổi so với thông thường. Họ tổ chức đá bóng lúc 2-3h sáng, trẻ em đi câu cá từ tinh mơ và các cửa hàng mở cửa linh hoạt theo nhu cầu thực tế. Người dân ăn khi đói và ngủ khi mệt, thay vì tuân theo giờ giấc thông thường.
Tại trường học, học sinh có lịch học thay đổi theo thực tế và được nghỉ ngơi khi cần. Các sự kiện cộng đồng như đám cưới, lễ hội cũng thường được tổ chức dựa vào điều kiện thời tiết thay vì ngày tháng trên lịch. Một người dân địa phương cho biết thời gian ở đây chỉ dành cho du khách, còn với họ, đó chỉ là một khái niệm tham khảo.
Bà Marianne Solbakken, 67 tuổi, nói nhịp sống này là thực tế hàng ngày tại Sommaroy. "Người dân có xu hướng ra ngoài làm việc, vui chơi khi mặt trời vẫn tỏa sáng lúc 23h", bà cho biết.
Ông Halvar Ludvigsen, cư dân thế hệ thứ tư, thường xuyên làm việc vào ban đêm. Những người hàng xóm của ông cũng duy trì thói quen làm việc trên trang trại cả ngày, sau đó đi câu cá và ăn uống vào nửa đêm.
Trái ngược với mùa hè, từ tháng 11 đến tháng 1 năm sau, hòn đảo bước vào chuỗi Đêm Cực (Polar Night) khi mặt trời biến mất dưới đường chân trời. Lúc này, người dân tận dụng bóng tối để quan sát cực quang - cảnh tượng thiên nhiên giúp hòn đảo thu hút lượng lớn khách du lịch quốc tế.
Năm 2019, Sommaroy gây chú ý khi người dân treo hàng chục đồng hồ lên cây cầu dẫn vào đảo để truyền tải thông điệp sống thuận tự nhiên, hướng tới việc trở thành "Khu vực không có thời gian".
Ông Kjell Ove Hveding, người khởi xướng chiến dịch, cho biết áp lực từ đồng hồ là nguyên nhân gây căng thẳng trong xã hội hiện đại. "Chúng tôi muốn mang lại sự linh hoạt. Người dân có thể sơn nhà lúc 2h sáng hay đi bơi lúc 4h nếu muốn", ông nói.
Dù chiến dịch này sau đó được truyền thông nhận định là một hình thức quảng bá du lịch hiệu quả của Na Uy, giáo sư Truls Egil Wyller từ Đại học Khoa học và Công nghệ Na Uy cho biết ý tưởng sống không phụ thuộc thời gian vẫn mang lại góc nhìn giá trị. Theo ông, con người mới bị chi phối bởi kỷ luật đồng hồ khoảng hai thế kỷ qua. Trước đó, các thế hệ tổ tiên vốn làm việc, ăn, ngủ theo nhu cầu tự nhiên của cơ thể.