Sáng 4.5, Tòa phúc thẩm TAND tối cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm bị cáo Đặng Thị Thanh Hương (52 tuổi, trú tại Hà Nội) về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.
Phiên tòa được mở do bị cáo có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, phía bị hại là bà V.T.H (trú tại Hà Nội) cũng có đơn đề nghị xem xét lại một số vấn đề về tố tụng.
Tuy nhiên, tại phần thủ tục, một số người liên quan vắng mặt, nên hội đồng xét xử quyết định hoãn, thời gian mở lại phiên tòa sẽ thông báo sau.
Nội dung vụ án cho thấy, bị cáo Hương làm nghề kinh doanh bất động sản, thông qua mối quan hệ xã hội nên quen biết bà H. Bị cáo giới thiệu có chồng làm tổng giám đốc một công ty bất động sản, nhiều quan hệ với lãnh đạo TP.Hà Nội.
Khoảng tháng 8.2018, bà H. thấy khu đất trên phố Trần Hưng Đạo (vốn là biệt thự cũ thuộc sở hữu nhà nước) có có vị trí đẹp nên muốn đầu tư xây dựng văn phòng cho thuê.
Dù biết rõ tình trạng pháp lý song bị cáo Hương vẫn nói có thể giúp bà H. mua được toàn bộ khu đất với giá 400 triệu đồng/m2. Tin lời, bà H. chuyển 5 tỉ đồng đặt cọc.
Bị cáo sau đó soạn thảo hợp đồng, nhờ một cựu cán bộ ký vào mục người chứng kiến, đồng thời gửi các hình ảnh thể hiện bị cáo đang ngồi với lãnh đạo UBND Q.Hoàn Kiếm (cũ).
Bị dẫn dắt bởi “ma trận” lừa dối, bà H. nhiều lần chuyển tiền cho bị cáo Hương, tổng cộng hơn 229 tỉ đồng, không chỉ để mua thửa đất trên phố Trần Hưng Đạo mà còn mua thêm một thửa khác trên phố Ngô Quyền (địa chỉ không có thật).
Sau khi nhận tiền, bị cáo thực hiện hàng trăm giao dịch chuyển tiền tới nhiều tài khoản khác nhau, cùng đó là rút tiền mặt để trả nợ, chi tiêu cá nhân và mua bất động sản.
Giữa tháng 7.2019, bị cáo đưa cho bà H. giấy “thông báo trúng thầu” nhưng không ghi ngày tháng, sau đó thu lại. Bà H. chờ mãi không được chuyển nhượng các thửa đất, gặng hỏi thì bị cáo cam kết rồi lại “mất hút”, nên đành làm đơn tố giác.
Quá trình điều tra, bị cáo không thừa nhận hành vi của mình, nói không có việc mua bán đất mà chỉ vay tiền để kinh doanh. Tuy nhiên, cơ quan tố tụng khẳng định đủ cơ sở kết luận bị cáo chiếm đoạt hơn 229 tỉ đồng của bị hại.
Tại phiên sơ thẩm, sau khi được hội đồng xét xử và viện kiểm sát phân tích, bị cáo mới thừa nhận nội dung truy tố. Tòa tuyên phạt mức án chung thân, buộc bị cáo bồi thường cho bị hại hơn 229 tỉ đồng.
Bị hại là bà H. không đồng tình với số tiền mà cáo trạng xác định bị cáo đã chiếm đoạt của mình. Bà đưa ra bằng chứng, cho rằng đã chuyển cho bị cáo hơn 533 tỉ đồng; đề nghị tòa và viện kiểm sát làm rõ khoản tiền này, bị cáo đã nhận và chuyển đi những đâu, sử dụng vào những mục đích gì…
Về vấn đề trên, tòa quyết định trách nhiệm bồi thường của bị cáo như đã nêu. Riêng phần chênh lệch như bị hại đã trình bày, hội đồng xét xử quyết định dành quyền khởi kiện trong một vụ án dân sự khác.
