Kỳ nghỉ lễ 30/4-1/5 năm nay đang mở ra một xu hướng du lịch mới, khi nhiều người Việt lựa chọn những hành trình ngắn ngày nhưng giàu trải nghiệm thay vì những chuyến đi xa tốn kém. Trong dòng chảy ấy, các làng nghề truyền thống tại Hà Nội đang trở thành điểm đến đầy sức hút, nơi du khách không chỉ tham quan mà còn được chạm tay vào những giá trị văn hóa lâu đời của đất Thăng Long.
Làng lụa Vạn Phúc, nằm ở phường Hà Đông, cách trung tâm thành phố Hà Nội không xa, từ lâu đã nổi tiếng với nghề dệt lụa. Bước vào làng, du khách như lạc vào một thế giới đầy màu sắc, nơi những tấm lụa óng ả bay trong gió, nơi bức tường bích họa và chùa Vạn Phúc cổ kính tạo nên khung hình check-in hoàn hảo.
Nhưng điều đặc biệt hơn cả là được vào tận xưởng dệt, tận mắt chứng kiến quy trình tạo ra những thước lụa, trực tiếp trò chuyện với những nghệ nhân hay thậm chí tự tay thử làm một vài công đoạn. Tuy nhiên, ẩn sau vẻ đẹp ấy là một nỗi niềm trăn trở. Trước “ma trận” lụa công nghiệp nhập lậu kém chất lượng, người dân Vạn Phúc vẫn ngày ngày chăm chút, cố gắng khẳng định vị thế.
Ông Nguyễn Văn Hùng, Chủ tịch Hiệp hội làng nghề lụa Vạn Phúc chia sẻ: “Không thể cấm các hộ kinh doanh nhập hàng nơi khác, nhưng điều quan trọng là sản phẩm phải ghi rõ nguồn gốc, minh bạch về chất lượng”. Sự minh bạch ấy chính là chìa khóa sống còn để du khách thêm yêu và tin tưởng vào những tấm lụa trứ danh nơi đây.
Làng nghề tăm hương Quảng Phú Cầu thuộc xã Ứng Thiên, cách trung tâm thành phố Hà Nội khoảng 35km, từ lâu đã được biết đến là một trong những làng nghề làm tăm hương nổi bật nhất ở vùng ngoại ô Thủ đô.
Theo các bậc cao niên trong làng, nghề làm hương ở Quảng Phú Cầu đã xuất hiện từ khoảng hơn 100 năm trước, gắn liền với đời sống tâm linh của người Việt, nhất là trong những dịp lễ, Tết, giỗ chạp, thờ cúng tổ tiên. Ban đầu, chỉ là nghề phụ trong nông nhàn, giúp người dân cải thiện thu nhập. Tuy nhiên, theo thời gian, nghề làm hương đã dần trở thành nghề chính, mang lại danh tiếng cho cả vùng.
Đến đây trong những ngày nghỉ lễ, bạn sẽ choáng ngợp trước những con đường, ngõ nhỏ đỏ rực chân hương. Chúng được xếp thành từng bó, xòe to như những đóa hoa nở rộ, tạo nên một khung cảnh vừa lãng mạn, vừa thiêng liêng.
Những năm gần đây, cùng với việc duy trì sản xuất truyền thống, Quảng Phú Cầu đã từng bước chuyển mình khi phát triển mô hình du lịch làng nghề, biến chính không gian lao động quen thuộc của người dân thành điểm đến trải nghiệm văn hóa độc đáo, thu hút đông đảo du khách trong nước và quốc tế, trở thành điểm đến cho cho những tín đồ yêu nhiếp ảnh.
Nếu muốn tìm một nét mộc mạc, bình dị, du khách có thể ghé làng chuồn chuồn tre Thạch Xá nằm bên chùa Tây Phương cổ kính thuộc xã Tây Phương, cách trung tâm Hà Nội khoảng 25km. Nghề làm chuồn chuồn trẻ tuy mới hình thành ở đây hơn 20 năm nhưng đã nhanh chóng ghi dấu ấn với những sản phẩm thủ công nhỏ xinh.
