Những ngày nghỉ lễ hay mùa hè, nhiều gia đình đưa trẻ đi du lịch xa. Không ít phụ huynh mua miếng dán chống say tàu xe chứa scopolamine với suy nghĩ “dán cho khỏe, khỏi ói”.
Tuy nhiên, đây không phải sản phẩm vô hại. Với trẻ nhỏ, đặc biệt dưới 8 tuổi, việc dùng sai, quá liều có thể dẫn đến những phản ứng nguy hiểm.
Scopolamine là hoạt chất có nguồn gốc từ nhóm cây cà độc dược. Thuốc tác động lên hệ thần kinh bằng cách ức chế chất dẫn truyền acetylcholine – một chất tham gia điều khiển nhiều hoạt động của não bộ và hệ tiền đình.
Thuốc scopolamine chặn bớt hoạt động dẫn truyền thần kinh, giảm triệu chứng say xe. Ở người lớn, thuốc có thể có hiệu quả nếu dùng đúng chỉ định.
Nhưng ở trẻ em, đặc biệt trẻ nhỏ, hệ thần kinh còn non nớt nên phản ứng với thuốc rất khó lường.
Điều nguy hiểm là scopolamine không chỉ tác động lên vùng chống say xe mà còn ảnh hưởng nhiều cơ quan khác. Khi chất dẫn truyền thần kinh này bị ức chế quá mức, trẻ có thể khô miệng, bí tiểu, táo bón, tim đập nhanh, sốt cao hoặc rối loạn thần kinh.
Nhiều phụ huynh lầm tưởng trẻ “ngủ ngon” sau khi dán thuốc. Thực ra, buồn ngủ quá mức, lừ đừ hay kích thích bất thường có thể là dấu hiệu thuốc đang ảnh hưởng lên não.
Ngoài ra, bé còn dễ bị quá liều vì da mỏng, cân nặng thấp và khả năng chuyển hóa thuốc chưa hoàn chỉnh. Chỉ cần dùng miếng dán không phù hợp hoặc vô tình chạm tay vào thuốc rồi dụi mắt, trẻ đã có thể bị giãn đồng tử, nhìn mờ hoặc kích động.
Đáng lo hơn, một số trường hợp trẻ xuất hiện ảo giác, la hét, nói nhảm khiến gia đình tưởng “trúng gió” hay “sốt cao co giật”. Thực chất đó có thể là phản ứng không mong muốn của hệ thần kinh do scopolamine.
Vì vậy phụ huynh không nên tự ý mua miếng dán chống say xe cho trẻ nhỏ, đặc biệt trẻ dưới 8 tuổi, nếu chưa có hướng dẫn của bác sĩ.
Phòng ngừa say tàu xe cho trẻ thế nào là an toàn nhất?
1. Trước khi lên xe khoảng 1-2 giờ nên cho trẻ ăn nhẹ, tránh quá no nhưng cũng không để bụng đói.
2. Khi đi xe nên cho trẻ ngồi vị trí ít rung lắc như giữa xe, gần cánh máy bay hoặc khoang giữa tàu.
3. Không nên để trẻ nhìn điện thoại, đọc sách hoặc chơi game liên tục vì mắt phải tập trung gần sẽ làm não dễ rối loạn cảm giác hơn.
4. Nếu trẻ có tiền sử say xe nặng, phụ huynh nên đưa trẻ đi khám để bác sĩ tư vấn loại thuốc phù hợp theo tuổi và cân nặng thay vì tự mua theo truyền miệng.
Ngày 16/4, các bác sĩ Bệnh viện Phụ sản Hà Nội nói sản phụ mang thai lần đầu, thai thụ tinh nhân tạo, một trai và một gái. Trong thai kỳ, bệnh nhân có tiền sử sinh non, từ tuần 20 bắt đầu có dấu hiệu cổ tử cung ngắn.
Từ tuần 22, bệnh nhân xuất hiện đau bụng, ra dịch, cơn co tử cung, cổ tử cung mở. Khoảng một tuần sau, bệnh nhân cấp cứu tại Khoa sản bệnh A4, cổ tử cung mở 2-3 cm.