Tin Gốc: Thanh Niên

Bà Trần Ngọc Sen (76 tuổi, khối phố Bàn Thạch, P.Hương Trà, TP.Đà Nẵng) trước đây làm giấy tờ phải đi nhiều lần, có khi thiếu giấy tờ lại phải về bổ sung. Nay cán bộ hướng dẫn rất kỹ, hồ sơ gần như hoàn chỉnh ngay từ đầu. Bà kể, có những thủ tục chỉ cần đi một lần là xong. "Người dân đánh giá rất cao cách làm việc của chính quyền mới khi tinh gọn, hiệu quả và gần dân hơn", bà nói.
Với P.Hương Trà, địa bàn đồng bằng với mật độ dân cư đông, mô hình chính quyền địa phương 2 cấp được triển khai trong bối cảnh khối lượng công việc tăng cao, trong khi cơ sở vật chất và dữ liệu chưa đồng bộ hoàn toàn. Đây là thách thức không nhỏ đối với đội ngũ cán bộ, công chức.
Áp lực công việc rất lớn, đặc biệt là trong lĩnh vực đất đai, nhưng cán bộ phường luôn nỗ lực hết mình để không làm gián đoạn quá trình giải quyết thủ tục. Minh chứng rõ ràng nhất là chỉ sau gần 1 tháng vận hành chính thức, phường đã trao 35 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu cho người dân. Đến nay, số trường hợp được cấp giấy lần đầu đã gần chạm mốc 100.
Quy trình xử lý hồ sơ cũng trở nên minh bạch, rõ ràng hơn. Người dân có thể theo dõi tiến độ giải quyết thông qua hệ thống số hóa hoặc được hướng dẫn cụ thể ngay tại bộ phận tiếp nhận. Cũng đã có sự thay đổi lớn trong mối quan hệ giữa chính quyền và người dân: trước đây người dân đôi khi e ngại khi tiếp cận cơ quan công quyền (do khoảng cách về thủ tục), nay sự gần gũi đã được cải thiện rõ rệt.
Mô hình 1 cửa điện tử đang là điểm sáng tại P.Hương Trà khi hầu hết các thủ tục đều được tiếp nhận và xử lý trên phần mềm, giúp giảm thiểu giấy tờ, tiết kiệm thời gian và hạn chế sai sót. "Tôi nộp hồ sơ qua mạng, thanh toán cũng trực tuyến nên không cần phải nghỉ làm để đi lại. Có vướng mắc thì gọi điện hoặc nhắn tin là được cán bộ hỗ trợ ngay. Chính quyền bây giờ rất gần gũi, không còn cảm giác xa cách như trước", anh Nguyễn Văn Nhật (36 tuổi, ở P.Hương Trà), chủ một hộ kinh doanh nhỏ, chia sẻ.
Nếu Hương Trà là câu chuyện của một phường đồng bằng với áp lực lớn về khối lượng công việc, thì Trà Tân lại là hình ảnh của một xã miền núi nỗ lực vượt khó để đưa dịch vụ công đến gần hơn với người dân.
Xã Trà Tân chủ yếu là người đồng bào dân tộc thiểu số, nên hình ảnh cán bộ "cầm tay chỉ việc" không còn xa lạ do phần lớn người dân còn lúng túng trong việc sử dụng dịch vụ công trực tuyến. Cán bộ phải dành nhiều thời gian để hướng dẫn từng bước, là yếu tố then chốt giúp nâng cao tỷ lệ hồ sơ trực tuyến. Ông Hồ Văn Bảy (53 tuổi, ở xã Trà Tân) cho hay: "Nhà tôi ở xa trung tâm, trước đây mỗi lần đi làm giấy tờ là cả ngày. Giờ xã giải quyết được nhiều việc ngay tại chỗ, đỡ vất vả hơn rất nhiều. Ngoài ra, cán bộ thì nhiệt tình, hỏi gì cũng được giải thích rõ ràng".
Những ngày đầu áp dụng mô hình mới, cán bộ vùng cao Trà Tân gặp một số khó khăn do khối lượng công việc tăng lên. Tuy nhiên, nhờ được tập huấn và hướng dẫn kịp thời, mọi việc dần đi vào ổn định. Theo bà Hồ Thị Minh Diệu, Phó giám đốc Trung tâm phục vụ hành chính công xã Trà Tân, hiện nay quy trình đã rõ ràng hơn, trách nhiệm cũng cụ thể hơn, nên công việc trôi chảy hơn trước. "Nhiều người dân chưa quen với công nghệ, chúng tôi phải hướng dẫn từ việc tạo tài khoản, nộp hồ sơ đến thanh toán trực tuyến. Dù vất vả hơn, nhưng đổi lại người dân dần quen và chủ động", bà Diệu nói.
