Sáng 24/4, với 492/492 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành (chiếm 98,4%), Quốc hội thông qua bổ sung dự toán thu NSNN năm 2024 và phê chuẩn quyết toán ngân sách Nhà nước (NSNN) năm 2024.
Theo đó, bổ sung dự toán thu NSNN năm 2024 là 13.760 tỷ đồng, bao gồm tăng thu ngân sách Trung ương là 3.408 tỷ đồng; tăng thu ngân sách địa phương là 10.352 tỷ đồng.
Đồng thời, phê chuẩn quyết toán NSNN năm 2024 với tổng số thu cân đối NSNN là 3.402.379 tỷ đồng, bao gồm cả số thu chuyển nguồn từ năm 2023 chuyển sang năm 2024, thu kết dư ngân sách địa phương năm 2023, thu từ quỹ dự trữ tài chính theo quy định của Luật NSNN.
Tổng số chi cân đối NSNN là 3.587.655 tỷ đồng, bao gồm cả số chỉ chuyển nguồn từ năm 2024 sang năm 2025.
Bội chi NSNN là 323.308 tỷ đồng, bằng 2,8% GDP, không bao gồm kết dư ngân sách địa phương. Tổng mức vay của NSNN để bù đắp bội chi và trả nợ gốc là 611.200 tỷ đồng.
Quốc hội giao Giao Chính phủ chỉ đạo các Bộ, cơ quan trung ương, UBND các cấp và các đơn vị quản lý thu, chi NSNN; đồng thời, làm rõ nguyên nhân và trách nhiệm người đứng đầu, các tập thể, cá nhân không chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật trong lập, chấp hành dự toán, quyết toán NSNN năm 2024; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.
Chính phủ tiếp tục chấn chỉnh, khắc phục các tồn tại, hạn chế, nâng cao chất lượng lập, quản lý, sử dụng NSNN. Đẩy nhanh việc thực hiện và giải ngân kế hoạch đầu tư công hằng năm; công tác thanh toán khối lượng hoàn thành và quyết toán các chương trình, dự án đầu tư theo đúng quy định của pháp luật.
Quản lý, sử dụng chặt chẽ số tăng thu NSNN gắn với điều hành và xây dựng kế hoạch huy động vốn vay bù đắp bội chi và trả nợ gốc của NSNN bảo đảm tiết kiệm, hiệu quả, đúng quy định của pháp luật.
Quản lý chặt chẽ các khoản chi chuyển nguồn, tạm ứng chi NSNN. Trong năm 2026, tiếp tục xử lý, thu hồi dứt điểm số tạm ứng quá thời hạn quy định; làm rõ các trường hợp không có khả năng thu hồi số kinh phí tạm ứng quá thời hạn quy định.
Thực hiện nghiêm các chế tài xử phạt, xử lý trách nhiệm đối với các tổ chức, cá nhân không thực hiện đúng quy định của pháp luật về NSNN, nghị quyết của Quốc hội trong quản lý, thu hồi số tạm ứng NSNN.
Trước khi đại biểu Quốc hội biểu quyết, báo cáo tiếp thu, giải trình ý kiến của các đại biểu quốc hội, Bộ trưởng Bộ Tài chính Ngô Văn Tuấn cho biết, năm 2024, kết quả thu NSNN vượt dự toán là kết quả của sự phục hồi kinh tế tích cực hơn so với dự kiến tại thời điểm xây dựng dự toán, trong quá trình thực hiện, hiệu quả của các chính sách hỗ trợ và công tác quản lý thu được tăng cường.
Việc tăng thu NSNN trong bối cảnh kinh tế trong nước còn nhiều khó khăn đã giúp Chính phủ giảm bội chi, có thêm nguồn lực để đầu tư phát triển và thực hiện các chính sách an sinh xã hội.