Đến với làng chuồn chuồn trẻ Thạch Xá, du khách sẽ được trở về tuổi thơ qua những chú chuồn chuồn tre đủ màu sắc, được cân bằng tinh tế trên đầu ngón tay đầy thú vị. Không chỉ mua làm quà, trải nghiệm tự tay tô vẽ màu sắc cho chú chuồn chuồn của riêng mình chắc chắn sẽ là kỷ niệm khó quên cho các gia đình có trẻ nhỏ.
Nằm bên dòng sông Đáy hiền hòa, làng Chuông thuộc xã Thanh Oai, cách trung tâm thành phố Hà Nội khoảng 30km. Nơi đây không chỉ là một ngôi làng cổ kính mà còn là “thủ phủ” của những chiếc nón lá nức tiếng gần xa. Trải qua hàng trăm năm thăng trầm, tiếng kim khâu nón vẫn đều đặn vang lên dưới những nếp nhà, vẽ nên một bức tranh làng nghề sống động
Các sản phẩm nón tại đây vô cùng đa dạng, từ nón tơi, nón chóp dứa cho đến nón quai thao… để phục vụ nhu cầu của người dân tại mọi miền tổ quốc.
Ngày nay, làng Chuông không chỉ là một trong những trung tâm của nghề làm nón lá truyền thống, mà vẻ đẹp mộc mạc, yên bình của làng nghề đã và đang thu hút đông đảo du khách trong nước và quốc tế đến tham quan, trải nghiệm. Nếu may mắn đến đúng dịp phiên chợ truyền thống, bạn sẽ cảm nhận rõ nét hơi thở văn hóa của một vùng đất cổ xưa.
Với những ai yêu thích sự mạnh mẽ và tinh xảo, làng rèn Đa Sỹ (phường Kiến Hưng) là một điểm dừng chân thú vị. Nơi đây lửa nghề chưa bao giờ tắt, tiếng búa, tiếng mài vang lên giữa không gian làng quê như nhịp đập của một truyền thống lâu đời. Với người dân Đa Sỹ, nghề rèn không chỉ là kế sinh nhai mà còn là niềm tự hào được truyền qua nhiều thế hệ.
Ngày nay, một số xưởng rèn đã mở cửa đón khách, như tại xưởng của Nghệ nhân Lê Ngọc Lâm, du khách không chỉ được chứng kiến những người thợ làm việc mà còn có thể trực tiếp tự tay rèn ra một con dao và khắc tên mình lên đó, trải nghiệm thú vị này khiến nhiều du khách nước ngoài vô cùng thích thú.
Theo anh Lâm, một lợi thế lớn của làng nghề chính là thương hiệu Đa Sỹ đã được khẳng định qua thời gian, và sự thích thú của du khách khi đến đây chính là minh chứng cho sức hút của những giá trị thủ công truyền thống.
Làng mây tre đan Phú Vinh thuộc xã Phú Nghĩa là một trong những làng nghề truyền thống lâu đời của Hà Nội với lịch sử hình thành cách đây hơn 400 năm.
Đặt chân đến đây, du khách sẽ ngay lập tức cảm nhận được không khí nhộn nhịp, tràn đầy sức sống của một làng quê đang miệt mài gìn giữ nghề thủ công truyền thống. Từ những nan tre thô sơ, dưới bàn tay tài hoa của các nghệ nhân chúng trở thành những tác phẩm nghệ thuật tinh xảo như túi xách, bình hoa, thậm chí là nội thất cao cấp.
Đến với Phú Vinh, du khách không chỉ được tham quan không gian làng nghề mà còn có cơ hội trải nghiệm trực tiếp nhiều công đoạn làm ra sản phẩm tại nhà Nghệ nhân Nhân dân Nguyễn Văn Tĩnh và Nghệ nhân Ưu tú Hoàng Văn Hạnh. Không gian sản xuất của hai gia đình nghệ nhân này đã trở thành điểm đến quen thuộc, thu hút du khách trong và ngoài nước, cũng như các đoàn học sinh, sinh viên đến tìm hiểu về nghề truyền thống.