Dù điều kiện khác nhau, nhưng phường đồng bằng (Hương Trà) và xã miền núi (Trà Tân) đều có điểm chung: sự thay đổi trong tư duy phục vụ. Chính quyền không còn đứng trên, mà đã "đi cùng" người dân, hướng đến một mục tiêu là làm sao để người dân hài lòng.
Ông Trần Trung Hậu, Chủ tịch UBND P.Hương Trà, cho biết khi người dân đến làm thủ tục, cán bộ địa phương có thể xử lý nhanh chóng, không phải chờ xin ý kiến cấp trên quá nhiều như trước do có sự phân cấp mạnh hơn cho cơ sở. Trách nhiệm của từng cán bộ và niềm tin từ phía người dân cũng được nâng lên. "Cải cách hành chính không chỉ là cắt giảm thủ tục mà còn là thay đổi tư duy phục vụ. Cán bộ phải coi người dân là trung tâm, là đối tượng được phục vụ, từ đó điều chỉnh cách làm việc sao cho hiệu quả và thân thiện hơn", ông Hậu khẳng định.
Theo ông Hậu, địa phương đang nỗ lực xây dựng nền hành chính hiện đại, minh bạch và phục vụ. Ở đó, 1 cửa không chỉ là mô hình mà là cam kết; trực tuyến không chỉ là công nghệ mà là công cụ để rút ngắn khoảng cách; gần dân không chỉ là khẩu hiệu mà là hành động cụ thể mỗi ngày. "Chúng tôi luôn tâm niệm rằng, mỗi hồ sơ không chỉ là một thủ tục mà là quyền lợi của người dân. Giải quyết nhanh, đúng và thuận tiện chính là cách tốt nhất để phục vụ nhân dân", ông Hậu nhấn mạnh.
Việc phân cấp mạnh cho cơ sở có ý nghĩa rất lớn đối với địa bàn miền núi như Trà Tân. Ông Lê Minh Chiến, Chủ tịch UBND xã Trà Tân, cho rằng cải cách hành chính ở miền núi không chỉ dừng ở việc tinh giản thủ tục mà còn phải gắn với điều kiện cụ thể của địa phương. Ví dụ, việc ứng dụng công nghệ thông tin cần có sự linh hoạt, kết hợp giữa trực tuyến và trực tiếp để phù hợp với trình độ tiếp cận của người dân. "Lãnh đạo xã luôn yêu cầu cán bộ phải gần dân, hiểu dân và hỗ trợ đến nơi đến chốn", ông Chiến nói. (còn tiếp)
Tin Gốc: Thanh Niên

Sáng 25/4, Phó thủ tướng Thường trực Phạm Gia Túc cùng lãnh đạo các bộ, ngành, lãnh đạo TP Đà Nẵng và liên danh nhà đầu tư đã nhấn nút khởi công dự án "Đầu tư xây dựng tổng thể bến cảng Container Liên Chiểu", dưới chân đèo Hải Vân (phường Hải Vân).
Dự án hạ tầng hàng hải có quy mô vốn lớn kỷ lục tại Đà Nẵng, với gần 2 tỷ USD (khoảng 45.268 tỷ đồng). Siêu dự án được quy hoạch trên diện tích hơn 172 ha. Điểm nhấn là hệ thống 8 bến container có tổng chiều dài cầu cảng lên đến 2.750 m.
Theo thiết kế, cảng có khả năng tiếp nhận các siêu tàu container lớn nhất thế giới hiện nay, trọng tải lên đến 200.000 DWT (tương đương sức chở 18.000 TEU). Ngoài ra, dự án còn bố trí riêng bến sà lan cho tàu 5.000 tấn để tối ưu hóa việc phân phối hàng hóa bằng đường thủy nội địa, giúp giảm giá thành logistics - vốn đang là điểm nghẽn của kinh tế miền Trung.
Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng Nguyễn Mạnh Hùng khẳng định, dự án là "đòn bẩy" chiến lược để thành phố bứt phá, không chỉ hoàn thiện hệ sinh thái logistics liên hoàn mà còn tách bạch hoàn toàn giao thông cảng biển khỏi khu vực đô thị và du lịch, mở rộng không gian phát triển bền vững.
Đại diện liên danh nhà đầu tư, ông Trần Văn Kỳ, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Hateco, nói dự án sẽ mang lại những giá trị kinh tế - xã hội thiết thực, như tạo thêm nhiều cơ hội việc làm, góp phần hình thành đội ngũ nhân lực chất lượng cao, đồng thời đóng góp hàng chục nghìn tỷ đồng cho ngân sách địa phương.
Nhà đầu tư khẳng định sẽ ứng dụng công nghệ tự động hóa từ đối tác Hà Lan để xây dựng mô hình "Cảng xanh - Cảng thông minh", đáp ứng các tiêu chuẩn khắt khe nhất về môi trường và hiệu quả vận hành của thế giới.
Phát biểu chỉ đạo, Phó thủ tướng thường trực Phạm Gia Túc định vị cảng Liên Chiểu là "tài sản quốc gia", mắt xích trọng yếu trong hạ tầng hàng hải quốc tế. Ông nhấn mạnh, khi hoàn thành, siêu dự án này sẽ nâng cao vị thế của Việt Nam trên bản đồ vận tải biển toàn cầu, đồng thời đóng vai trò then chốt trong bảo đảm quốc phòng, an ninh.
Phó thủ tướng yêu cầu Đà Nẵng phải khẩn trương hoàn thiện các hạ tầng dùng chung và hệ thống giao thông kết nối đồng bộ (đường bộ, đường thủy, đường sắt, hàng không) để cảng Liên Chiểu phát huy tối đa hiệu quả. "Thành công của nhà đầu tư tại dự án trọng điểm này cũng chính là thành công của thành phố và quốc gia", ông Phạm Gia Túc nói.
Dự án có thời hạn hoạt động 50 năm, nằm tại vị trí chiến lược trên tuyến hàng hải quốc tế và là điểm kết thúc của Hành lang Kinh tế Đông - Tây, hứa hẹn tạo nên sự thịnh vượng mới cho cả khu vực miền Trung - Tây Nguyên. Khi bến cảng container Liên Chiểu khi đi vào hoạt động sẽ giảm tải cho cảng Tiên Sa, giải quyết bài toán giao thông đô thị cho trung tâm thành phố.
Tin Gốc: Vnexpress
Thời Sự
Nâng tầm kết nối chiến lược Việt Nam và Trung Quốc trong giai đoạn phát triển mới

Tuổi Trẻ Online trân trọng giới thiệu với bạn đọc nội dung bài viết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm có nhan đề "Phát huy truyền thống hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc, nâng tầm kết nối chiến lược trong giai đoạn phát triển mới" đăng trên Nhân Dân nhật báo của Trung Quốc trước chuyến thăm cấp Nhà nước đến Trung Quốc.
Nhận lời mời của đồng chí Tập Cận Bình, Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa, tôi và Đoàn đại biểu cấp cao sẽ thăm cấp Nhà nước đến Trung Quốc từ ngày 14 đến 17-4-2026. Đây là hoạt động đối ngoại cấp Nhà nước đầu tiên của tôi ngay sau khi được Quốc hội khóa XVI bầu giữ chức Chủ tịch nước.
Tôi gửi gắm tình cảm chân thành, sự trân trọng và ưu tiên hàng đầu của Đảng, Nhà nước cũng như mong muốn của Nhân dân Việt Nam cùng Đảng, Nhà nước và Nhân dân Trung Quốc tiếp tục kế thừa, phát huy truyền thống hữu nghị, nâng tầm kết nối chiến lược và cùng nhau đề ra những tầm nhìn phát triển mới cho quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trong kỷ nguyên mới.
Việt Nam và Trung Quốc là hai nước láng giềng "núi liền núi, sông liền sông", có nhiều nét tương đồng về văn hóa. Quan hệ giữa hai dân tộc được bồi đắp qua giao lưu lâu dài trong lịch sử và được thử thách, tôi luyện qua thời gian.
