Theo báo cáo tình hình kinh tế – xã hội tháng 4 và 4 tháng năm 2026 của Cục Thống kê (Bộ Tài chính) công bố sáng 3/5, tính đến ngày 27/4/2026, tổng vốn đầu tư nước ngoài đăng ký vào Việt Nam bao gồm: vốn đăng ký cấp mới, vốn đăng ký điều chỉnh và giá trị góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài đạt 18,24 tỷ USD, tăng 32% so với cùng kỳ năm trước.
Cụ thể, vốn đăng ký cấp mới có 1.249 dự án được cấp phép với số vốn đăng ký đạt 12,15 tỷ USD, tăng 3,7% so với cùng kỳ năm trước về số dự án và gấp 2,2 lần về số vốn đăng ký.
Trong đó, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo được cấp phép mới đầu tư trực tiếp nước ngoài lớn nhất với số vốn đăng ký đạt 8,12 tỷ USD, chiếm 66,8% tổng vốn đăng ký cấp mới; sản xuất, phân phối điện, khí, nước, điều hòa đạt 2,31 tỷ USD, chiếm 19,0%; các ngành còn lại đạt 1,72 tỷ USD, chiếm 14,2%.
Đáng chú ý, vốn FDI thực hiện tại Việt Nam 4 tháng năm 2026 ước đạt 7,40 tỷ USD, tăng 9,8% so với cùng kỳ năm trước. Đây là số vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện cao nhất của 4 tháng đầu năm trong 5 năm qua.
Trong đó: lĩnh vực công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 6,12 tỷ USD, chiếm 82,7% tổng vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện; hoạt động kinh doanh bất động sản đạt 540,5 triệu USD, chiếm 7,3%; sản xuất, phân phối điện, khí đốt, nước nóng, hơi nước và điều hòa không khí đạt 270,6 triệu USD, chiếm 3,7%.
Cục Thống kê cho biết, trong tổng vốn “đổ vào” Việt Nam, vốn đăng ký điều chỉnh có 316 lượt dự án đã cấp phép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư tăng thêm 3,13 tỷ USD, giảm 51% so với cùng kỳ năm trước.
Nếu tính cả vốn đăng ký mới và vốn đăng ký điều chỉnh của các dự án đã cấp phép từ các năm trước thì vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài đăng ký vào ngành công nghiệp chế biến, chế tạo đạt 10,49 tỷ USD, chiếm 68,6% tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm; sản xuất, phân phối điện, khí, nước, điều hòa đạt 2,31 tỷ USD, chiếm 15,1%; các ngành còn lại đạt 2,48 tỷ USD, chiếm 16,3%.
Ngoài ra, vốn đăng ký góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài có 976 lượt với tổng giá trị góp vốn 2,96 tỷ USD, tăng 61,9% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, có 325 lượt góp vốn, mua cổ phần làm tăng vốn điều lệ của doanh nghiệp với giá trị góp vốn là 445,13 triệu USD và 651 lượt nhà đầu tư nước ngoài mua lại cổ phần trong nước mà không làm tăng vốn điều lệ với giá trị 2,51 tỷ USD.
Đối với hình thức góp vốn, mua cổ phần của nhà đầu tư nước ngoài, vốn đầu tư vào bán buôn và bán lẻ, sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy đạt 1,89 tỷ USD, chiếm 63,9% giá trị góp vốn; hoạt động chuyên môn, khoa học công nghệ đạt 321 triệu USD, chiếm 10,9%; ngành còn lại 747 triệu USD, chiếm 25,2%…
Năm 2026 được dự báo là giai đoạn phục hồi mạnh mẽ của ngành xây dựng. Thị trường đang đón nhận nhiều động lực tăng trưởng từ làn sóng đầu tư công quy mô lớn với tổng vốn đầu tư công dự kiến vượt 1,1 triệu tỷ đồng, cùng hàng loạt dự án hạ tầng trọng điểm như: sân bay, đường sắt và giao thông liên vùng, nhu cầu về nguồn lực tài chính cho các chủ đầu tư và nhà thầu sẽ tăng mạnh. Tuy nhiên, song hành với cơ hội là những thách thức về chi phí nguyên vật liệu, áp lực chuyển đổi xanh và yêu cầu quản trị tài chính ngày càng chặt chẽ.
Trong bối cảnh đó, các giải pháp tài chính đồng bộ từ ngân hàng trở thành yếu tố quan trọng giúp doanh nghiệp xây dựng tối ưu dòng vốn và nâng cao năng lực triển khai dự án. Nắm bắt xu hướng này, VietinBank đã triển khai gói giải pháp SMART PACK nhằm hỗ trợ chủ đầu tư và nhà thầu xây lắp tiếp cận nguồn vốn hiệu quả, giảm chi phí và tăng tốc thực hiện các dự án lớn.
SMART PACK tập trung vào hai giá trị cốt lõi: tối ưu dòng vốn và ưu đãi phí toàn diện, mang đến một hệ sinh thái sản phẩm, dịch vụ tài chính đồng bộ cho doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực xây dựng.
