Bác sĩ Phương đều đặn sang Việt Nam mỗi năm và đi ngược xuôi Bắc – Nam trong các chương trình của Tổ chức NUOY (Mỹ) với các bệnh viện địa phương.
Sinh ra trong trại tị nạn ở Indonesia trước khi gia đình đặt chân đến Mỹ, như nhiều đứa trẻ lớn lên trong cộng đồng Việt xa xứ, “Việt Nam” trong anh Phương từng là một hình dung của nhiều mảnh ghép: câu chuyện của người lớn, những lớp ký ức không phẳng, những đoạn lịch sử được kể lại bằng giọng nghẹn.
Lớn hơn một chút, như bác sĩ Phương chia sẻ, những đứa trẻ cùng thế hệ anh luôn đau đáu những câu hỏi: “Mình là ai? Mình là người Mỹ hay người Việt?”.
Năm 2004, chàng sinh viên y khoa 24 tuổi được đặt chân đến Việt Nam lần đầu tiên trong khuôn khổ một chương trình hỗ trợ y tế của Quỹ Project Vietnam. Chuyến đi lần đó với anh như một “cú chạm”. “Lần đầu tiên mình biết trong máu của mình là gì”, anh trầm ngâm chia sẻ.
Ngót nghét từ đó đến nay đã hơn 20 năm, bác sĩ Phương cười và khoe với chúng tôi tấm hình anh chụp cùng những người bạn lần đầu gặp nhau tại Hà Nội năm 2004. Từ sau lần trở về đầu tiên, anh không còn xem Việt Nam là một chuyến đi, mà về khám bệnh cho “dân mình”.
Không chỉ mang theo dao mổ, anh còn mang theo sinh viên, bác sĩ trẻ từ Mỹ và nhiều nước khác về Việt Nam. Có người là bác sĩ Mỹ, có người là người Mỹ gốc Việt, có người chưa từng đặt chân đến Việt Nam trước đó.
Anh muốn họ nhìn thấy Việt Nam hôm nay – không chỉ là ký ức chiến tranh, mà là một đất nước đang vươn lên, với đội ngũ bác sĩ giỏi, với nhu cầu học thuật, với khát vọng đứng ngang hàng thế giới.
Hơn 20 năm, bác sĩ Phương không đếm được có bao nhiêu ca mổ mà mình đã thực hiện. Lớn có, nhỏ có nhưng có những bệnh nhân khiến anh nhớ mãi. Một cô bé bị dị dạng gương mặt, không dám đến trường. Một em nhỏ bị hẹp sọ, não không đủ chỗ phát triển.
“Có ca mổ kéo dài sáu tiếng. Có ca phải theo dõi nhiều năm. Nhưng cái hạnh phúc là vài năm sau, mình thấy các em đi học, đám cưới, sống một cuộc đời bình thường”, anh kể.
Cách bác sĩ Phương làm việc không giống những chuyến “y tế ngắn ngày” thường thấy. Anh không đến để làm thay, càng không đến để thể hiện. “Ca khó thì lúc đầu chúng tôi làm 80 – 90%. Nhưng dần dần, bác sĩ Việt Nam làm chính. Tôi đứng sau, quan sát và góp ý”, anh nói.
Ở Mỹ, bác sĩ Phương có một gia đình nhỏ. Vợ anh là người Mexico, làm nha sĩ. Hai con gái anh còn nhỏ, chưa có dịp đặt chân đến Việt Nam nhưng đã có vài lần theo chân ba mẹ tham gia các đoàn bác sĩ quốc tế thiện nguyện ở Nam Mỹ.
Nhìn con gái vô tư chơi với các bệnh nhân nhỏ tuổi mắc tật hở hàm ếch, anh tự dặn lòng mình phải đến Việt Nam nhiều hơn, giúp được nhiều mảnh đời nhỏ và khó khăn ở đây hơn nữa.
Ba mẹ anh, những người từng làm nghề “gõ đầu trẻ”, hiện đã lớn tuổi nên giờ đây các chuyến bay dài là một điều khó thực hiện. Mẹ anh đã từng về Việt Nam một lần, xúc động và nghẹn ngào kể lại cho anh nghe sau khi trở lại Mỹ.
Khoảnh khắc ấy làm chúng tôi nhớ lại việc bác sĩ Phương kiên quyết và cố gắng nói tiếng Việt. Có lẽ vì ba mẹ anh đã luôn giữ tiếng Việt trong nhà, giữ lại sợi dây gắn kết anh Phương và Việt Nam.
