Một số doanh nghiệp có tỉ lệ cạnh tranh rất cao, phải kể tới Vinamilk, Chứng khoán Vietcap…
Vinamilk là doanh nghiệp sữa có thị phần lớn nhất thị trường. Khép lại năm 2025, doanh nghiệp này ghi nhận doanh thu hợp nhất đạt 63.723 tỉ đồng, tăng 3% so với năm trước; còn lại lợi nhuận sau thuế 9.413 tỉ đồng, giảm nhẹ.
Tại báo cáo thường niên 2025 vừa được công bố, Vinamilk ghi nhận quy mô nhân sự toàn tập đoàn đạt 9.906 người, giảm 54 người sau một năm.
Ước tính với con số này, bình quân mỗi người lao động ở tập đoàn sữa lớn nhất Việt Nam làm ra gần 1 tỉ đồng lợi nhuận ròng/năm.
Báo cáo cũng đưa ra con số cho thấy sức hút tuyển dụng ở Vinamilk rất lớn. Theo đó, chương trình Graduate Talent Program 2025 ghi nhận với 6.294 hồ sơ ứng tuyển, nhưng tỉ lệ cạnh tranh lên tới 1:166, tương đương khoảng 38 người trúng tuyển.
Song song đó, chương trình khác của Vinamilk là Sales Trainee Program với trọng tâm xây dựng đội ngũ kế thừa cho khối kinh doanh, ghi nhận 1.965 hồ sơ ứng tuyển, nhưng tỉ lệ chọn lọc 1:115, tương ứng 17 người trúng tuyển.
Sang 2026, Vinamilk đặt kế hoạch doanh thu hợp nhất đạt 66.477 tỉ đồng và lợi nhuận sau thuế dự kiến ở mức 9.828 tỉ đồng, cùng tăng nhẹ khoảng 4% so với kết quả thực hiện năm 2025.
Nói về triển vọng doanh nghiệp sữa lớn nhất Việt Nam, Chứng khoán KBSV nhận định: Xung đột tại Trung Đông đang khiến hoạt động xuất khẩu của doanh nghiệp tạm thời bị gián đoạn. Khu vực này hiện chiếm khoảng 70-80% kim ngạch xuất khẩu hằng năm, tương đương khoảng 7% tổng doanh thu.
KBSV dự báo doanh thu xuất khẩu của Vinamilk sẽ suy giảm trong nửa đầu năm, trên cơ sở giả định căng thẳng địa chính trị sẽ dần hạ nhiệt vào nửa cuối năm, qua đó hỗ trợ các đơn hàng phục hồi.
Tuy nhiên về dài hạn, triển vọng tại thị trường này vẫn tích cực nhờ mối quan hệ hợp tác lâu năm và dư địa tăng trưởng lớn của nhu cầu tiêu thụ sữa.
Còn trong lĩnh vực chứng khoán, Vietcap do bà Nguyễn Thanh Phượng làm Chủ tịch HĐQT là cái tên đáng chú ý về tỉ lệ cạnh tranh ứng tuyển.
Theo báo cáo thường niên, tính đến cuối năm 2025, quy mô nhân sự của Vietcap đạt 442 người, tăng 53 người so với năm trước.
Tuy nhiên, trong năm 2025, Vietcap đã tiếp nhận tới hơn 8.200 hồ sơ ứng tuyển tiềm năng. Trong đó, gần 3.000 hồ sơ đến từ khối đổi mới sáng tạo và công nghệ thông tin, hơn 1.000 hồ sơ thuộc bộ phận nghiên cứu và phân tích, gần 1.000 hồ sơ ứng tuyển vào khối ngân hàng đầu tư, cùng nhiều hồ sơ khác phân bổ tại các phòng ban còn lại.
Theo Vietcap, kết quả này tiếp tục khẳng định sức hút của thương hiệu, đặc biệt ở các lĩnh vực công nghệ, nghiên cứu và ngân hàng đầu tư.