Trong quan hệ giữa các quốc gia láng giềng, điều có ý nghĩa bền vững nhất là biết nhìn nhận quan hệ từ tầm cao chiến lược với tầm nhìn lâu dài; biết trân trọng những giá trị đã được các thế hệ đi trước dày công vun đắp; biết đặt lợi ích căn bản, lâu dài của Nhân dân lên trên hết, trước hết. Đó cũng là cách Việt Nam nhìn nhận và phát triển quan hệ với Trung Quốc.
Trong suốt hơn 100 năm qua, cách mạng Việt Nam gắn bó sâu sắc với cách mạng Trung Quốc. Năm 1925, tại Quảng Châu, Trung Quốc, lãnh tụ kính yêu của Nhân dân Việt Nam Nguyễn Ái Quốc đã sáng lập Hội Việt Nam Cách mạng Thanh niên (Hội), chuẩn bị về chính trị, tư tưởng và tổ chức cho sự ra đời của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Trụ sở của Hội tại đường Văn Minh, thành phố Quảng Châu, Trung Quốc và sự kiện ra đời của Báo Thanh Niên đã trở thành những địa danh và dấu mốc không thể tách rời khỏi lịch sử cách mạng Việt Nam.
Đầu năm 1941, từ Quảng Tây, lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc trở về Pác Bó, Cao Bằng để trực tiếp lãnh đạo cách mạng Việt Nam, mở ra bước ngoặt có ý nghĩa quyết định đối với sự nghiệp giành độc lập dân tộc của Nhân dân Việt Nam.
Tình hữu nghị Việt Nam - Trung Quốc được các thế hệ lãnh đạo tiền bối hai nước dày công vun đắp, từ Chủ tịch Hồ Chí Minh, Chủ tịch Mao Trạch Đông, Thủ tướng Chu Ân Lai đến nhiều thế hệ những người cộng sản và Nhân dân hai nước. Trong thời kỳ đấu tranh giải phóng dân tộc, hai bên đã dành cho nhau sự ủng hộ, giúp đỡ quý báu.
Bước sang giai đoạn xây dựng đất nước, hai nước lại cùng kiên trì lựa chọn con đường phát triển phù hợp với điều kiện của mình, cùng tiến hành công cuộc đổi mới, cải cách, mở cửa và hội nhập quốc tế, qua đó đạt được nhiều thành tựu có ý nghĩa lịch sử.
Việt Nam luôn ghi nhớ và trân trọng sự hỗ trợ mà Đảng, Nhà nước và Nhân dân Trung Quốc dành cho Việt Nam trong các giai đoạn khó khăn.
Năm 2026 đánh dấu 76 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Trong suốt chặng đường đó, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc vượt qua thử thách thăng trầm, song hữu nghị và hợp tác vẫn là dòng chảy chính.
Thực tiễn lịch sử cho thấy quan hệ tốt đẹp, bền vững giữa hai nước phù hợp với lợi ích thiết thực của Nhân dân Việt Nam - Trung Quốc và có lợi cho hòa bình, phát triển của khu vực.
Với nhận thức quan trọng đó, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc luôn được hai Đảng, hai nước quan tâm vun đắp. Đảng, Nhà nước Việt Nam luôn xác định phát triển quan hệ với Trung Quốc là chủ trương nhất quán, yêu cầu khách quan, lựa chọn chiến lược và ưu tiên hàng đầu trong tổng thể đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, tự cường, đa phương hóa, đa dạng hóa.
Đảng, Nhà nước Trung Quốc cũng xác định Việt Nam là phương hướng ưu tiên trong ngoại giao láng giềng và có vị trí quan trọng trong đường lối đối ngoại tổng thể của Trung Quốc.
Đó không chỉ là sự kế thừa của lịch sử, mà còn là lựa chọn xuất phát từ lợi ích căn bản, lâu dài của hai nước, phù hợp với nguyện vọng của Nhân dân hai nước và yêu cầu giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định để phát triển trong giai đoạn mới.
