Báo South China Morning Post đưa tin, ngày 14-4, cảnh sát thành phố Melaka (Malaysia) tuyên bố đang truy tìm một tài xế xe buýt 36 tuổi sau khi một đoạn video lan rộng trên mạng xã hội cho thấy anh vừa lái xe, vừa để một người phụ nữ ngồi trên đùi.
Theo ông Lee Robert, quan chức quản lý cảnh sát quận Jasin thuộc Melaka, vụ việc xảy ra vào khoảng 19h30 ngày 12-2 tại lối ra vào khu vực nghỉ dưỡng và giải trí Bemban.
Ông mô tả hành động của người lái xe là cực kỳ nguy hiểm, lưu ý rằng hành vi như vậy có thể làm suy giảm khả năng điều khiển xe và gây mất tập trung nghiêm trọng, tiềm ẩn rủi ro cho hành khách và những người tham gia giao thông khác.
Ông Lee nhấn mạnh: “Vụ việc này rất nghiêm trọng. Phương tiện giao thông công cộng là nơi mà người lái xe phải có kỷ luật và trách nhiệm cao”.
Ông cho biết cảnh sát đã kêu gọi cả người lái xe (đã kết hôn) và người phụ nữ xuất hiện trong đoạn video đến trình diện tại Phòng Điều tra và thực thi Luật Giao thông thuộc trụ sở cảnh sát quận Jasin để hỗ trợ điều tra.
Đoạn video trên mạng xã hội cho thấy người tài xế để một người phụ nữ ngồi trên đùi mình khi đang lái xe – Video: Facebook/Community Roda Johor – CRJ
Ông Lee cho biết vụ việc đang được điều tra theo Mục 42 (1) của Luật Giao thông đường bộ Malaysia năm 1987. Đạo luật này quy định mức án tù tối đa 5 năm và phạt tiền từ 5.000 ringgit (hơn 30 triệu đồng) – 15.000 ringgit (100 triệu đồng), cũng như tước quyền sở hữu hoặc xin giấy phép lái xe trong thời hạn tối thiểu 5 năm.
“Chúng tôi cũng muốn nhắc nhở công chúng tuân thủ luật giao thông và tránh những hành động có thể gây nguy hiểm đến tính mạng”, ông Lee chia sẻ.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

Một tiêm kích F-15E của Mỹ đã bị bắn rơi ở Tây Nam Iran và 2 phi công trong buồng lái đã phải phóng dù thoát hiểm. Đây là lần đầu tiên một chiến đấu cơ Mỹ bị bắn rơi trên bầu trời Iran kể từ khi xung đột bùng phát cuối tháng 2.
Quân đội Mỹ sau đó đã phát động chiến dịch tìm kiếm cứu nạn quy mô lớn và lực lượng đặc nhiệm đã giải cứu một phi công. Tuy nhiên, phi công thứ hai ngồi phía sau có vai trò điều khiển vũ khí vẫn mất tích, ẩn náu sự truy tìm của các lực lượng Iran để chờ lực lượng giải cứu. Hai phi công thường phóng ghế gần như đồng thời, nhưng có thể bị tách nhau sau khi mở dù do ảnh hưởng từ gió và các yếu tố khác.
Sau đó, Tổng thống Donald Trump tuyên bố quân đội nước này đã giải cứu thành công phi công bị mất tích mang hàm đại tá trên chiếc F-15 bị bắn rơi.
"Chúng tôi đã cứu được anh ấy! Trong vài giờ qua, quân đội Mỹ đã tiến hành một trong những phi vụ tìm kiếm và giải cứu táo bạo nhất lịch sử đất nước, giải cứu một sĩ quan phi hành đoàn xuất sắc mang quân hàm đại tá. Tôi vui mừng thông báo người này hiện đã an toàn và khỏe mạnh", ông Trump viết trên mạng xã hội X.
Và vụ việc này đã làm gợi lại một câu hỏi lớn: Phi công Mỹ được huấn luyện thế nào để tránh bị bắt sau khi máy bay rơi?
Theo báo Wall Street Journal, các phi công tinh nhuệ và lực lượng đặc nhiệm của quân đội Mỹ trải qua quá trình huấn luyện khắc nghiệt để đối phó với viễn cảnh bị mắc kẹt sau chiến tuyến của đối phương - giống thành viên phi hành đoàn F-15 được giải cứu ở Iran lần này.