Các nghệ nhân tại đây đều rất hiếu khách và cởi mở. Chia sẻ về mối quan hệ với du khách, nghệ nhân Nguyễn Văn Tĩnh cho biết: “Khách du lịch không chỉ là người tiêu dùng mà còn là nguồn gợi ý rất hiệu quả về mẫu mã, công năng và đối tượng sử dụng sản phẩm cho làng nghề”.
Với sự kết hợp giữa truyền thống và những ý tưởng mới từ du khách, làng mây tre đan Phú Vinh không chỉ giữ vững nghề cha ông mà còn không ngừng đổi mới, hướng tới việc nâng tầm giá trị sản phẩm mây tre Việt Nam trên bản đồ thủ công mỹ nghệ thế giới.
Nhắc đến các làng nghề truyền thống tại Thủ đô Hà Nội, không thể không nhắc đến làng gốm Bát Tràng, một địa danh vừa mang đậm dấu ấn văn hóa lịch sử, vừa là điểm đến du lịch nổi tiếng thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước.
Khi đặt chân đến Bát Tràng, du khách sẽ được chiêm ngưỡng hàng nghìn sản phẩm gốm sứ độc đáo, tinh xảo được tạo nên bởi bàn tay khéo léo và tài hoa của các nghệ nhân lành nghề. Từ những chiếc bát, đĩa men lam cổ điển đến các bình hoa, tượng trang trí hay đồ dùng cao cấp với họa tiết rồng phượng, hoa văn cầu kỳ, tất cả đều toát lên vẻ đẹp hoàn hảo nhờ kỹ thuật tạo men và nung lò tỉ mỉ, được gìn giữ qua hàng trăm năm.
Không dừng lại ở việc quan sát, du khách còn có cơ hội tìm hiểu toàn bộ quy trình sản xuất gốm sứ từ khâu chọn đất sét, nhào nặn, vẽ men đến nung trong lò truyền thống. Đặc biệt hấp dẫn là hoạt động trải nghiệm tự tay làm gốm, du khách được ngồi vào bàn xoay, tự mình nặn tạo hình những tác phẩm độc đáo mang dấu ấn cá nhân.
Với sự kết hợp hài hòa giữa gìn giữ nghề truyền thống và phát triển du lịch trải nghiệm, làng gốm Bát Tràng ngày càng khẳng định vị thế là điểm đến không thể bỏ qua khi khám phá Hà Nội.
Liên quan đến việc điều chỉnh quy hoạch dự án Nhà tang lễ Thanh Xuân (phường Khương Đình, Thành phố Hà Nội) đang khiến dư luận đặc biệt quan tâm những ngày qua, chiều 11/5, Công ty Cổ phần Hồn Đất Việt đã có một số thông tin về dự án này. Theo đó, dự án Nhà tang lễ Thanh Xuân được phê duyệt vào năm 2017, sau đó điều chỉnh lần 1 vào năm 2019 và lần 2 vào năm 2021.
Dự án nằm trên nằm tại ô đất có tổng diện tích gần 23.000 m2 gồm 2 khu. Trong đó, khu A có diện tích gần 15.000 m2, khu B có diện tích hơn 8.000 m2 chủ yếu là chức năng tĩnh, phục vụ khách với các dịch vụ, tư vấn trước và sau tang lễ.
Mới đây, chủ đầu tư tiếp tục xin điều chỉnh chủ yếu nằm ở khu B với việc bổ sung 2 tòa tháp tưởng niệm quy mô 13 tầng nổi và 1 tầng hầm. Đây đang trở thành điểm khiến một số ý kiến còn bày tỏ băn khoăn.
Tuy nhiên, đại diện chủ đầu tư cũng khẳng định, khu vực 2 tòa tháp không có chức năng lưu giữ tro cốt. Công năng của hai tháp này được định hướng là không gian tưởng niệm trang nghiêm, nơi thân nhân có thể đặt bài vị, kỷ vật và thực hiện nhu cầu tưởng nhớ người quá cố theo phong tục và văn hóa của người Việt mà quy định pháp luật cho phép.