Không thể về quê hương vì sức khỏe nhưng ba mẹ bác sĩ Phương hiểu những việc anh đang làm ở bên kia đại dương và ủng hộ. Họ không ép, không bảo anh phải làm thế này thế kia, họ chỉ nhìn việc anh làm như một điều “rất quý”: giúp được đồng bào, giúp được quê hương.
Với gia đình nhỏ của Phương, dạy tiếng Việt cho hai con gái nhỏ là điều khiến anh trăn trở. Anh hy vọng một ngày không xa, các con sẽ được đặt chân lên mảnh đất hình chữ S, được tận mắt thấy tai nghe những điều đã được ba và ông bà kể.
Công việc đã từng cuốn bác sĩ Phương và giờ, anh tâm sự rằng đã đến lúc nên ở gần hơn với ba mẹ, để chăm sóc họ, để hai con gái được nghe và hiểu nhiều hơn về Việt Nam.
Tạm biệt chúng tôi, anh hẹn tái ngộ vào tháng 9-2026 tại Hà Nội, nơi anh sẽ cùng hàng chục bác sĩ khác đến từ Mỹ, Việt Nam, Thái Lan và Hàn Quốc tham gia một hội thảo chuyên sâu về tật sứt môi, hở hàm ếch.
Nhiều người có thói quen thức dậy, uống một cốc nước rồi đi bộ ngay khi chưa ăn sáng hoặc chưa uống cà phê. Với hình thức đi bộ nhẹ hoặc vừa phải, đây là lựa chọn khá phù hợp và tốt cho sức khỏe, theo chuyên trang sức khỏe Healthline (Mỹ).
Đi bộ trước, uống cà phê sau cũng phù hợp với những người dạ dày dễ cồn cào nếu uống cà phê lúc bụng đói. Ngoài ra, đi bộ ngoài trời vào buổi sáng còn giúp cơ thể tiếp xúc với ánh sáng tự nhiên, điều chỉnh đồng hồ sinh học và giúp tinh thần tỉnh táo hơn.
Trong khi đó, với những người thường đi bộ nhanh, đi bộ đường dài hoặc tập luyện với cường độ cao hơn, uống cà phê trước có thể mang lại một số lợi ích. Caffeine là chất kích thích hệ thần kinh trung ương, có khả năng làm giảm cảm giác mệt mỏi và cải thiện tỉnh táo.
Nhiều bằng chứng nghiên cứu cho thấy caffeine có khả năng cải thiện hiệu suất ở một số hình thức vận động sức bền và bài tập cường độ cao.
Tuy nhiên, điều này không có nghĩa càng uống nhiều cà phê càng tốt. Uống quá nhiều có thể khiến tim đập nhanh, bồn chồn hoặc khó chịu đường tiêu hóa. Nếu muốn thử cách này, mọi người chỉ nên uống lượng vừa phải và theo dõi phản ứng của cơ thể.
Sau khi thức dậy, cơ thể tự động tăng tiết cortisol, loại hoóc môn giúp duy trì sự tỉnh táo vào buổi sáng. Ở một số người, nạp caffeine ngay khi vừa ngủ dậy có thể ảnh hưởng đến nồng độ cortisol, có thể dẫn đến tình trạng hồi hộp, run tay, buồn nôn hoặc cảm giác mệt sau đó. Nếu gặp tình trạng này, hãy đợi khoảng 30 - 60 phút sau khi thức dậy hãy uống cà phê.
Đặc biệt, những người bị viêm dạ dày hoặc trào ngược dạ dày thực quản nên chú ý phản ứng của cơ thể. Trong trường hợp đó, đi bộ trước, ăn sáng nhẹ rồi uống cà phê sau bữa ăn sẽ là lựa chọn dễ chịu hơn, theo Healthline.
Mới đây, Bệnh viện Da liễu trung ương tiếp nhận một nữ bệnh nhân 50 tuổi, đến khám do xuất hiện nhiều vết đỏ bong vảy toàn thân và ngứa rất nhiều.
Bệnh diễn biến 2 năm nay, khởi phát xuất hiện dát đỏ ("dát" là thuật ngữ y khoa, chỉ những vùng da thay đổi màu sắc mà không bị gồ lên hoặc lõm xuống so với vùng da xung quanh), bề mặt bong vảy mỏng. Người bệnh đã đi khám nhiều nơi, sử dụng rất nhiều loại thuốc bôi mua qua mạng hoặc mua ở hiệu thuốc mà không có đơn thuốc.