Về công tác quản lý nợ thuế của cơ quan thuế, theo báo cáo, trong tổng số nợ thuế năm 2024 do cơ quan thuế quản lý thì các khoản nợ liên quan đến đất là 63.208 tỷ đồng, chiếm 31,04% tổng số nợ. Số tiền nợ các khoản thu từ đất chiếm tỉ lệ lớn trong tổng nợ, trong đó có rất nhiều khoản nợ do vướng mắc trong quá trình thực hiện các dự án phát sinh do giao đất, cho thuê đất từ phía các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Số tiền chậm nộp thuế đến thời điểm 31/12/2024 là 60.940 tỷ đồng, chiếm 37% tổng số tiền nợ thuế, tăng 53% so với cùng kỳ năm 2023. Nguyên nhân chủ yếu là do một bộ phận doanh nghiệp còn gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, dẫn đến hạn chế về dòng tiền và chậm thực hiện nghĩa vụ thuế.
Gửi câu hỏi tới Cổng thông tin điện tử Bộ Tài chính, công dân Phạm Kiều (trú tỉnh Lâm Đồng) cho biết, chồng bà Kiều là chủ hộ kinh doanh, hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ mua - bán hàng hóa, thiết bị điện tử từ năm 2016.
Tháng 5.2025, chồng bà làm thủ tục chấm dứt hoạt động hộ kinh doanh và ngay trong tháng thành lập công ty TNHH một thành viên do chồng bà làm chủ sở hữu. Công ty hoạt động cùng lĩnh vực như hộ kinh doanh trước đây, đăng ký tại chính địa điểm kinh doanh cũ, đáp ứng các tiêu chí của doanh nghiệp nhỏ và vừa.
Bà Kiều hỏi, trường hợp doanh nghiệp được thành lập từ việc chấm dứt hộ kinh doanh trong cùng năm, cùng địa điểm, cùng ngành nghề và cùng một chủ sở hữu như trên có được hưởng ưu đãi miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm đầu hay không?
Trả lời vấn đề này, Thuế cơ sở 9 tỉnh Lâm Đồng cho biết, theo quy định tại điều 7 Nghị định 20/2026/NĐ-CP, doanh nghiệp nhỏ và vừa đăng ký kinh doanh lần đầu được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp trong 3 năm kể từ khi được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu.
Thời gian miễn thuế được tính liên tục từ năm đầu tiên được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp lần đầu.
Trường hợp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp được cấp trước thời điểm Nghị quyết 198/2025/QH15 có hiệu lực thi hành (ngày 17.5.2025 - PV) mà còn thời gian áp dụng ưu đãi thì doanh nghiệp được hưởng ưu đãi theo quy định tại khoản này cho thời gian còn lại.
Quy định ưu đãi nêu trên không áp dụng đối với các trường hợp sau: doanh nghiệp thành lập mới do sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi chủ sở hữu, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp.
Doanh nghiệp thành lập mới mà người đại diện theo pháp luật (trừ trường hợp người đại diện theo pháp luật không phải là thành viên góp vốn), thành viên hợp danh hoặc người có số vốn góp cao nhất đã tham gia hoạt động kinh doanh với vai trò là người đại diện theo pháp luật, thành viên hợp danh hoặc người có số vốn góp cao nhất trong các doanh nghiệp đang hoạt động hoặc đã giải thể nhưng chưa được 12 tháng tính từ thời điểm giải thể doanh nghiệp cũ đến thời điểm thành lập doanh nghiệp mới.
Theo trình bày của bà Kiều, chồng bà là chủ hộ kinh doanh hoạt động lĩnh vực thương mại, dịch vụ mua - bán hàng hóa, thiết bị điện tử từ năm 2016, đã giải thể trong năm 2025 và thành lập công ty TNHH một thành viên do chồng bà làm chủ sở hữu vào tháng 5.2025.
Nếu công ty đáp ứng các tiêu chí kinh doanh nhỏ và vừa, thì được hưởng các ưu đãi về thuế theo quy định tại Nghị định 20/2026/NĐ-CP và Nghị quyết 198/2025/QH15.
Bộ Tài chính vừa ban hành Quyết định 1109/QĐ-BTC công bố thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung, bãi bỏ trong lĩnh vực quản lý thuế, hải quan thuộc phạm vi chức năng quản lý của Bộ Tài chính.