Dự án Nhà tang lễ quận Thanh Xuân cần được nhìn nhận như một nỗ lực hiện đại hóa hạ tầng tang lễ của Thủ đô: tiết kiệm đất hơn, sạch hơn, kiểm soát tốt hơn và nhân văn hơn. Khi được vận hành đúng công năng, đây không phải là một "nghĩa trang mới" trong lòng khu dân cư, mà là một công viên tưởng niệm – nơi ký ức về người đã khuất được gìn giữ bằng sự trang trọng và tôn nghiêm, còn đời sống của cộng đồng xung quanh được bảo vệ bằng các tiêu chuẩn quy hoạch, môi trường và quản lý đô thị hiện đại.
Trao đổi với báo chí chiều ngày 11/5, ông Đinh Tiến Sang - phụ trách đầu tư Dự án An Lạc Linh Đường cho biết, đây là dự án nhà tang lễ đầu tiên trên địa bàn Tp.Hà Nội được đầu tư theo hình thức xã hội hóa và được định hình theo một triết lý khác với quan niệm truyền thống về nơi tiễn đưa người đã khuất.
Ông Sang cho biết, chủ đầu tư muốn đầu tư một dự án văn minh, hiện đại, nơi không chỉ để người dân tổ chức tang lễ cho người đã khuất mà còn cung cấp các dịch vụ sau tang lễ như lễ 7 ngày, lễ 49 ngày… và thậm chí là ngày giỗ hàng năm.
Với tổng diện tích 2,3 ha của dự án nhưng diện tích xây dựng chỉ chiếm chưa đến 30%. Phần còn lại - gần 1,6 ha, được dành trọn cho hệ thống cây xanh, mặt hồ và không gian cảnh quan.
Ông Sang cũng cho biết, mô hình "công viên tang lễ" mà dự án hướng đến không phải là khái niệm xa lạ trên thế giới, theo đó tại Nhật Bản, các "công viên tưởng niệm trên cao" đã thay thế hoàn toàn những nghĩa trang truyền thống u ám, biến nơi thăm viếng thành không gian an yên, tĩnh lặng với thiết kế như những tác phẩm nghệ thuật giữa thiên nhiên.
Tương tự như ở Đài Bắc lựa chọn mô hình "lập thể hóa" nhà tang lễ - xây dựng thành công trình hiện đại nhiều tầng với màu sắc ấm áp, tích hợp cây xanh và áp dụng các nghi thức carbon thấp.
"Quá trình điều chỉnh dự án, bổ sung 2 tòa tháp ở khu B, chủ đầu tư đã phối hợp cùng tổ dân phố, UBND phường Khương Đình tổ chức lấy ý kiến công khai, niêm yết tại 5 điểm trên địa bàn phường. Tại cuộc họp trao đổi lấy ý kiến, sau khi được nghe giải thích về mô hình Nhà tang lễ Thanh Xuân, người dân đều bày tỏ ý kiến đồng thuận", ông Sang cho hay.
Ông Nguyễn Đức Hậu, Tổ trưởng Tổ dân phố 14, khu dân cư số 6 phường Khương Đình cho biết, UBND phường và chủ đầu tư đã giải đáp thắc mắc, thông tin đến người dân về Dự án Nhà tang lễ Thanh Xuân với 2 tòa tháp. Nhân dân cũng được tổ chức lấy ý kiến công khai tại 5 điểm trong vòng hơn 1 tháng. Sau khi hiểu về mô hình Nhà tang lễ không lưu trữ tro cốt, cơ bản người dân bày tỏ sự đồng thuận.
Ông Nguyễn Vĩnh Thắng – Đại diện Thanh tra nhân dân, Phó Trưởng ban Công tác Mặt trận Khu dân cư số 6 (phường Khương Đình) cho biết, ông đánh giá rất cao sự cẩn trọng và minh bạch của chủ đầu tư.