Khóa huấn luyện này được gọi là SERE gồm 4 bước, viết tắt của "sinh tồn, trốn tránh, kháng cự và thoát hiểm" giúp tăng khả năng sống sót và cơ hội giải cứu khi bị bắn rơi trong lãnh thổ địch.
Theo một video tuyển dụng của Không quân Mỹ, lý tưởng đề ra là: “Nhiệm vụ của người sống sót là trở về, bằng danh dự”. Khóa huấn luyện SERE được giảng dạy theo nhiều cách khác nhau trong quân đội Mỹ nhưng là trọng tâm đặc biệt của Không quân.
“Đối với phi công, SERE là tối quan trọng vì họ có thể bị mắc kẹt một mình, sau chiến tuyến của kẻ thù, hoặc trong lãnh thổ của kẻ địch mà không có nhiều cảnh báo”, David A. Deptula, một cựu tướng Không quân Mỹ, hiện là hiệu trưởng tại Viện Nghiên cứu Hàng không Vũ trụ Mitchell có trụ sở tại Arlington, bang Virginia, cho biết.
Theo ông, các khóa huấn luyện nhằm mục đích chuẩn bị sẵn sàng cho phi công cơ hội sống sót, tránh bị bắt giữ nếu có thể, chống bị tra tấn nếu bị bắt và cải thiện cơ hội phục hồi sau khi được giải cứu.
Trong một tuyên bố, Tổng thống Trump cho hay, thành viên phi hành đoàn Không quân được giải cứu cuối tuần qua bị thương nặng. Phi công này đã sống sót và tránh sự truy bắt trong 36 giờ tại một vùng núi hẻo lánh của Iran. Nếu phi công này bị bắt, Iran sẽ có được một lợi thế đàm phán với Mỹ và là "một chiến lợi phẩm tuyên truyền thời chiến" có giá trị.
Sinh tồn
Khi máy bay bị bắn rơi, phi công thường nhảy dù sau khi phóng ghế thoát hiểm, đó là đỉnh điểm của một loạt các tình huống nhanh chóng, mất phương hướng và nguy hiểm, gây ra vô số rủi ro về thể chất và tinh thần.
Vì vậy, từ thời điểm phi công nhảy dù thoát hiểm trên không đến cuộc chạy đua với thời gian trên mặt đất, sự kết hợp giữa huấn luyện, chiến thuật, bản năng sinh tồn và phản ứng quân sự nhanh có thể tối đa hóa cơ hội sống sót và được giải cứu của phi công.
Trong huấn luyện SERE, ưu tiên hàng đầu là sống sót, bao gồm việc ưu tiên các nhu cầu để giảm thiểu căng thẳng và tiêu hao năng lượng. Theo đó, phi công học cách chịu đựng điều kiện khắc nghiệt, tránh lực lượng đối phương, ngăn chặn tình huống bị bắt và tìm đường tới các đội giải cứu. Huấn luyện này nhấn mạnh khả năng thích ứng và ra quyết định chính xác thay vì chỉ dựa vào trang thiết bị.
Họ được dạy rằng cách tốt nhất để làm điều đó liên quan đến một phương pháp ghi nhớ khác, trong đó mỗi chữ cái của từ “sinh tồn" đề cập đến một tập hợp các hành động để cứu sống người đó.
Có một hệ thống được xây dựng dựa trên học thuyết sinh tồn, không chỉ giới hạn ở một bộ dụng cụ. Hệ thống này bao gồm bộ dụng cụ sinh tồn gắn dưới ghế phóng. Phi công cũng mặc áo giáp sinh tồn, kèm theo các vật dụng bổ sung như mũ bảo hiểm, radio và vũ khí. Các chuyên gia cho biết thứ then chốt là bộ dụng cụ sinh tồn, được triển khai cùng dù khi phi công thoát hiểm. Đây cũng trở thành “dây sinh mệnh” của phi công khi ở dưới mặt đất.
Trong huấn luyện SERE, các phi công được đưa vào nhiều môi trường thù địch, từ sa mạc đến Bắc Cực, theo một video của Không quân. Video cho thấy các học viên được thả xuống nước và hạ cánh bằng dù. Họ uống nước sông, nhóm lửa bằng que củi, dùng lá cọ để dựng một lều và dùng đá để dựng loại lều khác, cũng như chế biến các món ăn từ xương rồng và bọ cánh cứng.