"Lúc này, thai thứ nhất tụt thấp, chân thò ra ngoài trong bọc ối, tiên lượng rất nặng, nguy cơ sinh non và nhiễm trùng cao", bác sĩ Trương Minh Phương, người điều trị chính, nói.
TS.BS Mai Trọng Hưng, Giám đốc Bệnh viện và bác sĩ Phương nhận định khả năng giữ thai khó, nguy cơ nhiễm trùng đe dọa mẹ và thai còn lại. Tuần 26, sản phụ chuyển dạ, bé gái sinh non, nặng 650g, chuyển Bệnh viện Nhi Trung ương điều trị. Trẻ bị biến chứng chảy máu não, nhiễm trùng.
Sau khi cân nhắc kỹ lưỡng giữa nguy cơ của mẹ, thai còn lại và cơ hội sống của thai nếu nuôi thêm trong bụng, các bác sĩ đã quyết định điều trị cắt cơn chuyển dạ để giữ lại thai nhi thứ hai trong tử cung mẹ.
"Thông thường, thai thứ hai sẽ sinh ngay sau thai một. Đây là lựa chọn mang tính bước ngoặt, mở ra cơ hội sống cao hơn cho em bé", bác sĩ Hưng nói.
Quá trình giữ thai 12 tuần với phác đồ điều trị nghiêm ngặt, điều chỉnh liên tục. Bệnh nhân phải kiểm soát nhiễm trùng chặt chẽ. Thai phát triển, tăng cân đều nhưng chậm.
Sáng 15/4, thai được 38 tuần, bác sĩ hội chẩn quyết định mổ lấy thai. Bé trai chào đời nặng 2,4 kg. Tình trạng ổn định. Bé gái nặng 1,8 kg, tự thở, tự ăn, phản xạ tốt.
Theo bác sĩ, thai thứ hai được giữ thêm 12 tuần sau khi thai một đã sinh là khoảng thời gian rất dài, hiếm gặp, bước tiến quan trọng trong sản khoa, mở ra cơ hội cho các ca song thai nguy cơ cao.
Bác sĩ khuyến cáo sản phụ cần theo dõi thai kỳ chặt chẽ bằng siêu âm 4D, doppler màu, đo tim thai... để phát hiện sớm bất thường. Nhờ đó, bác sĩ khám, siêu âm thai định kỳ mới đưa ra hướng xử trí phù hợp, an toàn cho mẹ và bé.
Ăn thuần thực vật ngày càng phổ biến trong giới trẻ, dân văn phòng và người theo đuổi lối sống lành mạnh. Các nghiên cứu gần đây cho thấy ăn chay giúp cải thiện chỉ số tim mạch, chuyển hóa, hỗ trợ kiểm soát cân nặng và giảm cholesterol xấu.
Testosterone liên quan đến ham muốn tình dục, khối cơ, sức mạnh và năng lượng. Tuy nhiên, hormone này không phụ thuộc riêng vào việc ăn thịt hay không, mà còn bị chi phối bởi tuổi tác, giấc ngủ, stress, béo phì, vận động và tình trạng dinh dưỡng.
Hiện chưa có bằng chứng rõ ràng cho thấy ăn chay hay ăn thuần thực vật làm giảm testosterone. Nghiên cứu trên nam giới trưởng thành không ghi nhận mối liên quan đáng kể giữa chế độ ăn thực vật và nồng độ hormone này. Tương tự, đậu nành cũng không làm giảm testosterone như nhiều người lo ngại.
Nguy cơ nằm ở chế độ ăn thiếu cân đối. Người ăn chay nếu không bổ sung hợp lý có thể thiếu vitamin B12, sắt, kẽm, i-ốt, vitamin D... dẫn đến mệt mỏi, giảm sức bền và ham muốn - dễ bị hiểu nhầm là do testosterone thấp. Trong đó, thiếu kẽm có liên quan đến giảm hormone này.