Báo cáo thường niên cũng phản ánh hiệu quả lao động của Vietcap thông qua chỉ tiêu lợi nhuận bình quân trên mỗi nhân viên trong các năm.
Cụ thể, chỉ số này đạt đỉnh vào năm 2021 với khoảng 6,36 tỉ đồng/người. Tuy nhiên, giai đoạn 2022-2023 ghi nhận sự suy giảm mạnh, lần lượt xuống còn khoảng 2,83 tỉ và 1,49 tỉ đồng/người, trong bối cảnh quy mô nhân sự gia tăng nhanh.
Năm 2026 được xác định là năm bản lề triển khai Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2026-2030. Yêu cầu đặt ra là chuyển mạnh sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, chất lượng và tính tự chủ của nền kinh tế, lấy chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và phát triển bền vững làm động lực chủ yếu.
Phát biểu tại sự kiện, Thứ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Sinh Nhật Tân chia sẻ thương hiệu quốc gia không còn chỉ là câu chuyện quảng bá hình ảnh hay xúc tiến thương mại theo nghĩa truyền thống, mà phải được xác định là tài sản chiến lược, phản ánh năng lực cạnh tranh tổng thể và uy tín của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.
"Xây dựng thương hiệu quốc gia trong kỷ nguyên mới không chỉ là hình ảnh hàng hóa "Made in Vietnam", mà còn là xây dựng uy tín quốc gia và sức mạnh mềm trên trường quốc tế", ông Tân nhấn mạnh.
Tại Diễn đàn Thương hiệu quốc gia với chủ đề "Thương hiệu quốc gia Việt Nam trong kỷ nguyên mới", các diễn giả đã chỉ ra các điểm nghẽn và giải pháp để nâng tầm thương hiệu quốc gia trong thời gian tới.
Ông Hoàng Minh Chiến - Phó cục trưởng Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công Thương - cho biết sau hơn 20 năm triển khai chương trình Thương hiệu quốc gia, giá trị Thương hiệu quốc gia Việt Nam đã tăng trưởng mạnh mẽ.
Năm 2025, giá trị này đạt 519,6 tỉ USD, xếp thứ 32 trong tổng số 193 nền kinh tế, tăng hơn 200 tỉ USD so với năm 2020.
Tuy vậy, tổng giá trị của 100 thương hiệu doanh nghiệp hàng đầu Việt Nam năm 2025 chỉ đạt khoảng 38,4 tỉ USD.
Thực tế này phản ánh việc Việt Nam vẫn chủ yếu tham gia ở các khâu giá trị thấp trong chuỗi cung ứng toàn cầu, thiên về gia công (OEM), trong khi năng lực thiết kế (ODM) và xây dựng thương hiệu riêng (OBM) còn hạn chế.
"Thương hiệu mạnh không thể dựa mãi vào tài nguyên hay lao động giá rẻ. Nó phải được xây dựng trên hàm lượng tri thức, công nghệ và bản sắc văn hóa", ông Chiến khẳng định.
Theo ông Đinh Hồng Kỳ - Chủ tịch HĐQT Công ty CP Secoin, Phó chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TP.HCM, doanh nghiệp Việt không thiếu sản phẩm tốt, mà thiếu cách kể câu chuyện có giá trị.
Từ những bài học tại Secoin, ông Kỳ cho rằng chiến lược đưa thương hiệu ra quốc tế tập trung trong 5 yếu tố: chất lượng sản phẩm, tính độc đáo, tính đích thực, sự sẵn lòng mua sản phẩm và thân thiện với môi trường.
"Việt Nam muốn nâng tầm thương hiệu quốc gia không chỉ là "made in Vietnam" (sản xuất tại Việt Nam), mà phải là "designed and branded in Vietnam" (được thiết kế và mang thương hiệu Việt Nam)", ông Kỳ nhận định.
Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) vừa điều chỉnh tăng mạnh lãi suất huy động trực tuyến ở nhiều kỳ hạn và mức tiền gửi. Theo đó, lãi suất các khoản tiền gửi dưới 500 triệu đồng tăng thêm 0,2-0,6%/năm, trong khi nhóm từ 500 triệu đồng trở lên được tăng tới 1%/năm ở kỳ hạn 12-18 tháng.
Sau điều chỉnh, lãi suất trực tuyến cao nhất tại Sacombank lên tới 8%/năm, áp dụng cho khoản tiền gửi từ 1 tỷ đồng trở lên ở kỳ hạn 24-36 tháng. Với nhóm tiền gửi từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng, lãi suất đã vượt 7%/năm ngay từ kỳ hạn 6 tháng.
Trong khi đó, Sacombank giữ nguyên biểu lãi suất tiết kiệm tại quầy, dao động 4,75-7%/năm tùy kỳ hạn và số tiền gửi.
Trước động thái tăng lãi suất của Sacombank, thị trường trong tháng 5 ghi nhận Saigonbank và VPBank điều chỉnh giảm lãi suất huy động, trong khi OCB tăng 0,1%/năm đối với các kỳ hạn từ 6-36 tháng.
Thực tế, sau cuộc họp với Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn hồi đầu tháng 4, các ngân hàng cho biết đồng thuận giảm lãi suất để giữ mặt bằng thấp hỗ trợ nền kinh tế. “Cuộc đua” lãi suất ưu đãi của các ngân hàng bớt "nóng" hơn. Nhiều nhà băng sau đó dừng hoặc giảm dần lãi suất ưu đãi cho khách gửi tiết kiệm.
Biểu lãi suất huy động trực tuyến niêm yết ngày 13/5 cho thấy mặt bằng lãi suất tại các ngân hàng tiếp tục duy trì ở mức ổn định. Ở kỳ hạn 1 tháng, lãi suất huy động trực tuyến cao nhất được ghi nhận ở mức 4,75%/năm, áp dụng tại nhiều ngân hàng như Agribank, BIDV, VietinBank, Vietcombank, ACB, LPBank, MSB, OCB, PGBank, Sacombank và VPBank. Trong khi đó, SCB niêm yết mức thấp nhất chỉ 1,6%/năm.
Tại kỳ hạn 3 tháng, mặt bằng lãi suất phổ biến dao động quanh 4,65-4,75%/năm. Nhóm ngân hàng quốc doanh tiếp tục duy trì mức 4,75%/năm, trong khi VPBank giảm xuống 4,63%/năm và SCB vẫn ở mức thấp nhất với 1,9%/năm.
Đối với kỳ hạn 6 tháng, nhiều ngân hàng đã niêm yết lãi suất vượt 7%/năm. MBV dẫn đầu với mức 7,2%/năm, tiếp theo là ACB với 7,1%/năm. LPBank, PGBank và Sacombank cùng áp dụng mức từ 6,7-6,9%/năm. Trong khi đó, nhóm ngân hàng quốc doanh niêm yết quanh 6,6%/năm và SCB thấp nhất với 2,9%/năm.
Ở kỳ hạn 9 tháng, MBV tiếp tục dẫn đầu với mức 7,2%/năm, ACB đạt 7,2%/năm, còn LPBank và PGBank cùng niêm yết 6,9%/năm. Nhóm Big4 giữ nguyên mức 5,8-6,6%/năm tùy ngân hàng.
Tại kỳ hạn 12 tháng, mức lãi suất tiền gửi cao nhất thuộc về ACB với 7,3%/năm, tiếp đến là MBV với 7,2%/năm và LPBank, PGBank, VIB cùng niêm yết 7%/năm. Agribank, VietinBank và Vietcombank áp dụng mức 6,8%/năm, trong khi SCB tiếp tục thấp nhất với 3,7%/năm.
Ở kỳ hạn 18 tháng, mặt bằng lãi suất dao động trong biên độ rộng, từ 3,9%/năm đến 7,2%/năm. MBV tiếp tục đứng đầu với 7,2%/năm, LPBank đạt 7,1%/năm, trong khi ACB không niêm yết lãi suất ở kỳ hạn này. Nhóm ngân hàng quốc doanh duy trì mức 6,8%/năm.