Ngoài ra bệnh nhân còn tắm lá, uống thuốc nam, thuốc bắc hằng ngày, nhưng tổn thương không đỡ mà còn lan rộng ra toàn thân.
Qua thăm khám, bác sĩ phát hiện tổn thương cơ bản của bệnh nhân là các dát đỏ hình đa cung, ranh giới rõ với da lành, trung tâm tổn thương lành, bề mặt bong vảy mỏng dính lan tỏa đầu, mặt, tay chân, thân mình.
Xét nghiệm soi tươi tìm nấm ở vùng tay chân, thân mình phát hiện có hình ảnh nấm sợi. Bệnh nhân được chẩn đoán nấm da toàn thân, được điều trị thuốc uống và bôi thuốc kháng nấm tại chỗ.
Sau 3 ngày điều trị, tình trạng của bệnh nhân đã cải thiện tốt, các tổn thương da đã thâm lại, đỡ đỏ, không còn bong vảy da và tiếp tục điều trị theo phác đồ tại bệnh viện.
ThS Dương Phúc Hiếu, khoa điều trị bệnh da phụ nữ và trẻ em, Bệnh viện Da liễu trung ương, cho biết bệnh da do nấm sợi (dermatophytes) là tình trạng nhiễm nấm nông ngoài da, bao gồm nấm thân, nấm mặt, nấm bẹn, nấm bàn tay và nấm bàn chân.
Việc chẩn đoán chủ yếu dựa vào các triệu chứng lâm sàng và xét nghiệm soi tươi tìm nấm. Tùy theo mức độ bệnh, bác sĩ có thể chỉ định thuốc bôi, thuốc uống đơn thuần hoặc kết hợp cả hai.
Bệnh thường đáp ứng điều trị khá tốt sau 1-2 tuần. Tuy nhiên, việc sử dụng thuốc không đúng cách có thể khiến tình trạng bệnh trở nên nghiêm trọng hơn và kéo dài thời gian điều trị.
Theo bác sĩ Nguyễn Thị Thanh Thùy, Trưởng khoa điều trị bệnh da phụ nữ và trẻ em, hiện nay cùng với sự phát triển của các sàn thương mại điện tử, người dân rất dễ dàng tiếp cận nhiều loại thuốc bôi với những lời quảng cáo có cánh như: "Khỏi nấm sau 3 ngày", "Dứt điểm chàm, tổ đỉa chỉ sau một lần bôi", "Kem gia truyền 3 đời"...
Chính vì vậy, bệnh viện tiếp nhận rất nhiều bệnh nhân đến phòng khám trong tình trạng da trợt loét, sẩn đỏ và ngứa nhiều không thể kiểm soát. Hầu hết các loại thuốc bôi không rõ nguồn gốc hoặc thuốc tự pha trộn (kem trộn) thường chứa corticoid hàm lượng cao.
Giai đoạn đầu da hết ngứa rất nhanh, mẩn đỏ biến mất khiến người bệnh lầm tưởng đã khỏi. Thực tế corticoid chỉ làm ức chế miễn dịch tại chỗ, khiến nấm không bị tiêu diệt mà còn "nuôi" nấm phát triển âm thầm.
Các bác sĩ cũng khuyến cáo việc bôi các loại thuốc không rõ nguồn gốc, sử dụng kéo dài mà không có chỉ định của bác sĩ trên vùng da nhiễm nấm có thể khiến người bệnh phải đối mặt với nhiều biến chứng nặng nề.
Đáng lo ngại nhất là tình trạng nhiễm nấm sau bôi steroid, khi tổn thương không còn hình dạng điển hình, âm thầm lan rộng ra toàn thân và xâm nhập sâu vào nang lông, khiến việc điều trị về sau trở nên khó khăn hơn rất nhiều.
Không chỉ vậy, lạm dụng các chế phẩm chứa corticoid còn gây teo da, khiến da mỏng như giấy, lộ rõ mạch máu và xuất hiện các vết rạn không thể phục hồi. Khi hàng rào bảo vệ da bị suy yếu, vi khuẩn dễ dàng xâm nhập, gây bội nhiễm với biểu hiện mưng mủ, viêm loét, thậm chí có nguy cơ dẫn đến nhiễm trùng máu.
Bên cạnh đó có thể dẫn đến tình trạng lệ thuộc thuốc, khi ngưng bôi, bệnh không những không khỏi mà còn bùng phát dữ dội, gây ngứa ngáy, khó chịu kéo dài.