Và ưu tiên nhất là các công cụ liên lạc và định vị, khi radio sinh tồn giúp phi công giữ liên lạc với đội giải cứu, trong khi la bàn, gương tín hiệu và thiết bị định vị GPS hỗ trợ xác định và truyền vị trí.
Sau khi tiếp đất, quá trình sinh tồn bắt đầu ngay lập tức. Việc chạm đất thường nguy hiểm. Phi công có thể bị thương, như gãy xương, trong quá trình thoát hiểm hoặc tiếp đất. Ngay cả khi có dù, nhiều trường hợp trong các cuộc xung đột trước đây vẫn ghi nhận chấn thương nghiêm trọng.
Những bước cơ bản đầu tiên khi ở trên mặt đất là kiểm tra chấn thương, đánh giá khả năng di chuyển và quan sát môi trường xung quanh. Ông nói thêm: “Hãy kiểm tra bản thân để biết mình đang ở tình trạng nào? Có thể di chuyển không? Có còn khả năng cơ động không?”.
Trốn thoát
"Sự sống còn đi đôi với việc không bị bắt. Mục tiêu là không bị bắt”, ông Jason Smith, một thượng sĩ đã nghỉ hưu trong lực lượng đặc nhiệm của quân đội và là người hướng dẫn chính tại Trường Huấn luyện SERE, nhấn mạnh.
Sau khi tiếp đất, phi công cần xác định chính xác vị trí của mình. Họ ở sau phòng tuyến đối phương hay không, có thể ẩn nấp ở đâu và có thể liên lạc bằng cách nào. Đối với tổ bay bị bắn rơi, mục tiêu chính là tránh bị bắt trong khi cố gắng thiết lập liên lạc với lực lượng giải cứu.
“Hãy cố tránh bị đối phương bắt giữ lâu nhất có thể. Nếu ở trong môi trường sa mạc, ưu tiên sẽ tìm cách kiếm nước”, Houston Cantwell, tướng đã nghỉ hưu và hiện làm việc tại Viện Nghiên cứu Hàng không Vũ trụ Mitchell, cho hay.
Mỗi kế hoạch nhiệm vụ đều bao gồm các phương án dự phòng cho việc giải cứu được thống nhất trước chuyến bay giữa phi công và căn cứ, vì vậy phi công vừa trốn tránh kẻ thù vừa thực hiện chiến lược rút lui. "Lý tưởng nhất là phi công có thể đặt mình vào vị trí tốt nhất có thể để được giải cứu", chuyên gia Smith nói.
Có lẽ trường hợp vận dụng hiệu quả SERE nổi tiếng nhất là của Đại úy Scott F. O’Grady vào năm 1995, khi máy bay chiến đấu F-16C của ông bị bắn rơi trong Chiến tranh Bosnia và ông đã trải qua 6 ngày trong lãnh thổ của kẻ địch. Phi công O’Grady đã ăn kiến để sống sót và di chuyển vào ban đêm, tìm cách liên lạc với căn cứ bằng các xung tín hiệu vô tuyến.
Chống cự
Nếu một phi công sau khi tiếp đất bị đối phương phát hiện, nội dung huấn luyện SERE yêu cầu rõ: Họ phải chống cự. Các manh mối trong tài liệu công khai cho thấy các phi công học các cú đá theo phong cách võ thuật, mang theo vũ khí nhỏ và được huấn luyện các quy tắc giao chiến phù hợp với Công ước Geneva.
Ông Smith từ chối nói về một số khía cạnh của huấn luyện SERE vì tính nhạy cảm của vấn đề, nhưng cho biết phi công được giải cứu ở Iran đã biết rõ các bước thực hiện trong nội dung huấn luyện này.
“Phi công chắc chắn đã được huấn luyện cả về kháng cự và trốn thoát”, ông Smith nói.
Khái niệm chủ đạo của SERE xuất hiện để đáp ứng với những khó khăn mà những binh sĩ Mỹ bị bắt làm tù binh trong Chiến tranh Triều Tiên phải đối mặt. Một sắc lệnh hành pháp của Tổng thống Dwight D. Eisenhower đã đặt ra tiêu chuẩn cho binh sĩ bị đe dọa bắt giữ, bao gồm cả điều khoản: “Nếu bị bắt, tôi sẽ tiếp tục kháng cự bằng mọi phương tiện có thể".
