Bà Nguyễn Thị Thu Hằng, Phó giám đốc Bảo hiểm xã hội TP.HCM, cho biết TP.HCM là nơi tập trung nhiều bệnh viện chuyên sâu, hiện đại nhất nhì cả nước.
Năm 2025, TP.HCM có hơn 34 triệu lượt đến khám chữa bệnh được quỹ bảo hiểm y tế chi trả trên 32.700 tỉ đồng. Trong đó có hơn chục bệnh nhân được quỹ bảo hiểm y tế chi trả trên 1 tỉ đồng, trên 100 bệnh nhân được quỹ bảo hiểm y tế chi trả từ vài trăm triệu đồng lên đến 1 tỉ đồng.
Tổng số tiền mà Bảo hiểm xã hội TP.HCM chi trả cho nhóm “bệnh nhân chi phí cao” (nhóm 1% bệnh nhân chiếm tỉ trọng chi phí lớn nhất) thường chiếm từ 15% đến 20% tổng chi khám chữa bệnh bảo hiểm y tế của toàn thành phố.
Nhiều bệnh nhân tại TP.HCM đã được hưởng quyền lợi “không cùng chi trả” sau khi tham gia bảo hiểm y tế 5 năm liên tục, và có số tiền cùng chi trả vượt quá 6 tháng lương cơ sở trong năm.
Nhóm bệnh có chi phí điều trị lớn, được Bảo hiểm xã hội TP.HCM chi trả nhiều nhất là bệnh ung thư với gần 1,2 triệu lượt, quỹ bảo hiểm y tế chi trả gần 4.860 tỉ đồng, bảo hiểm xã hội thanh toán từ các loại thuốc hóa trị, xạ trị truyền thống đến các loại thuốc điều trị đích (targeted therapy) và thuốc miễn dịch đắt tiền.
Một số loại thuốc điều trị đích có giá hàng chục triệu đồng mỗi liều vẫn được bảo hiểm y tế hỗ trợ một phần hoặc toàn bộ.
Tiếp theo là nhóm bệnh mãn tính như cao huyết áp, tiểu đường, tim mạch, phổi tắc nghẽn mãn tính, hen với hơn 10 triệu lượt quỹ bảo hiểm y tế chi trả hơn 6.000 tỉ đồng.
Kế đến là nhóm bệnh suy thận mãn với 270.000 lượt, quỹ bảo hiểm y tế chi trả 1.268 tỉ đồng, bao gồm chi phí chạy thận nhân tạo chu kỳ, lọc màng bụng và các loại thuốc kích tạo hồng cầu. Các nhóm bệnh trên là nhóm bệnh có chi phí duy trì suốt đời và tốn kém.
Ngoài ra là các bệnh can thiệp tim mạch. Các ca phẫu thuật tim phức tạp, can thiệp đặt stent, hoặc thay van tim có chi phí vật tư y tế lên tới hàng trăm triệu đồng/ca đều nằm trong phạm vi chi trả.
Và các bệnh nhân bị bệnh về máu, đặc biệt những bệnh nhân thiếu yếu tố đông máu (Hemophilia) được quỹ bảo hiểm y tế chi trả ở mức cao. Cụ thể, năm 2025 Bảo hiểm xã hội TP.HCM chi trả 1 trường hợp mắc bệnh thiếu yếu tố đông máu (Hemophilia) với số tiền chi trả là hơn 6,3 tỉ đồng.
Nhiều nghiên cứu trước đây cho thấy chế độ ăn uống đóng vai trò quan trọng trong việc phòng ngừa và kiểm soát huyết áp. Tuy nhiên, với đạm - nhóm thực phẩm gần như không thể thiếu trong mỗi bữa ăn - tác động của từng nguồn đạm đối với huyết áp vẫn chưa thực sự rõ ràng.
Giờ đây, nghiên cứu mới vừa được công bố trên tạp chí của Hiệp hội Tim mạch Mỹ (JAHA) đã làm sáng tỏ vấn đề trên, khi chỉ ra nguồn đạm có lợi nhất để ổn định huyết áp, đặc biệt ở người lớn tuổi.
Để tìm hiểu tác động của đạm thực vật và đạm động vật đối với nguy cơ tăng huyết áp, các nhà nghiên cứu tại Trường Y tế Công cộng UT Health Houston (Mỹ) đã phân tích dữ liệu của 2.294 người từ 45 đến 84 tuổi, không bị tăng huyết áp ở thời điểm bắt đầu nghiên cứu.
Lượng đạm tiêu thụ hằng ngày được đánh giá thông qua bảng câu hỏi về tần suất ăn uống, bao gồm đạm động vật như thịt, cá và đạm thực vật như đậu hũ, các loại đậu.
Trung bình, người tham gia tiêu thụ khoảng 68 gram đạm mỗi ngày, trong đó khoảng 24 gram đến từ nguồn thực vật, phần còn lại là từ động vật.
Trong thời gian theo dõi trung bình 9 năm, có 1.356 trường hợp tăng huyết áp được ghi nhận.
Kết quả cho thấy việc tiêu thụ đạm động vật không làm thay đổi đáng kể nguy cơ tăng huyết áp. Tuy nhiên, điều đáng chú ý là tiêu thụ lượng đạm thực vật càng nhiều thì nguy cơ tăng huyết áp càng thấp.
Cụ thể, cứ mỗi 20 gram đạm thực vật như đậu hũ hoặc các loại đậu được bổ sung mỗi ngày, nguy cơ tăng huyết áp giảm 16%. Theo JAHA, lợi ích này duy trì ổn định ở mức tiêu thụ khoảng 30 gram đạm thực vật/ngày.