Theo các bác sĩ, nếu đã lỡ sử dụng thuốc sai cách, người bệnh cần xử trí sớm để hạn chế tổn thương lan rộng. Trước hết, cần ngừng ngay các loại thuốc đang sử dụng, chấp nhận cảm giác khó chịu trong thời gian ngắn để cắt đứt sự lệ thuộc.
Việc lưu lại hình ảnh nhãn thuốc (nếu có) cũng rất quan trọng, giúp bác sĩ xác định thành phần đã sử dụng và đưa ra hướng xử lý phù hợp.
Người bệnh nên đến khám tại cơ sở chuyên khoa da liễu để được chẩn đoán chính xác và điều trị theo phác đồ, thường bao gồm thuốc kháng nấm đường uống kết hợp với các sản phẩm bôi phục hồi da chuyên sâu.
Sự việc xảy ra tại xã Phiêng Pằn, tỉnh Sơn La. Trong 6 người ăn món canh nấm rừng do gia đình tự hái, một người (sinh năm 2010) tử vong tại nhà. 5 người còn lại có biểu hiện ngộ độc đã được đưa đi cấp cứu và điều trị tại Bệnh viện Bạch Mai.
Tại Trung tâm Chống độc Bệnh viện Bạch Mai, các chuyên gia sinh học xác định nguyên nhân khiến 5 BN ngộ độc do nấm thuộc nhóm Amanita, là nấm độc nguy hiểm hàng đầu có chứa độc tố amatoxin.
Các bệnh nhân đã được khẩn trương điều trị giải độc, lọc máu tăng thải độc. Tuy nhiên, diễn biến bệnh cực kỳ phức tạp. Trong đó, bệnh nhân 62 tuổi bị suy gan tối cấp, hôn mê gan, men gan tăng trên 7.000 U/L, cao gấp hàng trăm lần bình thường, kèm suy thận vô niệu, tụt huyết áp và suy hô hấp. Gia đình đã xin đưa bệnh nhân về nhà tối 6.5, do tình trạng quá nặng.
Một bệnh nhân khác (25 tuổi) bị suy gan tối cấp, hôn mê gan với men gan trên 5.000 U/L. Các trường hợp còn lại đều có tổn thương gan ở nhiều mức độ, trong đó có bé gái 5 tuổi bị viêm gan nhiễm độc.
TS-BS Nguyễn Trung Nguyên, Giám đốc Trung tâm Chống độc, cho biết có 2 nhóm nấm độc: nhóm gây ngộ độc sớm và nhóm gây ngộ độc muộn. Nguy hiểm nhất là nhóm gây ngộ độc muộn, cũng chính là nhóm mà các bệnh nhân ở Sơn La đã ăn phải.
Đây là những loại nấm màu trắng, nhìn sạch sẽ, hấp dẫn, trông giống nấm ăn bình thường. Nhưng khi vào cơ thể, độc tố amatoxin trong nấm tấn công gan, thận cực kỳ dữ dội.
Theo Cục An toàn thực phẩm, Bộ Y tế, mùa xuân, thời tiết ấm, ẩm rất thuận lợi cho các loài nấm phát triển và đây cũng là thời điểm thường xảy ra các vụ ngộ độc nấm.
So với các loại ngộ độc khác thì ngộ độc nấm xảy ra ít hơn về số ca, nhưng tỷ lệ tử vong lại rất cao. Phòng ngừa ngộ độc nấm rất quan trọng, vì nhiều loại nấm hoang dại có thể gây ngộ độc nặng, thậm chí tử vong.
Cơ quan này lưu ý, không nên tin hoàn toàn kinh nghiệm truyền miệng "nấm có côn trùng ăn là nấm lành", vì có nấm côn trùng ăn được nhưng người thì bị ngộ độc. Nhiều loại nấm độc không có vị đắng hoặc mùi đặc biệt, khi ăn vẫn ngọt, ngon.
Cách an toàn nhất là chỉ ăn nấm trồng có nguồn gốc rõ ràng hoặc nấm đã rất quen thuộc ở địa phương.
Không hái, không ăn nấm hoang dã khi không biết rõ; không mua nấm trôi nổi, không rõ nguồn gốc; không tin vào mẹo dân gian, kinh nghiệm "truyền miệng" như thử bằng bạc, tỏi, gạo… để nhận biết nấm độc.
Khi có dấu hiệu ngộ độc nấm cần đưa ngay đến cơ sở y tế gần nhất; bảo quản mẫu nấm (nếu có) để hỗ trợ chẩn đoán và có phác đồ điều trị chính xác.