Theo đó, có 7 thủ tục hành chính được sửa đổi, bổ sung và 8 thủ tục hành chính bị bãi bỏ trong lĩnh vực quản lý thuế; 1 thủ tục hành chính được bãi bỏ trong lĩnh vực hải quan.
7 thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý thuế được sửa đổi, bổ sung gồm: khai/khai quyết toán phí, lệ phí khác thuộc ngân sách nhà nước; khai thuế tài nguyên, khai quyết toán thuế tài nguyên đối với cơ sở khai thác; khai phí/khai quyết toán phí bảo vệ môi trường đối với khai thác khoáng sản.
Đăng ký thuế lần đầu đối với người nộp thuế là cá nhân, người phụ thuộc; khai thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân có thu nhập từ nhận thừa kế, quà tặng là các tài sản khác phải đăng ký quyền sở hữu, không phải là bất động sản; khai thuế thu nhập cá nhân tháng/quý của tổ chức, cá nhân trả thu nhập khấu trừ thuế đối với tiền lương, tiền công.
Khai thuế thu nhập cá nhân tháng/quý đối với cá nhân có thu nhập từ tiền lương, tiền công (bao gồm cả cá nhân nhận thưởng bằng cổ phiếu từ đơn vị sử dụng lao động) thuộc diện khai thuế thu nhập cá nhân trực tiếp với cơ quan thuế.
8 thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản lý thuế bị bãi bỏ, gồm: mua/xử lý mất, cháy, hỏng/tiêu hủy hóa đơn đặt in mua của cơ quan thuế; báo cáo tình hình sử dụng hóa đơn đặt in đã mua của cơ quan thuế và bảng kê hóa đơn sử dụng trong kỳ/gửi dữ liệu hóa đơn đến cơ quan thuế đối với trường hợp mua hóa đơn của cơ quan thuế.
Tiêu hủy biên lai; báo cáo biên lai đặt in, tự in trong trường hợp mất, cháy, hỏng; thông báo về việc ủy nhiệm lập biên lai thu tiền phí, lệ phí/thông báo về việc chấm dứt ủy nhiệm lập biên lai thu tiền phí, lệ phí đối với biên lai đặt in, tự in.
Thông báo/điều chỉnh thông tin thông báo phát hành biên lai đặt in/tự in; báo cáo tình hình sử dụng biên lai thu phí, lệ phí; đăng ký cấp, cấp lại giấy xác nhận kinh doanh, dịch vụ làm thủ tục về thuế/thông báo thay đổi thông tin nhân viên đại lý thuế/báo cáo tình hình hình hoạt động kinh doanh dịch vụ làm thủ tục về thuế.
Quyết định có hiệu lực thi hành kể từ ngày 8.5.
Chi tiết quyết định, trong đó bao gồm nội dung cụ thể của các thủ tục hành chính trong lĩnh vực quản ký thuế được sửa đổi, bổ sung xem
Liên quan tới tranh cãi về vấn đề hộ kinh doanh, cá nhân kinh doanh (hộ kinh doanh) có doanh thu năm từ 500 triệu đồng trở xuống có được sử dụng hóa đơn điện tử hay không, chiều nay 17.4, Cục Thuế (Bộ Tài chính) chính thức đưa ra hướng dẫn.
Đơn vị này cho biết, theo quy định tại Nghị định 70/2025/NĐ-CP và Nghị định 68/2026/NĐ-CP, chính sách hóa đơn điện tử đối với hộ kinh doanh được thiết kế theo ngưỡng doanh thu nhằm bảo đảm phù hợp với quy mô hoạt động và mức độ tuân thủ của người nộp thuế.
Hộ kinh doanh có doanh thu từ 1 tỉ đồng/năm trở lên thuộc diện bắt buộc áp dụng hóa đơn điện tử.
Đối với hộ kinh doanh có quy mô nhỏ, doanh thu thấp (bao gồm nhóm có doanh thu từ 500 triệu đồng/năm trở xuống), pháp luật không quy định thuộc diện bắt buộc sử dụng hóa đơn điện tử.