Bộ Quy tắc Ứng xử của Tổng thống Eisenhower quy định rằng tù binh chiến tranh Mỹ chỉ được cung cấp cho đối phương tên, cấp bậc, ngày sinh và số hiệu quân nhân.
Theo một báo cáo của Không quân, “các phi công đoàn được dạy cách sử dụng mọi thứ, từ pháo sáng, bộ đàm và các thiết bị khác để né tránh kẻ thù một cách đúng đắn và hiệu quả, đồng thời trở về nơi an toàn”.
Chiến dịch giải cứu
Khi phi công tìm cách ẩn nấp, các đội Tìm kiếm và Giải cứu Chiến đấu (CSAR), gồm những binh sĩ và phi công được huấn luyện kỹ càng trong trạng thái sẵn sàng, sẽ được kích hoạt. Các đội này được đào tạo để giải cứu nhân sự từ khu vực của đối phương.
“Điều đó giúp phi công yên tâm vì biết họ sẽ làm mọi thứ có thể để đến cứu mình. Đồng thời, họ sẽ không thực hiện một nhiệm vụ tự sát”, chuyên gia Cantwell nói.
Đồng thời, một lượng lớn thông tin tình báo được thu thập và phân tích để xác định vị trí và tình trạng của phi công mất tích. “Mọi việc từ thông tin tình báo con người đến hình ảnh, đến các thiết bị bay không người lái và tình báo tín hiệu. Tất cả đều được sử dụng để tìm người này”, chuyên gia Scott Fales, lính cứu hộ nhảy dù từng đóng vai trò quan trọng trong sự kiện “Black Hawk Down” năm 1993, tiết lộ.
Sau khi xác định được vị trí phi công mất tích, kế hoạch giải cứu được xây dựng theo thời gian thực trong khi bay. “Các xạ thủ quan sát và tìm kiếm mối đe dọa, phi công tìm nơi hạ cánh, chúng tôi liên lạc với phi công bị bắn rơi”, ông Fales nói. Trên mặt đất, lực lượng đảm bảo rằng đó đúng là người họ đang tìm kiếm, sau đó tiến hành đánh giá giữa mức độ đe dọa và nhu cầu y tế.
Trong vụ việc mới nhất ở Iran, video từ hiện trường vụ giải cứu cho thấy phi công đã ẩn nấp tại một khu vực núi khô cằn sâu trong miền Nam Iran sau khi đáp xuống. Theo Wall Street Journal, phi công bị thương đã rời nơi ẩn nấp vào những phút cuối và thực hiện một động tác táo bạo để gặp đội giải cứu thuộc lực lượng biệt kích SEAL Team 6 của Hải quân Mỹ. Ông leo lên một sườn núi cao khoảng 2.100m trong khi lực lượng Mỹ thả bom và nổ súng vào các đoàn xe Iran đang tiến đến.
Chiến dịch giải cứu có sự tham gia của hàng trăm lính đặc nhiệm được vận chuyển bằng máy bay MC-130J hạ cánh xuống một đường băng tạm, trong khi thiết bị bay không người lái MQ-9 Reaper và các tiêm kích cung cấp yểm trợ trên không, tấn công mọi đối tượng bị coi là mối đe dọa trong bán kính 3 km.
Chiến dịch trên được triển khai sau khi Cơ quan Tình báo Trung ương Mỹ (CIA) xác định vị trí phi công và tiến hành “chiến dịch đánh lừa” khiến phía Iran tin rằng phi công đã được tìm thấy ở nơi khác. Chiến dịch nghi binh này đã phát huy hiệu quả.
Theo Wall Street Journal

Bộ trưởng Hải quân Mỹ John Phelan bất ngờ bị sa thải ngày 22/4 sau nhiều tháng căng thẳng với Bộ trưởng Quốc phòng (Bộ trưởng Chiến tranh) Pete Hegseth liên quan đến dự án đóng tàu "Hạm đội Vàng" (Golden Fleet). Đây là diễn biến bất ngờ vì Hải quân Mỹ đang đóng vai trò quan trọng trong chiến dịch phong tỏa các cảng của Iran giữa lúc tình hình này ngày càng nóng lên từng ngày.
Theo các nguồn tin, Bộ trưởng Hải quân Mỹ John Phelan đã không chấp nhận việc bị sa thải cho đến khi nhận được thông báo từ Tổng thống Donald Trump.