Trên nền tảng quan hệ láng giềng hữu nghị, coi trọng lẫn nhau và hợp tác bình đẳng, những năm qua, lãnh đạo cao nhất hai bên đã kịp thời đưa ra những quyết sách đúng đắn, từ việc xác định phương châm "16 chữ", tinh thần "4 tốt", đến thiết lập khuôn khổ Đối tác hợp tác chiến lược toàn diện, xây dựng Cộng đồng chia sẻ tương lai Việt Nam - Trung Quốc có ý nghĩa chiến lược và thúc đẩy quan hệ theo định hướng "6 hơn".
Điều quan trọng không chỉ là những khái niệm mới, mà là ở chỗ hai bên đã cùng khẳng định cần nhìn nhận và phát triển quan hệ Việt Nam - Trung Quốc từ tầm cao chiến lược với tầm nhìn lâu dài, coi sự phát triển của Bạn là cơ hội phát triển của mình.
Với những nhận thức chung đó, trao đổi cấp cao giữa hai Đảng, hai nước được duy trì thường xuyên hơn; các cơ chế hợp tác trên tất cả kênh Đảng, Chính phủ, Quốc hội/Nhân đại, Mặt trận Tổ quốc/Chính hiệp được triển khai đồng bộ hơn.
Tháng 3 vừa qua, hai nước đã tổ chức thành công rất tốt đẹp Đối thoại chiến lược "3+3" cấp Bộ trưởng Ngoại giao, Quốc phòng, Công an lần thứ nhất, là bước phát triển mới trong hợp tác kết nối chiến lược giữa hai nước, cho thấy quan hệ song phương đang đi vào chiều sâu hơn, thực chất hơn.
Bất chấp tình hình quốc tế diễn biến rất phức tạp, hợp tác kinh tế, thương mại và đầu tư song phương không ngừng phát triển. Kim ngạch thương mại hai chiều năm 2025 tăng trưởng ấn tượng với hai con số; Việt Nam duy trì vị thế đối tác thương mại lớn nhất của Trung Quốc trong các nước ASEAN và lớn thứ tư của Trung Quốc trên phạm vi toàn cầu; Trung Quốc là đối tác thương mại lớn nhất và là thị trường xuất khẩu lớn thứ hai của Việt Nam.
Hợp tác kết nối chuỗi cung ứng, logistics, hạ tầng, khoa học, công nghệ, kinh tế số, kinh tế xanh đều tiến triển nhanh. Hai nước quyết tâm đẩy mạnh hợp tác kết nối đường sắt, ba dự án đường sắt khổ tiêu chuẩn khu vực phía Bắc Việt Nam được cả hai bên chủ động thúc đẩy, đạt đột phá tích cực.
Giao lưu Nhân dân tiếp tục phát triển sâu sắc hơn, tạo nền tảng xã hội ngày càng vững chắc hơn cho quan hệ song phương. Năm Giao lưu nhân văn Việt Nam - Trung Quốc 2025 được triển khai bằng nhiều hoạt động phong phú; các chương trình giao lưu thanh niên, học giả, địa phương và văn hóa được đẩy mạnh.
Chương trình "Hành trình đỏ nghiên cứu, học tập của thanh niên Việt Nam ở Trung Quốc" do đồng chí Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình và tôi cùng khởi động từ tháng 4-2025 đã được triển khai tích cực, thu hút đông đảo thanh niên tham gia. Thông qua đó giúp thế hệ trẻ hai nước hiểu nhau rõ hơn, nhận thức sâu sắc hơn về truyền thống hữu nghị, ý thức sâu sắc hơn về sứ mệnh trở thành lực lượng có chí hướng tiếp bước thế hệ cha anh, tiếp tục vun đắp cho quan hệ Việt Nam - Trung Quốc.
Để quan hệ Việt Nam - Trung Quốc đạt được những thành quả toàn diện, thực chất như ngày hôm nay, yếu tố quan trọng hàng đầu là sự chân thành, tin cậy, hiểu biết lẫn nhau giữa lãnh đạo cấp cao hai Đảng, hai nước; sự chung tay, vào cuộc quyết liệt, sự ủng hộ mạnh mẽ, nỗ lực bền bỉ của các ban, bộ, ngành, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và người dân hai nước.