Theo Hiệp hội Tim mạch Mỹ, các nguồn đạm thực vật tốt bao gồm đậu hũ, sữa đậu nành và các loại đậu. Ngoài ra, các loại hạt, yến mạch cũng là nguồn đạm thực vật lành mạnh, đồng thời cung cấp chất xơ, vitamin, khoáng chất và nhiều dưỡng chất có lợi khác.
Các nhà nghiên cứu kết luận rằng việc tăng cường và đa dạng hóa nguồn đạm thực vật trong chế độ ăn - như đậu hũ và các loại đậu - có thể giúp giảm nguy cơ tăng huyết áp. Trong khi đó, đạm động vật vẫn có thể được tiêu thụ ở mức hợp lý mà không làm tăng đáng kể nguy cơ huyết áp cao ở người lớn tuổi.
Theo Viện Dinh dưỡng, bệnh gan nhiễm mỡ (không do rượu) là tình trạng tích tụ mỡ (trên 5% trọng lượng gan) ở những người không uống hoặc chỉ uống rất ít rượu, và không có nguyên nhân thứ phát nào khác (vi rút, thuốc, bệnh chuyển hóa…). Tỷ lệ mắc bệnh gan nhiễm mỡ cao hơn ở người béo phì, đái tháo đường thể 2, rối loạn lipid máu. Bệnh có liên quan đến kháng insulin, rối loạn chuyển hóa lipid và glucose.
Về nguyên tắc chung chế độ ăn cho người có bệnh lý gan nhiễm mỡ, TS-BS Bùi Thị Thúy, Khoa Khám tư vấn dinh dưỡng người lớn, Viện Dinh dưỡng, lưu ý cần hạn chế lượng chất béo, do chất béo cung cấp lượng calo cao và tăng nguy cơ thừa cân béo phì. Trong đó, cần thay thế chất béo bão hòa (có trong mỡ heo, mỡ bò, bơ, phô mai, sữa nguyên kem, da gia cầm, dầu dừa, dầu cọ...) và chất béo chuyển hóa (có trong đồ chiên) bằng chất béo không bão hòa, đặc biệt là omega-3, là các chất có thể làm giảm nguy cơ bệnh lý tim mạch.
Nên sử dụng nguồn chất béo lành mạnh, từ các loại hạt như hạt óc chó, hạnh nhân, hoặc mè (15 - 20 gram/ngày). Ngoài ra, người trưởng thành nên ăn cá béo (cá hồi, cá thu, cá mòi) ít nhất 2 - 3 lần mỗi tuần để bổ sung a xít béo omega-3 có lợi cho tim mạch và gan.
Cần tăng cường các thực phẩm có chỉ số đường huyết thấp như rau xanh, ngũ cốc nguyên hạt, đậu đỗ và một số loại trái cây lê, cam, táo, ổi, bưởi. Người trưởng thành cũng nên ăn từ 2 - 3 phần trái cây tươi mỗi ngày (mỗi phần khoảng 80 - 100 gram).
Đồng thời, tránh các loại thực phẩm và đồ uống chứa nhiều đường đơn, đặc biệt là fructose. Fructose có trong nước ngọt có đường, đồ uống thể thao, trà có đường và các loại nước trái cây.
Tập trung thay đổi lối sống bao gồm ăn uống lành mạnh, tập thể dục thường xuyên, duy trì cân nặng hợp lý và ngủ đủ giấc là cách tốt nhất ngăn ngừa tổn thương gan khởi phát khi bệnh gan nhiễm mỡ ở giai đoạn đầu.
Bác sĩ Menhel Kinno, chuyên khoa tim mạch tại Hệ thống Bệnh viện Đại học Rush (Mỹ), cho biết người bị huyết áp cao không nên bật dậy đột ngột khỏi giường, đặc biệt nếu đang dùng thuốc điều trị. Thay vào đó, nên từ từ nâng người dậy và ngồi yên trên giường khoảng 1–2 phút để cơ thể thích nghi. Nếu đứng lên quá nhanh, người bệnh có thể bị chóng mặt, choáng váng, thậm chí ngất xỉu do huyết áp tụt tạm thời khi lượng máu trở về tim giảm.
Theo bác sĩ Kinno, vào buổi sáng, huyết áp có xu hướng tăng tự nhiên do nhịp sinh học, sự gia tăng hoạt động của hệ thần kinh giao cảm và thay đổi nội tiết tố. Sự tăng đột ngột này có thể tạo thêm áp lực lên tim mạch, làm tăng nguy cơ rối loạn nhịp tim, quá tải tim hoặc các biến cố tim mạch khác, đặc biệt ở người chưa kiểm soát tốt huyết áp.
Không chỉ vậy, các chuyên gia cũng khuyến cáo người bệnh tránh lao ngay vào các hoạt động thể chất cường độ cao như chạy nhanh, tập HIIT hay nâng tạ nặng ngay sau khi thức dậy. Thay vào đó, nên bắt đầu ngày mới bằng việc uống một cốc nước ấm, dùng thuốc theo chỉ định, rồi sau khoảng 30 - 60 phút mới vận động nhẹ như vươn vai hoặc đi bộ chậm.
Các bác sĩ tim mạch nhấn mạnh, người bị huyết áp cao cần tránh những thay đổi đột ngột về tư thế hoặc cường độ vận động vào buổi sáng. Việc duy trì nhịp sinh hoạt chậm rãi, ổn định ngay sau khi thức dậy sẽ giúp giảm áp lực lên hệ tim mạch và hạn chế nguy cơ biến chứng.