Báo Wall Street cho biết, vào tối 24/4, ông Phelan ngồi trong sảnh ở Cánh Tây của Nhà Trắng hơn một giờ đồng hồ, chờ xem liệu người bạn lâu năm và hàng xóm của ông, Tổng thống Trump, có cứu vãn được tình thế này hay không. Nhưng rồi, ông ra về trong thất vọng.
Chiều hôm đó, vị Bộ trưởng Hải quân này nhận được một cuộc điện thoại từ cấp trên, Bộ trưởng Quốc phòng Pete Hegseth, yêu cầu ông từ chức.
Ông Phelan sau đó chỉ ở trong khu vực tòa nhà Quốc hội trên Đồi Capitol, gặp gỡ các nghị sĩ bàn việc đóng tàu của Hải quân và yêu cầu Lầu Năm Góc chi ngân sách cho việc này.
Cách đó không xa tại Nhà Trắng, một cuộc họp khác đang diễn ra, sẽ quyết định số phận của ông, theo các quan chức Mỹ.
Ông chủ Lầu Năm Góc Hegseth và cấp phó của ông, Stephen Feinberg, đã nhấn mạnh với Tổng thống Trump rằng: ông Phelan không hành động nhanh chóng và quyết liệt đối với các dự án đóng tàu ưu tiên của ông Trump, đặc biệt là về "Hạm đội Vàng" và việc ngày càng phụ thuộc vào việc sử dụng động cơ hơi nước. Họ kết luận rằng Hải quân cần một ban lãnh đạo mới.
Ông Phelan đã thực hiện hàng loạt cuộc gọi, bao gồm cả cuộc gọi cho trợ lý điều hành của Tổng thống Trump, nói rằng ông cần nói chuyện với nhà lãnh đạo Mỹ. Sau đó, ông Phelan tiến về phía Nhà Trắng.
Theo một quan chức cấp cao trong chính quyền, ngay khi Tổng thống Trump có thời gian rảnh rỗi vào tối 22/4, vị Bộ trưởng này lúc đó đã xin được giữ lại chức vụ, nhưng Tổng tư lệnh quân đội đã ủng hộ quyết định của lãnh đạo Lầu Năm Góc Hegseth.
Sự việc này là dấu hiệu cho thấy ông Hegseth vẫn duy trì sự ủng hộ của Tổng thống Trump bất chấp những biến động nhân sự cấp cao gần đây tại Lầu Năm Góc.
Khi ký quyết định sa thải ông Phelan, Tổng thống Trump đã đứng về phía ông Hegseth thay vì một người bạn và hàng xóm thân thiết, người đã gây quỹ hàng triệu USD cho chiến dịch tranh cử của chính ông. Các quan chức chính quyền cho hay ông Trump đã chỉ thị cho người đứng đầu Lầu Năm Góc xử lý việc sa thải Bộ trưởng Hải quân.
Phát biểu tại Nhà Trắng ngày 23/4, Tổng thống Trump ca ngợi người bạn của mình, nhưng nói rằng, “Ông ấy là người rất quyết đoán và đã có một số mâu thuẫn với một số người khác, chủ yếu là về việc đóng và mua tàu. Tôi rất quyết liệt trong việc đóng tàu mới, và bằng cách nào đó ông ấy lại không hòa thuận với họ".
Ông Trump đồng thời nhấn mạnh rằng trong môi trường quân sự, khả năng phối hợp và “hòa hợp” là yếu tố bắt buộc.
Động thái này là một cú sốc đối với ông Phelan và các trợ lý cấp cao nhất của ông, những người chỉ biết về việc sa thải thông qua một bài đăng trên mạng xã hội của người phát ngôn Lầu Năm Góc Sean Parnell vào hôm 22/4.
Việc Bộ trưởng Hegseth liên tục cải tổ nhân sự ở một số vị trí lãnh đạo hàng đầu của Lầu Năm Góc trong những tuần gần đây đã gây ra lo ngại vào một thời điểm bấp bênh, khi Mỹ đang thực thi lệnh phong tỏa hải quân đối với các cảng của Iran.
Mặc dù Bộ trưởng Hải quân không nằm trong chuỗi chỉ huy tác chiến, ông Phelan đóng một vai trò quan trọng khi Bộ Quốc phòng đang đưa ra yêu cầu ngân sách lớn nhất trong lịch sử.