Đảng, Nhà nước và Nhân dân Việt Nam hết sức trân trọng tình cảm hữu nghị, tâm huyết của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tập Cận Bình đối với từng bước phát triển của quan hệ Việt - Trung trong những năm qua.
Thế giới đang trải qua những biến chuyển mang tính thời đại rất sâu sắc, tạo ra cả cơ hội và thách thức lớn.
Việt Nam bước vào giai đoạn triển khai Nghị quyết Đại hội XIV với hai mục tiêu chiến lược 100 năm. Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị Việt Nam cũng xác định phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là đột phá quan trọng hàng đầu, là động lực chính cho phát triển nhanh và bền vững.
Về phía Trung Quốc, năm 2026 mở đầu cho thời kỳ thực hiện Quy hoạch 5 năm lần thứ 15 với trọng tâm phát triển chất lượng cao, tự cường khoa học - công nghệ, chuyển đổi xanh và mở cửa ở trình độ cao hơn.
Chính từ yêu cầu mới của thời đại và từ những nhiệm vụ phát triển mới của mỗi nước, theo tôi, hai bên cần cùng tập trung làm tốt bốn việc lớn.
Trước hết, cần tiếp tục củng cố nền tảng chính trị của quan hệ Việt Nam - Trung Quốc ngày càng vững chắc hơn. Định hướng chiến lược của lãnh đạo cao nhất hai Đảng, hai nước có vai trò quyết định đối với sự phát triển ổn định, lành mạnh của quan hệ song phương.
Vì vậy, cần tiếp tục duy trì thường xuyên trao đổi cấp cao, tăng cường chia sẻ chiến lược, phát huy tốt vai trò của các cơ chế hiện có, đồng thời triển khai hiệu quả hơn hợp tác trên tất cả các kênh Đảng, Chính phủ, Quốc hội/Nhân đại, Mặt trận Tổ quốc/Chính hiệp, cũng như giữa các ngành, các cấp.
Quan hệ càng có tin cậy chiến lược sâu thì càng có điều kiện để mở rộng hợp tác thực chất và xử lý tốt hơn những vấn đề đặt ra trong thực tiễn.
Thứ hai, cần tạo bước chuyển mạnh hơn trong hợp tác thực chất, lấy kết quả cụ thể làm thước đo. Trong giai đoạn tới, hợp tác giữa hai nước cần chuyển mạnh từ "tăng quy mô" sang "nâng chất lượng"; từ mở rộng giao thương sang kết nối sâu hơn giữa các chiến lược phát triển, các hành lang kinh tế, các chuỗi sản xuất, chuỗi cung ứng và hạ tầng chiến lược.
Việt Nam mong muốn cùng Trung Quốc đẩy nhanh triển khai các dự án kết nối đường sắt, đường bộ cao tốc, hạ tầng thương mại biên giới (logistics, cửa khẩu thông minh...); thúc đẩy thương mại phát triển cân bằng, lành mạnh và bền vững hơn; tạo điều kiện để đầu tư từ Trung Quốc vào Việt Nam ngày càng tập trung hơn vào những lĩnh vực Việt Nam ưu tiên và Trung Quốc có thế mạnh.
Khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số cần trở thành điểm nhấn mới của quan hệ Việt Nam - Trung Quốc. Việt Nam đang đặt lĩnh vực này vào vị trí trung tâm của chiến lược phát triển đất nước; Trung Quốc cũng đang thúc đẩy mạnh mẽ phát triển chất lượng cao, tự cường khoa học - công nghệ và các lực lượng sản xuất mới. Đẩy mạnh hợp tác trong lĩnh vực này vừa có ý nghĩa phát triển kinh tế, vừa có ý nghĩa chiến lược đối với năng lực tự chủ của mỗi quốc gia.
Thứ ba, cần làm sâu sắc hơn nữa nền tảng xã hội của quan hệ hai nước. Quan hệ giữa hai quốc gia chỉ thực sự bền vững khi được nuôi dưỡng, bồi đắp trong lòng Nhân dân, nhất là trong thế hệ trẻ. Vì vậy, cần tiếp tục phát huy kết quả của Năm Giao lưu nhân văn Việt Nam - Trung Quốc 2025; tạo bước đột phá thực sự trong phát triển, hợp tác du lịch 2026 - 2027, mở rộng hơn giao lưu thanh niên, giáo dục, du lịch, văn hóa, báo chí, địa phương; khai thác hiệu quả hơn những "địa chỉ đỏ" của lịch sử cách mạng hai nước để giáo dục truyền thống và tăng cường hiểu biết lẫn nhau.