Nếu muốn theo chế độ ăn thuần thực vật mà vẫn duy trì sức khỏe, nên chú ý đảm bảo đủ đạm (đậu, đậu nành, hạt), đủ năng lượng và đủ vi chất. Đồng thời duy trì ngủ đủ, tập luyện, kiểm soát cân nặng và stress - những yếu tố ảnh hưởng lớn đến nội tiết. Nhiều khi một người không ăn chay nhưng thức khuya, bụng mỡ nhiều, áp lực kéo dài lại có nguy cơ rối loạn nội tiết lớn hơn người ăn thuần thực vật nhưng sống điều độ.
Tóm lại, chưa có bằng chứng đủ mạnh cho thấy ăn chay hay ăn thuần thực vật làm giảm testosterone ở nam giới. Điều quan trọng hơn là chất lượng khẩu phần, năng lượng, vi chất và lối sống đi kèm. Vì vậy, vấn đề không phải "ăn chay có làm đàn ông yếu đi không", mà là "ăn chay có được xây dựng đúng cách hay không".
Trứng từng bị cho là không tốt cho tim mạch vì chứa nhiều cholesterol, nhưng các nghiên cứu gần đây cho thấy ăn trứng ở mức vừa phải không làm tăng LDL hay nguy cơ bệnh tim.
Nhờ giá trị dinh dưỡng cao, trứng còn hỗ trợ cơ bắp, tăng cảm giác no và kiểm soát cân nặng. Đáng chú ý, một nghiên cứu mới đây còn cho thấy mối liên hệ của trứng với việc làm giảm nguy cơ mắc Alzheimer, theo Medical News Today (Anh).
Nghiên cứu sử dụng dữ liệu từ Nghiên cứu Sức khỏe Adventist 2 (AHS-2) và đối chiếu với hồ sơ bảo hiểm y tế Medicare (Mỹ), có hơn 39.400 người đủ điều kiện được đưa vào phân tích.
Dựa trên thói quen ăn uống do người tham gia tự khai và dữ liệu chẩn đoán bệnh từ Medicare, các nhà nghiên cứu nhận thấy:
Nghiên cứu này không chứng minh rằng ăn trứng giúp phòng tránh hoàn toàn bệnh Alzheimer, nhưng các nhà khoa học đưa ra giả thuyết rằng trứng có thể bảo vệ não nhờ các dưỡng chất đặc thù, gồm:
Những dưỡng chất vừa nêu có thể giúp duy trì tính toàn vẹn của các khớp thần kinh, giảm viêm và stress oxy hóa, từ đó hỗ trợ khả năng nhận thức.
Tác giả chính của nghiên cứu, tiến sĩ Jisoo Oh, Phó giáo sư dịch tễ học tại Trường Y tế Công cộng, Đại học Loma Linda (Mỹ), cho biết không nên xem trứng là “giải pháp thần kỳ” mà cần kết hợp lối sống lành mạnh với chế độ ăn cân bằng gồm rau, trái cây, ngũ cốc nguyên hạt và thực phẩm giàu dinh dưỡng.
Cần lưu ý rằng trứng không phải thực phẩm “ăn bao nhiêu cũng được”. Chúng vẫn chứa chất béo bão hòa và cholesterol. Ở những người nhạy cảm với cholesterol trong thực phẩm, lòng đỏ trứng có thể làm tăng LDL, đặc biệt nếu đã có nguy cơ tim mạch cao.
Hiệp hội Tim mạch Mỹ (AHA) cũng cho biết người không mắc bệnh tim có thể ăn khoảng 1 quả trứng/ngày, nhưng nên hạn chế nếu có cholesterol cao hoặc nguy cơ tim mạch.
Do đó, việc có nên ăn nhiều trứng hơn hay không phụ thuộc vào tình trạng sức khỏe cá nhân và tổng thể chế độ ăn. Với những người ăn chay hoặc hạn chế thực phẩm động vật, vẫn có thể bổ sung các dưỡng chất bảo vệ não từ nguồn khác như:
Choline: Từ đậu nành, đậu thận, quinoa, cải Brussels.
Omega-3 và B12: Có thể bổ sung qua thực phẩm chức năng theo tư vấn y tế.