Đáng chú ý, dù quyết định thay thế, vị Tổng thống Mỹ vẫn dành lời khen cho ông Phelan trên nền tảng Truth Social và để ngỏ khả năng đưa ông trở lại chính quyền trong tương lai, cho thấy đây nhiều khả năng là sự điều chỉnh nhân sự mang tính chiến thuật hơn là rạn nứt hoàn toàn.
Năm ngoái, ông Feinberg đã tạo ra chức vụ "đặc phái viên" phụ trách mua sắm tàu ngầm, báo cáo trực tiếp cho ông dù danh mục công việc đó thường thuộc về Hải quân. Ngoài ra, theo một nguồn tin thân cận với các cuộc họp, Thứ trưởng Bộ Quốc phòng Feinberg thường không mời ông Phelan tham gia các cuộc họp thường xuyên với các giám đốc điều hành đóng tàu hàng đầu.
Không giống như trường hợp của ông Phelan, Tổng thống Trump hiếm khi công khai cảm ơn các lãnh đạo cấp cao khác mà Bộ trưởng Hegseth đã sa thải, một dấu hiệu cho thấy mối quan hệ tốt đẹp của ông Phelan với Tổng thống.
Nhà của ông Phelan ở Florida chỉ cách câu lạc bộ Mar-a-Lago của Tổng thống Trump một đoạn ngắn, nơi hai người từng thường xuyên ăn tối cùng nhau. Năm ngoái, ông Phelan nói với các nghị sĩ rằng ông đã nhắn tin cho Tổng thống về việc đóng tàu chiến vào lúc giữa đêm.
Tin Gốc: Dân Trí

Thế hệ những nhà ngoại giao đi trước của hai nước - những người sinh ra trong thời kỳ khói lửa, trực tiếp cầm súng hoặc chứng kiến những giờ phút quan trọng của năm 1975 - đã phần nào hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình. Họ đã bắc những nhịp cầu đầu tiên, biến cựu thù thành đối tác, rồi thành Đối tác chiến lược toàn diện.
Giờ đây, khi những bóng dáng cũ dần lùi xa chính trường, trọng trách vun đắp mối quan hệ này đặt lên vai thế hệ sau năm 1975.
Đây là thế hệ không mang trên mình vết sẹo trực tiếp của chiến tranh, nhưng gánh vác một trọng trách to lớn: định vị mối quan hệ song phương Việt - Mỹ trong một thế giới đầy biến động, nơi trí tuệ nhân tạo (AI), chuỗi cung ứng, địa chính trị và an ninh phi truyền thống đang vẽ lại bản đồ quyền lực toàn cầu.
Sự xuất hiện của các nhà chính trị ngoại giao Mỹ sinh sau năm 1975 đánh dấu một bước ngoặt: từ ngoại giao "hậu chiến" sang ngoại giao "tương lai".
Đối với họ, Việt Nam không còn là một cái tên gắn liền với một cuộc chiến tranh xa xôi, mà là một đối tác quan trọng ở khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, một nền kinh tế bùng nổ và là phần quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu hiện nay.
Tôi vẫn còn nhớ cách đây vài năm, Elbridge Colby, sinh năm 1979, người hiện giữ chức Thứ trưởng Bộ Chiến tranh Mỹ phụ trách chính sách, đã có một chuyến thăm và phát biểu tại TP.HCM.
Lúc đó Elbridge đang làm cho một tổ chức nghiên cứu chính sách của Mỹ có tên Center for a New American Security (CNAS) sau khi rời Bộ Quốc phòng Mỹ trong nhiệm kỳ 1 của Tổng thống Donald Trump.
Trong buổi tối hôm đó, tôi và Colby ngồi trên tầng thượng của khách sạn Caravelle, nhâm nhi một ly bia lạnh và cùng phóng tầm mắt về phía Nhà hát Thành phố.
Caravelle không chỉ là một khách sạn hạng sang, đó là chứng nhân lịch sử, nơi đặt văn phòng của các hãng tin quốc tế và là điểm đóng quân của nhiều quan chức Mỹ trước năm 1975, trong đó có ông nội của Elbridge - William Colby, cựu Giám đốc CIA - từng là Trưởng trạm CIA tại Sài Gòn.
Ngồi tại nơi mà ông nội mình từng trú ngụ, Elbridge Colby đã bất chợt hỏi tôi: "Liệu người Việt Nam các bạn hiện còn ghét cái tên Colby vì những gì ông nội tôi đã làm ở Việt Nam không?". Tôi cười lớn và đáp: "Chúng tôi trân trọng lịch sử, nhưng chúng tôi không sống trong đó. Người Việt Nam chúng tôi luôn hướng về tương lai".