Tại hội thảo của Viện Milken - một tổ chức tư vấn kinh tế tại Mỹ - ngày 4/5, Tổng giám đốc Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) Kristalina Georgieva nhận định tình hình hiện tại đồng nghĩa kịch bản xung đột ngắn hạn trong báo cáo tháng trước của họ không còn khả thi. Theo kịch bản này, tăng trưởng toàn cầu chậm lại, còn 3,1%. "Mỗi ngày trôi qua, kịch bản mà chúng tôi đã đưa ra lại càng xa vời", bà nói.
Thay vào đó, việc chiến sự vẫn tiếp diễn, giá dầu được dự báo quanh hoặc trên 100 USD một thùng, và áp lực lạm phát tăng tốc đồng nghĩa các kịch bản xấu hơn đã diễn ra. Hiện tại, lạm phát kỳ vọng vẫn được kìm hãm và điều kiện tài chính chưa bị thắt chặt. Tuy nhiên, những điều này có thể thay đổi nếu xung đột tiếp diễn.
"Nếu chiến sự kéo dài sang 2027 và giá dầu lên quanh 125 USD một thùng, hậu quả tồi tệ hơn rất nhiều. Lạm phát thực sẽ tăng, lạm phát kỳ vọng cũng khó kiểm soát", bà nói.
Tháng trước, IMF công bố báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới. Trong đó, tổ chức này đưa ra 3 kịch bản. Với kịch bản lạc quan nhất, giả sử chiến sự không kéo dài, tăng trưởng toàn cầu xuống 3,1% năm nay, giảm 0,2 điểm phần trăm so với báo cáo hồi tháng 1.
Còn theo "kịch bản bất lợi", chiến sự kéo dài hơn, giá dầu duy trì quanh 100 USD một thùng năm nay và 75 USD vào 2027. Tăng trưởng toàn cầu năm nay chỉ còn 2,5%.
Ở "kịch bản xấu nhất", xung đột kéo dài hơn nữa và giá dầu leo thang, gây xáo trộn lớn trên thị trường tài chính, tăng trưởng về 2%. "Đây là mức tiệm cận suy thoái toàn cầu", IMF cho biết. Lạm phát trong kịch bản này lên 5,8%.
Cũng tại sự kiện, Chủ tịch kiêm CEO hãng dầu khí Chevron (Mỹ) Mike Wirth cho biết tình trạng thiếu cung sớm lan ra toàn cầu, khi eo biển Hormuz bị phong tỏa hơn 2 tháng qua. Đây là tuyến đường thủy vận chuyển 20% dầu thô và khí hóa lỏng toàn cầu trước chiến sự. Wirth dự báo các nền kinh tế sẽ co lại, bắt đầu từ châu Á, do nhu cầu phải điều chỉnh giảm theo nguồn cung.
Bà Georgieva cho biết IMF đang theo dõi sát ảnh hưởng của xung đột lên chuỗi cung ứng. Giá phân bón toàn cầu đã tăng 30-40%, đẩy thực phẩm đắt thêm 3-6%. Nhiều ngành công nghiệp khác cũng chịu ảnh hưởng.
"Tôi muốn nhấn mạnh là tình hình thực sự nghiêm trọng", bà nói, bày tỏ lo ngại khi nhiều nhà hoạch định chính sách vẫn tin rằng cuộc khủng hoảng kết thúc trong vài tháng. Bà cho rằng việc giới chức tung ra các biện pháp hạn chế tác động lên người tiêu dùng và doanh nghiệp chỉ càng giữ nhu cầu dầu ở mức cao.
"Đừng thêm dầu vào lửa nữa. Tất cả những người trong phòng này đều biết khi nguồn cung giảm, nhu cầu cũng hạ theo", bà cảnh báo.