Đài NHK ngày 15.5 loan tin rằng Bộ Quốc phòng Nhật Bản đã tiến hành đánh giá khả năng xuất khẩu tên lửa đất đối hạm Type 88 cho Philippines. Theo nguồn tin, Philippines trong tháng này đã bày tỏ sự quan tâm dành cho loại tên lửa nói trên.
Type 88 có tầm bắn hơn 100 km. Lực lượng Phòng vệ Mặt đất Nhật Bản (GSDF) đã lên kế hoạch giảm sử dụng dần loại tên lửa này để thay bằng mẫu mới hơn. Theo NHK, Bộ Quốc phòng Nhật Bản cân nhắc xuất khẩu số tên lửa còn lại từ kho của GSDF.
Trong đợt tập trận chung với Philippines và Mỹ tại Philippines từ tháng 4 đến tháng 5, lực lượng Nhật Bản cũng đã phóng tên lửa Type 88.
Mặt khác, Tokyo được cho là cũng đang cân nhắc chuyển giao các tàu hộ tống lớp Abukuma cho Philippines. Các tàu này hiện thuộc quản lý của Lực lượng Phòng vệ Biển (MSDF).
Theo chuyên san quân sự Seaforces.org, Nhật Bản có 6 tàu hộ tống lớp Abukuma, được biên chế lần lượt từ năm 1989 đến năm 1993. Tàu dài 109 m, rộng nhất 13,4 m, lượng giãn nước toàn tải 2.550 tấn, tốc độ 50 km/giờ, thủy thủ đoàn 120 người. Tàu được trang bị 2 bệ phóng tên lửa đối hạm, 2 bệ phóng ngư lôi, 1 bệ phóng rốc két chống ngầm, 2 pháo hạm.
Hồi tháng 4, chính phủ Nhật Bản đã điều chỉnh 3 nguyên tắc chuyển giao thiết bị quốc phòng cho nước ngoài và những hướng dẫn thực hiện các nguyên tắc này. Động thái này về nguyên tắc cho phép xuất khẩu vũ khí sát thương.
Vào giữa năm 2024, Nhật Bản và Philippines ký Thỏa thuận tiếp cận đối ứng (RAA), cho phép triển khai lực lượng sang lãnh thổ của nhau để tham gia các cuộc tập trận quy mô lớn, bao gồm diễn tập bắn đạn thật.
Hồi tháng 1, hai bên ký thỏa thuận quốc phòng cho phép cung cấp đạn dược, nhiên liệu, lương thực và các nhu yếu phẩm khác miễn thuế khi tiến hành huấn luyện chung.
Tin Gốc: Thanh Niên

Tổng thống Mỹ Donald Trump hôm 26/4 tuyên bố lệnh phong tỏa cảng biển kéo dài của Mỹ đã khiến Iran không thể xuất khẩu lượng lớn dầu thô được khai thác mỗi ngày. "Khi trữ lượng dầu khổng lồ bị dồn nén trong hệ thống, áp suất sẽ khiến đường ống phát nổ từ bên trong, thậm chí nổ tung từ dưới lòng đất. Một khi điều đó xảy ra, Iran sẽ không bao giờ có thể khôi phục lại hạ tầng như cũ", ông Trump nói.
Iran chưa bình luận về tuyên bố này, nhưng ảnh vệ tinh và dữ liệu được công ty phân tích năng lượng Kpler công bố ngày 27/4 cho thấy ngành dầu mỏ Iran đang đối mặt với thách thức chưa từng có, khi lệnh phong tỏa cảng biển của Mỹ từ ngày 13/4 tiếp tục bóp nghẹt hoạt động xuất khẩu, khiến dầu thô tích trữ trong kho chứa ngày một đầy hơn.