Cụ thể, để nhỗ trợ doanh nghiệp tối ưu dòng vốn, SMART PACK cung cấp các sản phẩm tài trợ và bảo lãnh chuyên biệt, phù hợp với đặc thù của ngành xây lắp – nơi các dự án thường có chu kỳ vốn dài và yêu cầu nhiều hình thức bảo đảm tài chính khác nhau. Doanh nghiệp được tiếp cận các giải pháp như thanh toán trước hạn BCT, bảo lãnh vay vốn, bảo lãnh thanh toán, UPAS L/C, Standby L/C… Những công cụ này giúp doanh nghiệp chủ động hơn trong quản lý dòng tiền, tăng khả năng thanh toán cho đối tác, đồng thời cải thiện uy tín tài chính trong quá trình triển khai dự án.
Bên cạnh đó, khách hàng doanh nghiệp tham gia gói SMART PACK còn có cơ hội tiếp cận nguồn vốn vay ưu đãi, tạo điều kiện thuận lợi để doanh nghiệp bổ sung nguồn lực tài chính phục vụ thi công, mua sắm vật tư, thiết bị hoặc mở rộng quy mô dự án. Việc tối ưu cấu trúc vốn không chỉ giúp doanh nghiệp giảm áp lực dòng tiền ngắn hạn mà còn tăng khả năng tận dụng các cơ hội đầu tư mới.
Song song với đó, SMART PACK còn mang đến hệ thống ưu đãi phí toàn diện, giúp doanh nghiệp tiết giảm đáng kể chi phí tài chính trong quá trình hoạt động. Đơn cử, doanh nghiệp sẽ được miễn 100% phí bảo lãnh dự thầu, đồng thời hưởng ưu đãi phí đối với nhiều dịch vụ quan trọng như bảo lãnh bậc thang, chuyển tiền ngoại tệ, định danh tài khoản, dịch vụ chi lương, và nền tảng ngân hàng số VietinBank eFAST.
Đặc biệt, chương trình còn dành tặng 200 gói thuê bao bảo lãnh và thuê bao L/C, giúp doanh nghiệp linh hoạt hơn trong việc sử dụng các dịch vụ tài trợ thương mại và bảo lãnh ngân hàng – những công cụ không thể thiếu trong hoạt động đấu thầu và triển khai dự án xây dựng.
Hơn thế nữa, SMART PACK còn mang lại ưu đãi tỷ giá lên tới 250 điểm, giúp doanh nghiệp tiết kiệm chi phí khi thực hiện các giao dịch mua bán ngoại tệ, đặc biệt trong bối cảnh nhiều dự án xây dựng có liên quan đến nhập khẩu máy móc, thiết bị hoặc thanh toán với đối tác quốc tế.
Ông Trần Thanh Dương, đại diện một doanh nghiệp quan tâm đến chương trình cho biết: "Năm nay chúng tôi có trúng thầu cung cấp vật tư cho một số dự án hạ tầng lớn, nhưng có tiến độ triển khai rất sát sao. Các chính sách ưu đãi để tối ưu dòng vốn và phí trong gói SMART PACK thực sự giúp ích chúng tôi rất nhiều, giúp doanh nghiệp dễ dàng đáp ứng nguồn vật tư theo tiến độ dự án khi giá cả liên tục theo thang".
Với sự kết hợp giữa các giải pháp tối ưu dòng vốn, dịch vụ bảo lãnh, ưu đãi phí và nền tảng ngân hàng số hiện đại, SMART PACK được kỳ vọng trở thành trợ lực tài chính hiệu quả cho các chủ đầu tư và nhà thầu xây lắp. Từ đó, không chỉ giúp doanh nghiệp tối ưu chi phí và dòng tiền, mà còn nâng cao năng lực cạnh tranh, tăng tốc triển khai dự án và phát triển bền vững trong môi trường kinh doanh ngày càng nhiều biến động.
TKV đã hoàn thành và vượt kế hoạch điều hành sản xuất, tiêu thụ than tháng 4. Trong đó, than nguyên khai sản xuất đạt 3,4 triệu tấn, bằng 108% kế hoạch tháng; đất đá bóc xúc đạt 11,62 triệu m3, bằng 102,8% kế hoạch tháng; than tiêu thụ đạt 5,1 triệu tấn, bằng 101,5% kế hoạch tháng, trong đó than cho sản xuất điện đạt 4,2 triệu tấn, bằng 102% kế hoạch tháng.
Tháng 5, TKV đặt mục tiêu sản xuất than nguyên khai trên 3 triệu tấn; than tiêu thụ 5,3 triệu tấn…
Chỉ đạo tại hội nghị, ông Nguyễn Huy Nam nhấn mạnh trong tháng 5, dự báo nhu cầu than tiếp tục tăng, thời tiết vào mùa nắng nóng, có mưa lớn, giông lốc bất thường ảnh hưởng đến sản xuất lộ thiên; giá nhiên liệu vẫn ở mức cao và yêu cầu các đơn vị chấp hành nghiêm kỷ luật điều hành, bám sát kế hoạch và chỉ đạo của tập đoàn, tập trung đẩy mạnh sản xuất, tiêu thụ, chuẩn bị chân hàng, hoàn thành các chỉ tiêu kế hoạch đề ra.
