Ngày 12/5, Khanh, ở xã Châu Thành, bị Công an TP Cần Thơ tạm giữ hình sự để điều tra làm rõ hành vi Giết người.
Theo điều tra ban đầu, Khanh không nghề nghiệp ổn định, thuê phòng trọ tại phường Hưng Phú, sống như vợ chồng với cô gái 21 tuổi, cùng quê xã Châu Thành. Bạn gái Khanh có mang thai vài tháng. Gần đây, hai người thường phát sinh mâu thuẫn liên quan đến tiền bạc và cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Đến tối 1/5, cả hai tiếp tục cãi nhau về vấn đề này.
Khanh khai rằng lúc cãi nhau thì người yêu có những lời lẽ xúc phạm anh ta cùng gia đình. Sau đó, cả hai đi ngủ như bình thường. Tuy nhiên, một lúc sau, nhớ lại việc bị bạn gái nặng lời Khanh tức giận, ngồi dậy ra tay sát hại người này khi nạn nhân đang ngủ say.
Sau khi gây án, anh ta tiếp tục ở lại phòng trọ đến sáng hôm sau mới khóa cửa rời đi.
Từ ngày 2-4/5, Khanh đi chơi tại TP HCM và quán bida tại xã Châu Thành (TP Cần Thơ). Tối 4/5, Khanh về phòng trọ ngủ qua đêm; sáng hôm sau thì quay lại quán bida ở quê nhà vui chơi.
Chiều tối 6/5, Khanh mua xăng, dầu hỏa quay lại phòng trọ tưới lên thi thể nạn nhân và vật dụng trong phòng rồi khóa cửa rời khỏi hiện trường.
Tối 10/5, chủ nhà trọ phát hiện mùi tử khí nồng nặc từ phòng trọ của Khanh nên gọi điện cho anh ta về kiểm tra nhưng không được nên phá cửa vào thì thấy thi thể nạn nhân nên báo công an.
Trưa hôm sau, cảnh sát hình sự bắt giữ Khanh tại khu dân cư ở Cái Răng, TP Cần Thơ.
Tin Gốc: Vnexpress
Pháp Luật
TAND Tối cao: Có nồng độ cồn chưa đủ căn cứ xác định đã uống rượu bia

Nội dung trên được TAND Tối cao giải đáp sau khi tòa án cấp dưới nêu vướng mắc trong quá trình xét xử tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.
Theo tình huống được nêu, bị cáo khai trước khi tham gia giao thông không uống rượu, bia. Kết quả giám định xác định trong máu có nồng độ cồn 0,282 mg/100 ml nhưng không xác định được nguyên nhân phát sinh cồn.
Từ đó, tòa cấp dưới đặt vấn đề có được áp dụng tình tiết định khung tại điểm b khoản 2 Điều 260 Bộ luật Hình sự đối với trường hợp này hay không. Quy định này áp dụng với trường hợp "trong tình trạng có sử dụng rượu, bia mà trong máu hoặc hơi thở có nồng độ cồn vượt quá mức quy định".
Phải chứng minh đã sử dụng rượu bia
Trong văn bản trả lời, TAND Tối cao cho rằng chỉ áp dụng tình tiết trên khi có căn cứ xác định bị cáo "trong tình trạng có sử dụng rượu, bia".
Do đó, để áp dụng tình tiết định khung, kết luận giám định phải xác định rõ nồng độ cồn trong máu là do sử dụng rượu, bia hoặc có căn cứ khác chứng minh người phạm tội đã sử dụng rượu, bia.
"Trường hợp không có căn cứ xác định người phạm tội đã sử dụng rượu, bia thì không áp dụng tình tiết này", TAND Tối cao nêu.
Như vậy, việc trong máu có nồng độ cồn chưa đồng nghĩa người vi phạm đã sử dụng rượu bia.
Nêu quan điểm về hướng dẫn trên, luật sư Vũ Tiến Vinh (Công ty Luật Bảo An, Hà Nội) cho rằng quy định của Bộ luật Hình sự từ trước đến nay đều xác định tình tiết tăng nặng là trường hợp "trong tình trạng có sử dụng rượu, bia...".
"Quan điểm của TAND Tối cao nhằm thống nhất cách hiểu và áp dụng pháp luật trong xét xử", luật sư nói.
Theo ông Vinh, cơ quan tiến hành tố tụng có trách nhiệm chứng minh người phạm tội đã sử dụng rượu bia trước khi xảy ra tai nạn.
Việc này phải làm rõ người đó có uống rượu bia hay không, sử dụng khi nào, ở đâu và trong hoàn cảnh nào.
Trách nhiệm chứng minh thuộc cơ quan tố tụng
Theo luật sư Vinh, nghĩa vụ chứng minh hoàn toàn thuộc về cơ quan tiến hành tố tụng. Người bị truy cứu không có nghĩa vụ phải tự chứng minh mình không uống rượu bia.
Do đó, nếu cơ quan tố tụng không chứng minh được việc sử dụng rượu bia thì dù kết quả giám định xác định trong máu có nồng độ cồn cũng không thể áp dụng tình tiết định khung này.