Tôi mong rằng ngày càng có nhiều sinh viên, nhà khoa học trẻ, doanh nhân trẻ hai nước đến với nhau trong các chương trình học tập, nghiên cứu, khởi nghiệp và trao đổi thực tiễn, bởi chính họ sẽ viết tiếp chương mới của quan hệ Việt Nam - Trung Quốc trong thế kỷ XXI.
Thứ tư, cùng với mở rộng hợp tác, hai bên cần tiếp tục giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định, kiểm soát tốt bất đồng và xử lý thỏa đáng những vấn đề còn tồn tại.
Trong quan hệ giữa hai nước láng giềng, giá trị của quan hệ tốt đẹp không chỉ thể hiện ở những lĩnh vực hợp tác thuận lợi, mà còn thể hiện ở năng lực cùng nhau xử lý khác biệt bằng đối thoại, kiềm chế, tôn trọng lẫn nhau và trách nhiệm với tổng thể quan hệ hai nước.
Việt Nam mong muốn cùng Trung Quốc kiên trì giải quyết bất đồng bằng biện pháp hòa bình, trên cơ sở nhận thức chung cấp cao, luật pháp quốc tế và lợi ích chính đáng của mỗi bên; đồng thời tăng cường phối hợp tại các cơ chế đa phương, góp phần giữ gìn hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.
Việt Nam đang bước vào một giai đoạn phát triển mới với ý chí và khát vọng rất lớn. Chúng tôi hiểu rõ rằng muốn phát triển nhanh và bền vững thì phải giữ vững môi trường hòa bình; muốn thực hiện thành công các mục tiêu đến năm 2030 và 2045 thì phải phát huy cao nhất nội lực, đồng thời mở rộng hợp tác quốc tế hiệu quả trên cơ sở độc lập, tự chủ.
Trong toàn bộ định hướng đó, quan hệ với Trung Quốc luôn được Việt Nam xác định là một ưu tiên chiến lược. Điều này xuất phát từ sự gần gũi về địa lý, sự gắn bó của lịch sử, có nhiều nét tương đồng về văn hóa, lợi ích đan xen ngày càng sâu về phát triển, và từ trách nhiệm chung của hai nước đối với hòa bình, ổn định và thịnh vượng của khu vực.
Tôi tin tưởng rằng dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộng sản Trung Quốc với hạt nhân là đồng chí Tập Cận Bình, Nhân dân Trung Quốc sẽ tiếp tục thực hiện thắng lợi Quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm lần thứ 15, đạt thêm nhiều thành tựu mới trong công cuộc hiện đại hóa đất nước. Việt Nam luôn coi sự phát triển ổn định, chất lượng cao của Trung Quốc là nhân tố quan trọng đối với hòa bình, hợp tác và phát triển ở khu vực, đồng thời là cơ hội cho các nước láng giềng, trong đó có Việt Nam.
Tôi cũng tin tưởng rằng, với nền tảng hữu nghị do các thế hệ tiền bối hai nước dày công vun đắp, với nhận thức chung cấp cao đã được xác lập, với quyết tâm của các cấp, các ngành, các địa phương và với sự đồng hành của Nhân dân hai nước, quan hệ Việt Nam - Trung Quốc nhất định sẽ tiếp tục phát triển ổn định, lành mạnh, bền vững lâu dài, mang lại lợi ích thiết thực hơn cho hai Đảng, Nhà nước và Nhân dân hai nước, đóng góp tích cực hơn cho hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển trong khu vực và trên thế giới.
Chuyến thăm lần này của tôi tới Trung Quốc diễn ra với tinh thần đó, với kỳ vọng đó, và với mong muốn cùng các đồng chí lãnh đạo Trung Quốc tiếp tục mở ra một không gian phát triển mới, nâng tầm kết nối chiến lược giữa hai nước trong thời gian tới.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