Tôi hiểu rằng câu hỏi của Colby phản ánh một nỗi trăn trở cũ của người Mỹ, đặc biệt những người có người thân từng tham gia chiến tranh Việt Nam, mà chúng ta hay gọi là cuộc kháng chiến chống Mỹ.
Nhiều thập kỷ qua, quan hệ Việt - Mỹ được vận hành bởi một mối quan tâm đặc biệt: sự hòa giải. Những người "lính già" như John McCain, John Kerry đã từng dành cả đời để kéo hai quốc gia ra khỏi hố sâu của quá khứ.
Tuy nhiên chúng ta không thể chỉ ngồi lại và nói về lịch sử mãi được. Trong những buổi nói chuyện cà phê hay buổi ăn trưa của tôi với các nhà ngoại giao Mỹ, chúng tôi thường nói về an ninh khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương, đa dạng hóa chuỗi cung ứng, về việc làm thế nào để Việt Nam trở thành một cứ điểm quan trọng trong ngành bán dẫn, cũng như cách Việt Nam ứng phó trong bối cảnh địa chính trị đầy rủi ro.
Một nhà ngoại giao Mỹ trẻ tuổi khác ở TP.HCM chỉ mới tới thành phố năng động này hơn một năm trước, hào hứng kể với tôi rằng anh đã mua một chiếc xe hơi để có thể tự lái xe đi du lịch xuyên Việt. Anh kể về những nơi ở Việt Nam mà anh đã đi qua, thậm chí tới cả những nơi mà người Việt như tôi chưa từng đặt chân tới.
Những người như thế hệ của Elbridge Colby đều hiểu rằng vì không trực tiếp trải qua xung đột, những nhà ngoại giao sinh sau cuộc chiến ít bị ràng buộc bởi những cảm xúc cá nhân hay những tranh cãi ý thức hệ cũ kỹ. Điều này cho phép họ tiếp cận các vấn đề song phương bằng một sự thực dụng (pragmatism) cao độ.
Giờ đây, đối với nước Mỹ, Việt Nam không còn là tên của một cuộc chiến, một nỗi đau chia rẽ nước Mỹ, hay những thước phim đen trắng về trực thăng trên nóc tòa đại sứ; mà là "một đối tác chiến lược toàn diện" không thể thiếu để duy trì một khu vực Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương mở và tự do.
Còn đối với Việt Nam, Mỹ không còn là "kẻ thù cũ", mà là một thị trường xuất khẩu khổng lồ cho hàng hóa Việt Nam, công nghệ hàng đầu thế giới, cũng như một đối tác an ninh đáng tin cậy.
Trong thập kỷ qua, tăng trưởng GDP của Việt Nam liên tục nằm trong nhóm cao nhất thế giới. Quốc gia này đã trở thành một mắt xích quan trọng trong chuỗi cung ứng toàn cầu, một điểm đến "Trung Quốc cộng một" cho các gã khổng lồ công nghệ như Samsung, Apple hay Intel.
Nhưng đối với thế hệ hậu chiến, sức hút không chỉ nằm ở chi phí nhân công hay vị trí chiến lược. Đó còn là nguồn năng lượng lạc quan của một đất nước nơi khoảng 70% dân số sinh sau khi chiến tranh kết thúc. Họ nhìn nhận Việt Nam là một thực thể kinh tế năng động, một đối tác chiến lược tại Đông Nam Á, chứ không phải là một "vết thương tâm lý" cần được chữa lành.
Thế hệ trước ưu tiên việc tìm kiếm quân nhân mất tích (POW/MIA) và tẩy độc dioxin - những vấn đề vẫn quan trọng nhưng mang tính di sản, thế hệ nhà ngoại giao mới đang dần tập trung thẳng vào bán dẫn, sự dẻo dai của chuỗi cung ứng, AI và an ninh khu vực.
Trong một thời gian dài, chúng ta đã mắc kẹt trong cái mà các nhà phân tích gọi là "lăng kính song phương hẹp". Mọi cuộc đối thoại đều xoay quanh việc xử lý dioxin, tìm kiếm hài cốt (MIA) và những cử chỉ ngoại giao nhằm chứng minh rằng hai kẻ thù cũ đã thực sự là bạn.