Liên quan thắc mắc về trường hợp không uống rượu bia nhưng trong máu vẫn có cồn do bệnh lý hoặc cồn nội sinh, luật sư cho rằng về mặt khoa học, cồn nội sinh là có nhưng hàm lượng rất nhỏ. Trong khi đó, người đã sử dụng rượu bia thì nồng độ cồn trong cơ thể thường cao hơn nhiều lần.
Tuy nhiên, việc viện dẫn cồn nội sinh sẽ khó được chấp nhận nếu cơ quan tố tụng có đủ chứng cứ chứng minh người vi phạm đã sử dụng rượu bia. Khi đó bị cáo phải chấp nhận các chứng cứ đã được điều tra, thu thập.
Tin Gốc: Vnexpress
Pháp Luật
'Phù phép' xe gian thành xe mới bán cho 392 người, chủ cửa hàng xe Tân Tiến và đồng phạm hầu tòa

Theo đó, ông Bùi Văn Tân (43 tuổi, chủ hệ thống cửa hàng xe máy Tân Tiến) bị đưa ra xét xử về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và mua bán tài liệu của cơ quan, tổ chức.
Các bị cáo: Nguyễn Thủy Tiên, Nguyễn Ngọc Thúy, Võ Đình Thắng, Nguyễn Trung Thông, Trần Văn Sậu, Hà Xuân Phúc, Nguyễn Hữu Oai, Nguyễn Hữu Như, Lê Văn Tới, Trần Thị Như Thúy bị xét xử về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Các bị cáo là chủ hệ thống, đại lý cửa hàng xe, gồm: Nguyễn Đình Sùng, Nguyễn Thị Kiều Oanh và Nguyễn Sỹ Toàn bị xét xử về tội mua bán tài liệu của cơ quan, tổ chức.
Theo cáo trạng, từ năm 2018 đến tháng 12-2023, Bùi Văn Tân đã thành lập 4 địa điểm kinh doanh xe máy, gồm: Cửa hàng xe máy Tân Tiến, Cửa hàng xe máy Tân Tiến 2, Công ty TNHH Mua bán xe máy Lâm Tới và Công ty TNHH Xe máy Thảo Vân.
Khoảng cuối năm 2021, Tân thỏa thuận thu mua xe không rõ nguồn gốc, không giấy tờ của Lê Văn Tới; mua phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng của Nguyễn Thị Kiều Oanh, Nguyễn Đình Sùng và Nguyễn Sỹ Toàn.
Sau đó, Tân thuê Nguyễn Hữu Oai (làm nghề sửa xe) và Nguyễn Hữu Như (em Oai) mài, đục thay đổi số khung, số máy theo thông tin phiếu kiểm tra xuất xưởng.
Sau đó, Tân đưa xe đã mài đục về hệ thống cửa hàng, phân công nhân viên bán cho người mua dưới dạng xe mới nhằm chiếm đoạt tiền của khách hàng.
Với thủ đoạn nêu trên, từ cuối năm 2021 đến khi bị phát hiện, Tân khai nhận đã mua khoảng 1.500 phiếu kiểm tra chất lượng xuất xưởng và thuê Oai, Như mài đục khoảng 500 số xe máy để bán cho khách hàng. Tổng số tiền bị cáo Tân đã chiếm đoạt là hơn 15 tỉ đồng của 392 bị hại.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ
Pháp Luật
Ranh giới mong manh giữa quản lý hành chính và nguyên tắc hành nghề luật sư
Đằng sau một yêu cầu mang tính hành chính tưởng chừng bình thường là vấn đề cốt lõi: Ranh giới giữa quyền quản lý của chính quyền cơ sở và nguyên tắc độc lập trong hành nghề luật sư.
Xa hơn, đây còn là câu chuyện về vai trò và bản lĩnh nghề nghiệp của luật sư trong việc bảo vệ quyền công dân, đặc biệt là quyền khiếu nại trong lĩnh vực đất đai phức tạp.
Không thể phủ nhận áp lực thực tế tại địa phương khi triển khai các dự án lớn như Cảng hàng không quốc tế Long Thành. Khi quyền lợi kinh tế của người dân bị tác động, việc phát sinh khiếu nại là điều tất yếu.
Tuy nhiên, quyền khiếu nại không phải là "gánh nặng" cần hạn chế, mà là quyền hiến định.
Hiến pháp năm 2013 khẳng định mọi công dân có quyền khiếu nại, tố cáo đối với các hành vi trái pháp luật của cơ quan, tổ chức, cá nhân có thẩm quyền.
Luật Khiếu nại năm 2011 tiếp tục cụ thể hóa khi cho phép công dân khiếu nại lần đầu, lần hai, thậm chí có quyền khởi kiện vụ án hành chính tại tòa án có thẩm quyền, đồng thời khẳng định quyền được nhờ luật sư hỗ trợ, tư vấn, đại diện tham gia quá trình giải quyết khiếu nại.
Vì vậy, việc người dân gửi đơn nhiều lần, đúng trình tự, không thể bị xem là hành vi cần bị hạn chế.