Sáng sớm 2/5, khi bình minh vừa ló rạng, không gian Đình Thi (thôn Trung Thành, xã Như Xuân) đã rộn ràng tiếng chiêng trống. Âm thanh dồn dập như đánh thức cả núi rừng, gọi bước chân người dân khắp nơi về trẩy hội.
Dòng người đổ về đình mỗi lúc một đông. Những lá cờ hội rực rỡ phấp phới trong nắng sớm, hòa cùng sắc váy áo truyền thống của phụ nữ Thái, Thổ, tạo nên bức tranh văn hóa sống động. Người khiêng kiệu, người đánh trống, người chuẩn bị lễ vật… tất cả tạo thành nhịp điệu vừa trang nghiêm vừa náo nức, mở đầu cho lễ chính quan trọng nhất của lễ hội.
Lễ hội Đình Thi năm nay diễn ra trong 2 ngày, từ 1 đến 2/5/2026 (tức 15–16/3 năm Bính Ngọ). Từ chiều 1/5, lễ tế cáo đã được tổ chức theo phong tục truyền thống, tiếp đó là hội thi văn nghệ kéo dài đến đêm. Đặc biệt là nghi lễ dâng trâu tế lễ diễn ra lúc nửa đêm – một nghi thức linh thiêng mang đậm dấu ấn tín ngưỡng bản địa.
Sáng 2/5, các nghi lễ chính như dâng hương, rước kiệu, tế lễ được cử hành trong không khí trang trọng. Đoàn rước kiệu nối dài qua các con đường làng, tiếng trống, tiếng chiêng hòa quyện cùng tiếng reo vui của người dân, tạo nên khung cảnh vừa thiêng liêng, vừa gần gũi.
"Chúng tôi rất háo hức. Lễ hội không chỉ để tưởng nhớ tiền nhân mà còn nhắc nhở con cháu về truyền thống uống nước nhớ nguồn, gắn kết cộng đồng", ông Lê Đình Thành, người dân xã Như Xuân, chia sẻ.
Không chỉ là một nghi lễ tín ngưỡng, lễ hội còn là dịp để cộng đồng các dân tộc nơi đây gặp gỡ, giao lưu qua các hoạt động văn nghệ, thể thao. Những điệu múa, lời ca vang lên giữa sân đình, nối dài niềm vui và sự gắn bó qua nhiều thế hệ.
Đình Thi có lịch sử từ thế kỷ 16, gắn với danh tướng Lê Phúc Thành – người theo nghĩa quân Lam Sơn trong cuộc khởi nghĩa chống quân Minh (1416–1427). Sau khi đất nước giành độc lập, ông được phong đất và có công khai khẩn, lập làng, xây dựng vùng đất Như Xuân. Dưới thời vua Lê Thánh Tông, các con của ông tiếp tục cai quản 4 vùng đất, đều được phong chức và lập đền thờ.
Trải qua nhiều biến thiên lịch sử, Đình Thi vẫn là nơi lưu giữ ký ức cộng đồng. Năm 1995, di tích được công nhận là Di tích lịch sử văn hóa cấp tỉnh. Đến năm 2024, Lễ hội Đình Thi chính thức được Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ghi danh là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia.
Nghề làm trống ở khối Xuân Đức, phường Vinh Phú, tỉnh Nghệ An được truyền từ đời này sang đời khác đã hơn 300 năm. Người dân nơi đây chủ yếu sản xuất các loại trống phục vụ đình làng, trường học, nhà thờ họ, chùa chiền hay các đội múa lân dịp lễ hội.
Hơn nửa thế kỷ gắn bó với nghề, ông Nguyễn Văn Lâm là một trong số những người thợ lành nghề cuối cùng của làng. Chỉ vào chiếc trống đang được hoàn thiện, ông Lâm cho biết, để làm ra một chiếc trống đạt chuẩn, người thợ phải trải qua nhiều công đoạn tỉ mỉ. Tuy nhiên, khâu được đánh giá quan trọng nhất là khâu chọn nguyên liệu.