Do đó điểm nhấn quan trọng nhất trong tầm nhìn của thế hệ nhà ngoại giao mới chính là việc đặt Việt Nam vào trung tâm của cấu trúc an ninh và kinh tế khu vực.
Việc nâng cấp quan hệ lên Đối tác chiến lược toàn diện vào năm 2023 không chỉ là một danh xưng. Nó phản ánh một thực tế mới: Việt Nam là một "điểm nút thắt" quan trọng trong chiến lược chuyển dịch chuỗi cung ứng khỏi những rủi ro địa chính trị.
Bên cạnh đó an ninh phi truyền thống - từ biến đổi khí hậu tại Đồng bằng sông Cửu Long cho đến an ninh y tế sau đại dịch COVID-19 - cũng đang trở thành những ưu tiên hàng đầu.
Anh Justin, một nhà ngoại giao Mỹ mà tôi rất quý, từng nhận xét: "Khi chúng tôi tặng các tủ lạnh bảo quản vắc xin hay hỗ trợ công nghệ chuyển đổi năng lượng sạch, đó không chỉ là viện trợ. Đó là sự đầu tư vào một tương lai chung. Chúng tôi luôn muốn một Việt Nam tự cường và thịnh vượng".
Mối quan hệ này không còn là câu chuyện song phương tách biệt, nó được đặt trong cấu trúc an ninh đa phương tại Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương. Thế hệ mới hiểu rằng một Việt Nam tự cường về quốc phòng và độc lập về ngoại giao là lợi ích chiến lược của Mỹ, và ngược lại, sự hiện diện ổn định của Mỹ là yếu tố cân bằng cho cấu trúc an ninh khu vực.
Trong bối cảnh cạnh tranh chiến lược Mỹ - Trung ngày càng căng thẳng, Việt Nam đang trở thành một hình mẫu của sự thích ứng.
Thế hệ nhà ngoại giao Mỹ mới nhìn nhận Việt Nam là một mắt xích quan trọng trong chiến lược "Friend-shoring" (dịch chuyển sản xuất sang các nước thân thiện) của Mỹ. Việc vun đắp quan hệ giờ đây nằm ở việc Việt Nam có thể tham gia sâu đến đâu vào hệ sinh thái bán dẫn và công nghệ cao của Intel, Nvidia hay Apple.
Những khuôn mặt nhà ngoại giao Mỹ của Đảng Dân chủ từng trực tiếp "cầm lái" chính sách của Mỹ tại khu vực như cựu cố vấn an ninh quốc gia Mỹ Jake Sullivan, sinh năm 1976, hay Mira Rapp-Hooper, sinh năm 1984, cựu trợ lý đặc biệt Tổng thống Biden hay cho đến Elbridge Colby của Đảng Cộng hòa đều nhìn nhận Việt Nam là một quốc gia có tiếng nói trọng yếu trong việc duy trì tự do hàng hải tại Biển Đông, cũng như đối phó các thách thức về biến đổi khí hậu và an ninh phi truyền thống tại hạ lưu sông Mekong.
Việt Nam và Mỹ đang xây dựng một mối quan hệ đa lớp và toàn diện. Một mặt, đó là sự hợp tác quốc phòng ngày càng được thể chế hóa với những chuyến thăm của tàu sân bay Mỹ, cũng như hỗ trợ phòng chống thiên tai.
Mặt khác, đó là những thỏa thuận về việc giúp đỡ đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao cho ngành công nghệ Việt Nam.
Mới nhất vào cuối tháng 2-2026, Tổng thống Donald Trump cho biết sẽ chỉ đạo các cơ quan liên quan sớm đưa Việt Nam ra khỏi danh sách kiểm soát xuất khẩu chiến lược D1-D3 (phân loại các quốc gia theo mức độ hạn chế khi doanh nghiệp Mỹ xuất khẩu hàng hóa, phần mềm và công nghệ nhạy cảm), qua đó sẽ mở đường để Việt Nam tiếp cận với các công nghệ tiên tiến.
Quá khứ không thể thay đổi, nhưng rõ ràng chúng ta hoàn toàn có thể cùng nhau định hình tương lai. Đó cũng là sự can đảm từ cả hai bên để từ bỏ những định kiến cũ, để chấp nhận rằng sự khác biệt về hệ thống chính trị không phải là rào cản cho một tương lai chung.
Tin Gốc: Tuổi Trẻ