Ở chiều ngược lại, vai trò của luật sư cũng đã được pháp luật xác định rõ. Luật Luật sư cho phép luật sư tham gia tố tụng, tư vấn pháp luật và đại diện ngoài tố tụng để bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức.
Nguyên tắc hành nghề cốt lõi là độc lập, trung thực, tôn trọng sự thật khách quan và tuân theo pháp luật. Điều đó khẳng định luật sư không phải là "tác nhân gây khiếu kiện", mà là người giúp hoạt động khiếu nại và giải quyết khiếu nại diễn ra đúng trình tự, hạn chế sai sót về thủ tục và nội dung.
Trong thực tiễn, bản lĩnh nghề nghiệp của luật sư không chỉ thể hiện ở những vụ án lớn, mà rõ nét nhất trong những vụ việc cụ thể, nơi người dân yếu thế cần được bảo vệ.
Trong các tranh chấp hành chính về đất đai, người dân thường ở vị thế bất lợi về thông tin và hiểu biết pháp luật. Nếu thiếu sự hỗ trợ của luật sư, quyền khiếu nại dễ bị thực hiện sai lệch hoặc bị bỏ dở. Ngược lại, khi có luật sư tham gia, đơn thư thường chặt chẽ hơn, đúng thẩm quyền hơn, hạn chế tình trạng khiếu nại tràn lan, kéo dài.
Do đó, cần nhìn nhận rằng luật sư không làm gia tăng khiếu kiện, mà góp phần đưa hoạt động khiếu nại vào khuôn khổ pháp luật. Một vụ việc có luật sư tham gia thường có cơ hội được giải quyết nhanh và chính xác hơn, bởi các lập luận pháp lý đã được chuẩn bị đầy đủ ngay từ giai đoạn đối thoại. Việc luật sư đồng hành cùng người dân vì thế không chỉ là hoạt động dịch vụ pháp lý, mà còn là một phần của cơ chế bảo vệ công lý.
Ngược lại, nếu luật sư từ chối hỗ trợ người dân trong việc thực hiện quyền khiếu nại hợp pháp, điều đó không chỉ là thiếu trách nhiệm nghề nghiệp, mà còn đi ngược lại sứ mệnh xã hội của luật sư. Khi người dân cần đến pháp luật mà không được hỗ trợ, nền tảng của nhà nước pháp quyền cũng bị ảnh hưởng.
Tất nhiên, trong trường hợp luật sư có hành vi tư vấn sai pháp luật, kích động khiếu kiện trái quy định hoặc gây mất trật tự xã hội, pháp luật đã có đầy đủ chế tài xử lý. Tùy mức độ vi phạm, luật sư có thể bị xử lý kỷ luật, xử phạt hành chính, thậm chí truy cứu trách nhiệm hình sự. Việc xử lý này thuộc thẩm quyền của các cơ quan có thẩm quyền và tổ chức luật sư theo quy định pháp luật, bảo đảm tính khách quan và đúng trình tự.
Chính vì vậy, việc "nhắc nhở, chấn chỉnh" luật sư thông qua một văn bản mang tính hành chính cần được cân nhắc thận trọng. Nếu cách diễn đạt hoặc mục đích thực hiện dẫn đến việc gây áp lực hoặc làm suy giảm tính độc lập của luật sư, thì không chỉ vượt quá giới hạn thẩm quyền mà còn ảnh hưởng đến quyền hành nghề hợp pháp của luật sư và quyền tiếp cận công lý của người dân.
Một vấn đề quan trọng khác là cách tiếp cận trong quản lý. Khi số lượng đơn thư tăng cao, giải pháp không thể là "giảm đầu vào" bằng cách gián tiếp hạn chế quyền khiếu nại hoặc vai trò của luật sư.
Cách làm căn cơ phải là nâng cao chất lượng giải quyết khiếu nại từ gốc: bảo đảm tính minh bạch của các quyết định hành chính, tăng cường đối thoại với người dân và giải quyết thỏa đáng ngay từ cơ sở. Khi niềm tin được củng cố, khiếu nại tự nhiên sẽ giảm.
Trong tiến trình xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, luật sư phải giữ vững bản lĩnh nghề nghiệp: không né tránh, không thỏa hiệp với những áp lực hành chính không phù hợp và kiên định với sứ mệnh bảo vệ quyền con người, quyền công dân.
Bản lĩnh ấy không nằm ở lời nói mà được thể hiện qua từng vụ việc cụ thể, nơi luật sư lựa chọn đứng về phía pháp luật và công lý.
Nếu luật sư lùi bước, người dân sẽ mất đi một chỗ dựa pháp lý quan trọng và quyền khiếu nại - dù được ghi nhận trên giấy - cũng khó được bảo đảm trong thực tế.
Bởi vậy, điều cần được "chấn chỉnh" không phải là vai trò của luật sư, mà chính là chất lượng quản lý nhà nước trong lĩnh vực đất đai và giải quyết khiếu nại, để pháp luật thực sự trở thành công cụ bảo vệ công bằng và quyền lợi hợp pháp của người dân.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