Trống có 2 phần, phần thân và phần mặt trống. Phần thân trống được làm từ gỗ mít già tuyển chọn kỹ lưỡng. Theo các thợ lành nghề trong làng, đây là loại gỗ nhẹ, ít cong vênh và cho âm thanh vang, chắc hơn nhiều loại gỗ khác.
Gỗ sau khi mua về sẽ được xẻ thành từng thanh nhỏ, phơi khô rồi uốn cong để ghép thành tang trống. Công đoạn này đòi hỏi sự chính xác cao bởi chỉ cần sai lệch nhỏ cũng có thể khiến tiếng trống bị ảnh hưởng khi thời tiết thay đổi.
"Mặt trống chủ yếu được sử dụng từ da bò, da bò càng già thì độ bền và âm thanh lại càng tốt. Da sau khi xử lý sẽ được căng đều, phơi kỹ rồi mới đóng lên thân trống. Tùy vào mỗi loại trống khác nhau, số lượng lớp da trống cũng sẽ khác nhau, theo yêu cầu của khách hàng", ông Lâm nói.
Từ những đôi tay thủ công, người dân Xuân Đức đã tạo ra đủ loại trống với kích thước khác nhau, từ những chiếc nhỏ dùng trong trường học đến các loại trống lớn phục vụ đình đám, lễ hội. Thậm chí, có những chiếc trống đường kính lên tới 2m, giá trị lên đến hàng chục triệu đồng.
Nhờ có chất lượng và uy tín lâu năm, sản phẩm của làng nghề được khách hàng ở nhiều địa phương tìm đến đặt mua và giới thiệu đi khắp nơi.
Ngược thời gian về những năm trước đây, từng có thời, tiếng đục đẽo vang lên khắp các xóm. Nhà nào cũng tất bật đục đẽo, đơn hàng làm trống nối tiếp quanh năm. Nhưng hiện tại, cả làng chỉ còn vài hộ còn bám trụ với nghề truyền thống.
Hơn nửa thế kỷ gắn bó với nghề, ông Nguyễn Văn Đức vẫn chưa quên quãng thời gian nhộn nhịp ấy. "Ngày trước khách đến tận nhà đặt trống, làm không kịp bán. Mỗi hộ có vài ba người thợ làm liên tục suốt ngày, giờ thì ít đi nhiều lắm rồi", ông nhớ lại.
Theo ông Đức, hiện nay phần lớn các xưởng chỉ còn một đến hai người duy trì sản xuất. Đơn hàng ít dần, chủ yếu tập trung vào mùa lễ hội hoặc dịp đầu năm. Nhiều thời điểm, người thợ phải sống bằng việc sửa chữa, thay da trống cũ để có thêm thu nhập, còn đơn hàng mới thì rất hiếm.
Cùng chung nỗi trăn trở, ông Nguyễn Văn Lâm cho biết thị trường ngày càng thu hẹp khiến nghề không còn ổn định như trước. "Ngày xưa trống bán đi nhiều nơi, từ Thanh Hóa đến Huế rồi vào tận trong Nam, lúc nào cũng có việc. Bây giờ khách ít, nghề cũng trầm đi nhiều phần", ông Lâm nói.
Không chỉ khó đầu ra, người làm nghề trống ở Xuân Đức còn đối mặt với tình trạng khan hiếm nguyên liệu. Gỗ mít ngày càng khó tìm, giá cả cũng ngày càng cao. Ngoài ra, da bò đẹp cũng không còn nhiều như trước.
Trong khi đó, trên thị trường, các sản phẩm công nghiệp giá rẻ xuất hiện ngày càng nhiều khiến trống thủ công mất dần lợi thế. Thu nhập bấp bênh cũng khiến lớp trẻ không còn mặn mà nối nghiệp cha ông nữa.
Tuy nhiên, với những người thợ lâu năm, làm trống vẫn là nét đẹp đặc trưng của làng. "Dẫu tiếng trống hôm nay không còn vang rền như trước, nhưng với chúng tôi, đó vẫn là thanh âm của truyền thống và cần được gìn giữ", ông Lâm bày tỏ.