Hệ thống lưu trữ dầu của Iran được chia thành các bể chứa trên đất liền và kho nổi trên biển. Trên đất liền, tổng công suất ước tính khoảng 90-95 triệu thùng. Tính đến cuối tháng 4, lượng dầu tồn kho của Iran là khoảng 49 triệu thùng, có nghĩa nước này chỉ còn không gian để chứa thêm khoảng 41 triệu thùng.
Kpler cho rằng con số này nhiều khả năng cũng đã phóng đại đáng kể năng lực thực sự mà Iran có thể lưu trữ dầu, bởi một số cơ sở chỉ được dùng cho các loại dầu khí nhất định hoặc không thể tiếp cận.
Các kho chứa ở Sirri và Lavan không thể dùng để chứa dầu thô trên đất liền, còn cơ sở ở Assaluyeh chuyên dùng để lưu trữ dầu ngưng từ mỏ South Pars. Các khu vực thuộc khu phức hợp Bandar Abbas cũng bị hạn chế tương tự.
Khi tính đến những hạn chế này, năng lực lưu trữ tương đương 14,9 triệu thùng trên thực tế không thể sử dụng được. Điều này làm giảm khả năng lưu trữ trên đất liền của Iran xuống còn khoảng 26 triệu thùng, tương đương 14 ngày sản xuất và xuất khẩu ở mức độ hiện tại.
Theo Firstpost, Iran còn có khả năng lưu trữ ngắn hạn dầu mỏ trên các tàu chở dầu hiện có ở vịnh Ba Tư, gồm tàu chở dầu cỡ lớn VLCC hoặc Aframax, với ước tính khoảng 15,4 triệu thùng.
Kết hợp với công suất trên đất liền, nó có thể giúp Iran kéo dài thời gian lưu trữ lên khoảng 22 ngày, theo các nhà phân tích của Kpler. Tuy nhiên, dữ liệu vệ tinh chỉ ra rằng lượng dầu lưu trữ trên các tàu của Iran đã đạt mức kỷ lục, với tổng ước tính 185-195 triệu thùng.
Trong số này, khoảng 60 triệu thùng đang bị kẹt trên các tàu trong vùng phong tỏa ở vịnh Ba Tư và vịnh Oman, trong khi hơn 120 triệu thùng đang ở trên các phương tiện gần những thị trường châu Á trọng điểm như Singapore và Trung Quốc.
Trước khi lệnh phong tỏa cảng biển của Mỹ có hiệu lực ngày 13/4, xuất khẩu dầu của Iran phần lớn không bị ảnh hưởng bởi xung đột. Nhờ kiểm soát các tuyến hàng hải quan trọng, tàu chở dầu thô của nước này vẫn có thể đi lại tự do. Kết quả là xuất khẩu dầu của Iran đạt trung bình khoảng 1,85 triệu thùng mỗi ngày trong tháng 3, vượt mức 1,7 triệu thùng của những tháng trước đó.
Sau khi Tổng thống Mỹ Donald Trump thực thi lệnh phong tỏa, lượng dầu xuất khẩu của Iran giảm xuống còn khoảng 567.000 thùng mỗi ngày. Trong giai đoạn ngày 14-23/4, chỉ có 5 chuyến hàng được vận chuyển, gồm 3 chuyến tại đảo Kharg và 2 chuyến tại Assaluyeh.
Kpler ước tính sản lượng dầu thô của Iran có thể giảm hơn một nửa so với mức hiện tại, xuống còn 1,2-1,3 triệu thùng mỗi ngày vào giữa tháng 5 nếu lệnh phong tỏa tiếp tục. Nhưng ngay cả khi đó, xuất khẩu cũng khó có thể đáp ứng khi chỉ đạt mức dưới mức 600.000 thùng mỗi ngày.
Khi không thể xuất khẩu, dầu được bơm lên từ các mỏ đều cần phải có chỗ chứa, gồm trong bồn chứa, trên tàu, trong một điểm lưu trữ dã chiến. Sanam Vakil, giám đốc chương trình Trung Đông và Bắc Phi tại tổ chức Chatham House, cho hay Tehran đang hy vọng có thể tránh được rủi ro phải "khóa vòi dầu" và làm sụt giảm doanh thu nghiêm trọng.