Các đơn vị phối hợp với công đoàn cung cấp thực hiện hoàn thành tốt các nội dung hoạt động Tháng hành động về An toàn - Vệ sinh lao động - Tháng Công nhân năm 2026.
Theo EVN, tổng số công tơ điện phục vụ mua bán, giao nhận điện có áp dụng biểu giá điên theo thời gian sử dụng khoảng 1,25 triệu công tơ. Đây là khối lượng rất lớn, liên quan trực tiếp đến công tác đo đếm, tính toán hóa đơn và thanh toán điện năng trên toàn hệ thống.
Hơn nữa, chỉ một phần công tơ có khả năng hỗ trợ cấu hình linh hoạt nhiều biểu giá theo thời gian hoặc theo mùa, còn phần lớn công tơ hiện nay được cài đặt theo khung giờ cố định. Do đó, khi thay đổi khung giờ cao điểm, thấp điểm và giờ bình thường sẽ phải thực hiện cấu hình lại công tơ, thông qua hai hình thức: cài đặt từ xa qua hệ thống và cài đặt trực tiếp tại hiện trường.
Theo tính toán sơ bộ, thời gian triển khai cài đặt lại công tơ theo khung giờ mới tại một số đơn vị có quy mô lớn có thể kéo dài đến khoảng 90 ngày.
Trường hợp khung giờ cao điểm, thấp điểm được điều chỉnh theo mùa (2 lần/năm), khối lượng công việc phát sinh sẽ rất lớn. Bởi sẽ phải cập nhật cấu hình cho số lượng lớn công tơ khách hàng; đồng bộ dữ liệu giữa công tơ với hệ thống thu thập dữ liệu đo đếm từ xa, hệ thống quản lý khách hàng và tính hóa đơn (CMIS) và các hệ thống liên quan.
EVN cho rằng, khối lượng công việc phát sinh sẽ rất lớn gồm cập nhật cấu hình, đồng bộ dữ liệu, tính hóa đơn... tiềm ẩn rủi ro sai sót và phát sinh khiếu nại. Do vậy, EVN đề nghị chưa áp dụng điều chỉnh khung giờ theo mùa, hạn chế tối đa việc thay đổi nhiều lần trong năm để giảm chi phí, khối lượng công việc và rủi ro trong triển khai.
Theo đó, các khung giờ được EVN đề xuất cụ thể, giờ bình thường, từ thứ hai đến thứ bảy sẽ từ 6 - 17 giờ 30 và từ 22 giờ 30 - 24 giờ; ngày chủ nhật từ 6 - 24 giờ.
Giờ cao điểm tính từ thứ hai đến thứ bảy, khung giờ từ 17 giờ 30 - 22 giờ 30 (5 giờ); ngày chủ nhật không có giờ cao điểm.
Giờ thấp điểm tất cả các ngày trong tuần, thời gian từ 0 - 6 giờ.
Quy định về khung giờ đề áp giá điện được áp dụng cho khách hàng sử dụng điện cho mục đích sản xuất, kinh doanh, hoặc có sản lượng điện sử dụng trung bình 3 tháng liên tục từ 2.000 kWh trở lên; áp dụng cho các đơn vị bán lẻ điện tại khu công nghiệp, cụm công nghiệp; các đơn vị mua điện để bán lẻ điện ngoài mục đích sinh hoạt tại các tổ hợp thương mại, dịch vụ.
EVN cũng đánh giá việc điều chỉnh khung giờ cao điểm mang lại tác động tích cực khi tạo tín hiệu giá điện rõ ràng, khuyến khích khách hàng dịch chuyển nhu cầu sử dụng sang giờ thấp điểm và giờ bình thường. Từ đó giảm chi phí chung hệ thống điện, giúp an toàn hệ thống, giảm giá thành sản xuất điện và đặc biệt giảm nguy cơ thiếu điện vào các giờ cao điểm chiều.
Trước đó, tại dự thảo quyết định về việc quy định khung giờ cao điểm, thấp điểm và giờ bình thường của hệ thống điện quốc gia, Bộ Công thương đề xuất khung giờ cao điểm thay đổi theo từng mùa trong năm. Cụ thể, từ tháng 1 - 4 và từ tháng 9 - 12, khung giờ cao điểm từ 14 - 19 giờ trong các ngày từ thứ hai đến thứ bảy (5 giờ).
Tháng 5 - 8, giờ cao điểm gồm hai khung 14 giờ 30 - 16 giờ 30 và 19 giờ 30 - 22 giờ 30 trong các ngày từ thứ hai đến thứ bảy (5 giờ); ngày chủ nhật không có giờ cao điểm.
Khung giờ bình thường áp dụng cho các khung giờ còn lại trong ngày. Giờ thấp điểm tất cả các ngày trong tuần, thời gian từ 0 - 6 giờ.