Thời gian qua, triển khai hóa đơn điện tử đã mang lại nhiều lợi ích thiết thực khi nhiều hộ kinh doanh dù doanh thu từ 500 triệu đồng/năm trở xuống vẫn có nhu cầu sử dụng hóa đơn điện tử, nhằm chuyên nghiệp trong giao dịch với người tiêu dùng, khách hàng là doanh nghiệp tổ chức.
Thực tế, các hộ kinh doanh này đã đăng ký sử dụng hóa đơn điện tử theo quy định tại Nghị định 70/2025/NĐ-CP và đã được cơ quan thuế chấp thuận sử dụng hóa đơn theo đúng quy định.
Cục Thuế không hạn chế các nhu cầu hợp pháp này, đồng thời đang tổng hợp vướng mắc từ thực tiễn để báo cáo cấp có thẩm quyền hoàn thiện quy định, bảo đảm thuận lợi cho hộ kinh doanh và thống nhất trong tổ chức thực hiện.
Để bảo đảm thống nhất trong triển khai thực hiện, tránh gây hiểu nhầm cho người nộp thuế, trong ngày 17.4, Cục Thuế đã có văn bản chỉ đạo các cơ quan thuế địa phương không yêu cầu hộ kinh doanh có doanh thu từ 500 triệu đồng/năm trở xuống ngừng sử dụng hóa đơn điện tử nếu hộ có nhu cầu và đang sử dụng hợp pháp.
Các hộ kinh doanh đang sử dụng hóa đơn điện tử được tiếp tục sử dụng, không phải thực hiện thủ tục thông báo bổ sung với cơ quan thuế.
Đối với các văn bản, thông báo, quyết định xử phạt hoặc nội dung hướng dẫn đã ban hành tại một số thuế cơ sở có liên quan đến việc sử dụng hóa đơn điện tử của hộ kinh doanh có doanh thu từ 500 triệu đồng/năm trở xuống, Cục Thuế yêu cầu cơ quan thuế địa phương khẩn trương rà soát, đối chiếu với quy định hiện hành và hướng dẫn của Cục Thuế để xử lý theo đúng thẩm quyền.
Trường hợp phát hiện nội dung chưa phù hợp thì kịp thời thu hồi, hủy bỏ, thay thế theo quy định, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của người nộp thuế.
Trước đó, một số cơ quan thuế địa phương đã thông báo hoặc hướng dẫn hộ kinh doanh có doanh thu từ 500 triệu đồng/năm trở xuống dừng sử dụng hóa đơn điện tử; đồng thời cho rằng trường hợp tiếp tục sử dụng hóa đơn sẽ bị xác định là hành vi sử dụng hóa đơn không hợp pháp và bị xử phạt.
Nhiều chuyên gia về thuế, kế toán phân tích, đến hiện tại, chưa có bất kỳ văn bản pháp lý nào quy định hộ kinh doanh thuộc diện miễn thuế không được sử dụng hóa đơn điện tử. Bởi vậy, việc cơ quan thuế địa phương đề cập hành vi và mức phạt thuộc trường hợp này là không phù hợp, gây phát sinh nhiều vướng mắc.
Theo ông Lê Văn Tuấn, Giám đốc Công ty TNHH Kế toán thuế Keytas, cuối năm 2025 và đầu năm 2026, hộ kinh doanh còn đang được khuyến khích sử dụng hóa đơn điện tử. Thay đổi đột ngột chính sách sẽ gây khó khăn cho môi trường pháp lý, môi trường kinh doanh, gián tiếp làm tăng chi phí tuân thủ của người kinh doanh.
"Trong giai đoạn giao thời giữa chính sách thuế cũ và mới (chuyển từ khoán thuế sang kê khai thuế), Cục Thuế từng nhiều lần khẳng định tinh thần, thời gian đầu, ưu tiên hướng dẫn và hỗ trợ hộ kinh doanh không xử phạt.
Do đó, không chỉ trong việc sử dụng hóa đơn điện tử này mà cả những vấn đề phát sinh liên quan khác, cơ quan thuế cần có cách làm thống nhất, làm rõ quan điểm không xử phạt hành chính với những vi phạm của hộ kinh doanh trong giai đoạn đầu, trừ khi đó là hành vi trốn thuế có chủ đích", ông Tuấn đề xuất.