"Việc đóng cửa sản xuất sẽ làm gia tăng áp lực, có thể buộc Iran phải nhượng bộ trong các cuộc đàm phán", Vakil nhận định.
Vòng đàm phán đầu tiên giữa Mỹ và Iran đã kết thúc vào đầu tháng này với rất ít tiến triển, triển vọng về vòng đàm phán thứ hai cũng tan vỡ vào tuần trước khi Iran từ chối gặp trực tiếp phái đoàn Mỹ. Tehran được cho là đã đưa ra đề nghị mới với các bên trung gian về việc ngừng tấn công tại eo biển Hormuz để đổi lấy việc chấm dứt hoàn toàn chiến tranh và dỡ bỏ lệnh phong tỏa của Mỹ đối với các cảng của Iran.
Tổng thống Trump ngày 27/4 đã thảo luận về đề xuất của Iran với đội ngũ an ninh quốc gia. Thư ký báo chí Nhà Trắng Leavitt cho biết các "lằn ranh đỏ" của ông Trump đối với Iran vẫn rất rõ ràng.
Iran đang tìm đến các giải pháp tình thế để đối phó với tình trạng dòng dầu xuất khẩu bị tắc nghẽn. Họ bắt đầu sử dụng các container và bể chứa bỏ hoang tại những trung tâm dầu mỏ phía nam như Ahvaz và Asaluyeh. Iran cũng được cho là đang sử dụng các tàu vốn đã ngừng hoạt động để lưu trữ dầu thừa. Tàu chở dầu Nasha đã được kích hoạt lại vào giữa tháng 4 và neo đậu gần đảo Kharg để chứa dầu thô.
Hamid Hosseini, phát ngôn viên liên minh các nhà xuất khẩu dầu mỏ Iran, cho biết nước này cũng đang chuyển dầu bằng tàu hỏa sang Trung Quốc, nhờ các tuyến đường sắt nối Tehran với các thành phố Nghĩa Ô và Tây An.
Hành trình bằng đường sắt nhìn chung ngắn hơn so với đi bằng đường biển, nhưng vẫn có thể mất đến vài tuần. Ngoài ra, vận tải bằng đường sắt không mang lại hiệu quả chi phí tốt như tàu chở dầu trên biển, đặc biệt là đối với các nhà máy lọc dầu độc lập quy mô nhỏ ở khu vực đông bắc Trung Quốc, những khách hàng chính tiêu thụ dầu thô của Iran.
Điều đó khiến nỗ lực chuyển hướng sang đường sắt không hẳn là một giải pháp, mà giống như một tín hiệu cho thấy hệ thống xuất khẩu của Iran đang gặp bế tắc. "Thời điểm tuyệt vọng đòi hỏi những biện pháp quyết liệt", Erica Downs, chuyên gia chính sách năng lượng Trung Quốc tại Đại học Columbia, nhận định.
Nhiều mỏ dầu của Iran, đặc biệt là các mỏ đã khai thác lâu năm ở những khu vực như Khuzestan, cần phải duy trì áp suất liên tục thì mới giữ được sản lượng.
Nếu Iran buộc phải đóng cửa các giếng dầu do thiếu kho chứa, sự thay đổi áp suất có thể dẫn đến hư hỏng bể chứa và giảm vĩnh viễn năng suất của các mỏ dầu, theo Anmol Singla, nhà phân tích của Firstpost.
"Trong những trường hợp cực đoan, điều này có thể dẫn đến việc mất đi hàng trăm nghìn thùng sản lượng mỗi ngày trong tương lai", Singla viết.
Tác động của việc giảm doanh thu dầu mỏ có khả năng lan rộng ra ngoài ngành năng lượng. Iran phải nhập khẩu nhiều hàng hóa thiết yếu, trong đó các nông sản như ngũ cốc, ngô và gạo. Chi phí nhập khẩu hàng ngày cho các sản phẩm này ước tính khoảng 200-250 triệu USD.
Khi doanh thu dầu mỏ sụt giảm, khả năng chi trả cho các mặt hàng nhập khẩu cũng thu hẹp, góp phần gây áp lực lạm phát và căng thẳng kinh tế trên diện rộng.
Việc không thể vận chuyển dầu tự do đã trở thành đòn bẩy quan trọng đối với cả hai bên xung đột. "Tuy nhiên, những rào cản lớn vẫn còn đó. Cả hai bên dường như đều không muốn nhượng bộ và triển vọng đàm phán vẫn còn bỏ ngỏ", Singla cho hay.
Tin Gốc: Vnexpress

Cụ thể, trong bài viết đăng trên chuyên san Scientia Sinica Informationis, ông Duan Baoyan, kiến trúc sư chủ chốt của dự án năng lượng mặt trời vũ trụ "Zhuri", cho hay hệ thống năng lượng trên quỹ đạo thế hệ mới không chỉ phục vụ mục đích truyền tải điện, mà còn có thể hỗ trợ các chức năng như liên lạc, định vị, trinh sát, tác chiến điện tử và điều khiển từ xa. Công nghệ này sử dụng các chùm vi sóng cực hẹp, có thể điều khiển chính xác để truyền năng lượng từ không gian xuống trái đất. Về nguyên tắc, khả năng này cũng có thể được ứng dụng để gây nhiễu mục tiêu hoặc bảo mật thông tin liên lạc quân sự.
Khác với các tấm pin mặt trời trên mặt đất, vốn bị hạn chế bởi thời tiết và chu kỳ ngày đêm, hệ thống đặt trên quỹ đạo có thể thu năng lượng gần như liên tục. Điện năng được chuyển đổi thành vi sóng và truyền xuống các trạm thu trên trái đất, tạo ra nguồn năng lượng ổn định quy mô lớn. Tuy nhiên, chính đặc tính này cũng làm dấy lên lo ngại về khả năng bị khai thác cho mục đích quân sự, đặc biệt trong việc hỗ trợ các cơ sở ở khu vực xa xôi hoặc nhạy cảm, theo South China Morning Post.
Song song với không gian, Trung Quốc cũng đẩy mạnh phát triển năng lực dưới biển. Nước này đã công bố các mẫu tàu ngầm không người lái cỡ siêu lớn (XXLUUV), trong đó có những phương tiện dài tới hơn 40 m - vượt xa các thiết kế hiện tại của Mỹ. Sự xuất hiện của dòng phương tiện này mở ra một lớp năng lực mới trong trinh sát, giám sát và phòng thủ ven biển, theo Sri Lanka Guardian.
Các chuyên gia Trung Quốc cho biết các hệ thống này chủ yếu phục vụ mục tiêu phòng thủ khu vực. Tuy nhiên, quy mô và khả năng của chúng vẫn khiến giới phân tích quốc phòng Mỹ phải đánh giá lại các chiến lược răn đe và khả năng sẵn sàng của hải quân Mỹ.
Việc kết hợp giữa công nghệ không gian và phương tiện không người lái dưới nước cho thấy cách tiếp cận tích hợp của Trung Quốc trong chiến tranh thế hệ mới. Các công nghệ lưỡng dụng này giúp Bắc Kinh vừa tăng cường năng lực quân sự, vừa duy trì "vùng xám" giữa mục tiêu dân sự và quân sự, qua đó tạo lợi thế chiến lược và tránh việc quy trách nhiệm.
Giới quan sát nhận định sự hội tụ giữa năng lượng không gian, hệ thống không người lái và tác chiến điện tử đang định hình một mô hình răn đe bất đối xứng mới, cho phép mở rộng phạm vi ảnh hưởng mà không cần tham gia vào các cuộc xung đột quy mô lớn. Theo tờ South China Morning Post, những phát triển trên có thể là yếu tố làm thay đổi cán cân sức mạnh tại các khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương trong thời gian tới.
Tin Gốc: https://thanhnien.vn/tiem-nang-quan-su-trung-quoc-trong-cong-nghe-luong-dung-185260406195726287.htm

Tờ Bangkok Post ngày 9.4 đưa tin Không quân Hoàng gia Thái Lan (RTAF) vừa bác bỏ những lo ngại trong nước sau khi nhiều máy bay quân sự Mỹ sử dụng Sân bay quốc tế Krabi tại tỉnh Krabi phía nam Thái Lan.
Nhấn mạnh mối quan hệ an ninh giữa Thái Lan và Mỹ, RTAF cho biết các chuyến bay này là thường lệ và không liên quan đến cuộc xung đột ở Trung Đông hay khả năng Mỹ lập căn cứ quân sự.
Lời giải thích được đưa ra sau khi người dân bày tỏ nghi ngờ về nhiều vụ cất cánh và hạ cánh của máy bay Mỹ, bao gồm máy bay vận tải C-130, máy bay MV-22 Osprey và trực thăng H-60 Seahawk, diễn ra hằng ngày, cả ngày lẫn đêm.
Một số người suy đoán rằng Mỹ đang khảo sát các địa điểm tiềm năng để xây dựng một căn cứ quân sự trên bờ biển Andaman của Thái Lan hoặc thiết lập một địa điểm nghỉ ngơi cho binh lính trở về từ các chiến dịch ở Trung Đông.
Ông Chakkrit Thammavichai, phát ngôn viên RTAF, cho biết hoạt động này không có gì bất thường và chỉ thu hút sự chú ý vì đây là lần đầu tiên các máy bay này sử dụng sân bay Krabi.
Các hoạt động tương tự trước đây đã diễn ra tại sân bay U-Tapao và Phuket. Ông Chakkrit cho biết RTAF đã đưa ra lời giải thích chính thức về việc này.
Theo ông, các chuyến bay này là một phần của các hoạt động quân sự của Mỹ liên quan việc luân chuyển quân và sơ tán y tế, bao gồm việc chuyển những người cần điều trị từ các tàu trên biển đến các bệnh viện trên đất liền.
Ông khẳng định các nhiệm vụ này nằm trong sự hợp tác an ninh lâu dài giữa Thái Lan và Mỹ, không liên quan đến cuộc xung đột đang diễn ra ở Trung Đông.
Người phát ngôn cho biết tất cả các đề nghị đều tuân theo quy trình, bao gồm việc cấp phép ngoại giao thông qua các kênh thích hợp, mà không có bất kỳ điều khoản đặc biệt nào.
Sân bay Krabi được các quan chức Mỹ lựa chọn lần này do tình trạng quá tải tại các sân bay khác thường được sử dụng cho các hoạt động tương tự.
"Việc hạ cánh của máy bay nước ngoài tại Thái Lan đều phải thông qua quy trình của Bộ Ngoại giao trong mọi trường hợp, được xem xét cẩn thận về tính phù hợp. Không vi phạm bất kỳ quy định hoặc thỏa thuận nào. Mọi việc đều được thực hiện theo đúng thủ tục", ông Chakkrit cho biết.
Trong thông cáo chính thức, RTAF nhắc lại rằng việc cho phép máy bay quân sự Mỹ hoạt động tại đây được thực hiện với các điều kiện tương tự áp dụng cho tất cả các quốc gia. RTAF cho biết các hoạt động này không liên quan đến các xung đột khu vực và sẽ không dẫn đến việc Thái Lan can thiệp vào bất kỳ tranh chấp nào.

