Cú rẽ ngang ở tuổi ngoài 20 ấy đã đưa ông trở thành người giải mã thành công cấu trúc nguyên tử của ribosome, giành giải Nobel Hóa học năm 2009.
Venkatraman Ramakrishnan sinh năm 1952 tại Chidambaram, một thị trấn ở bang Tamil Nadu, miền nam Ấn Độ. Cha mẹ ông đều là nhà khoa học. Ngày nhỏ, do cha mẹ thường xuyên đi công tác và nghiên cứu xa, ông được ông bà và dì nuôi dưỡng.
Thời trung học, ông từng tụt từ nhóm đầu xuống gần cuối lớp do mải đọc tiểu thuyết, chơi đùa và mơ mộng. Chỉ sau khi gặp thầy giáo dạy toán và khoa học T.C. Patel, Ramakrishnan mới tìm lại niềm vui học tập. Hai năm cuối phổ thông, ông bứt tốc và tốt nghiệp với vị trí thứ hai toàn trường.
Tuy vậy, ông trượt kỳ thi vào các Viện Công nghệ Ấn Độ (IIT). Năm 16 tuổi, Ramakrishnan vào học ngành Vật lý tại Đại học Maharaja Sayajirao. Ba năm sau, ông sang Mỹ học tiến sĩ tại Đại học Ohio và lấy bằng vào năm 1976. Nhưng càng đi sâu vào Vật lý lý thuyết, ông càng cảm thấy mình đang chọn sai ngành.
“Tháng nào tôi cũng đọc tạp chí Scientific American và thấy Sinh học đang có những khám phá tuyệt vời”, ông kể.
Quyết định rẽ hướng sang Sinh học ở tuổi ngoài 20 khiến ông trở thành “kẻ tay ngang” trong mắt nhiều người. Không có kiến thức nền tảng, Ramakrishnan bắt đầu lại gần như từ số 0. Ông tham gia các lớp học sinh học cơ bản: di truyền học, hóa sinh, và sinh học phân tử; rồi chuyển sang nghiên cứu tại Đại học California, San Diego.
Năm 1978, tại Đại học Yale, Ramakrishnan bắt đầu nghiên cứu ribosome – bào quan xuất hiện trong tất cả các tế bào của sinh vật sống. Chúng thực hiện quá trình sinh tổng hợp protein của tế bào. Các ribosome được cấu tạo từ các rARN và ribosome protein. Chúng dịch mã mARN thành chuỗi polypeptide (đơn vị cấu thành protein). Ribosome được xem như là nhà máy tổng hợp protein dựa trên các thông tin di truyền của gene.
Nhưng vào thời điểm đó, ribosome gần như là một bí ẩn. Nó quá lớn, quá phức tạp, gồm hàng trăm nghìn nguyên tử. Nhiều người tin rằng việc nhìn thấy cấu trúc đầy đủ của nó là điều không thể.
Song, Ramakrishnan vẫn bị cuốn hút. “Điều hấp dẫn nhất ở chỗ đây là một vấn đề nền tảng của sinh học. Chỉ cần tiến thêm được một chút thôi, chúng tôi cũng thấy những gì mình làm là xứng đáng”, ông nói.
Suốt hơn 20 năm, ông đi qua nhiều phòng thí nghiệm, từ Oak Ridge, Brookhaven đến Đại học Utah, cuối cùng là Phòng thí nghiệm Sinh học Phân tử MRC ở Cambridge, Anh. Ở mỗi nơi, ông đều tiếp tục “gặm nhấm” bài toán ribosome.
Năm 1999, Ramakrishnan ở lại Cambridge, chấp nhận sống xa gia đình để tập trung toàn lực vào việc giải cấu trúc tiểu đơn vị 30S của ribosome – phần then chốt trong việc đọc thông tin di truyền, đánh cược toàn bộ sự nghiệp vào một dự án mà nhiều người cho là “điên rồ”.
Khi ấy, nhiều nhóm nghiên cứu lớn trên thế giới cũng đang chạy đua giải mã ribosome. Nhóm của Ramakrishnan làm việc gần như không nghỉ. Đầu năm 2000, họ làm đông lạnh hơn 1.000 tinh thể, chia ca 12 tiếng trong phòng thí nghiệm, thức trắng nhiều đêm tại các máy gia tốc synchrotron để thu thập dữ liệu.
Khi nhìn thấy những tín hiệu đầu tiên đủ rõ để xác định vị trí các nguyên tử, Ramakrishnan nhảy cẫng lên giữa phòng làm việc. “Chúng ta sẽ nổi tiếng!”, ông hét lên.
Chỉ vài tuần sau, nhóm hoàn thành mô hình nguyên tử đầu tiên của tiểu đơn vị 30S. Lần đầu tiên trong lịch sử, con người có thể nhìn thấy chi tiết cách ribosome hoạt động.
Khám phá này nhanh chóng được công bố trên tạp chí Nature và gây chấn động giới khoa học. Nó không chỉ giải quyết một trong những câu hỏi đau đầu nhất của sinh học mà còn giúp lý giải cách nhiều loại kháng sinh tiêu diệt vi khuẩn.
Nhiều loại kháng sinh hoạt động bằng cách bám vào ribosome của vi khuẩn, ngăn chúng tạo ra protein. Nhờ cấu trúc mà Ramakrishnan và đồng nghiệp giải mã, các nhà nghiên cứu có thể quan sát trực tiếp vị trí của kháng sinh trên ribosome. Từ đó, họ hiểu vì sao vi khuẩn kháng thuốc và có thể thiết kế các loại kháng sinh mới hiệu quả hơn. Một số thuốc phát triển theo hướng này đã bước vào giai đoạn thử nghiệm lâm sàng.
Năm 2009, Ramakrishnan cùng hai cộng sự là Tom Steitz và Ada Yonath nhận giải Nobel Hóa học cho “những nghiên cứu về cấu trúc và chức năng của ribosome”.
Sáng ngày công bố giải Nobel Hóa học, Ramakrishnan đến phòng thí nghiệm trong tâm trạng cáu kỉnh vì xe đạp bị thủng lốp. Khi nhận được điện thoại từ Thụy Điển, ông thậm chí còn tưởng đó là một trò đùa và khen người gọi có “giọng Thụy Điển rất chuẩn”. Chỉ đến khi nghe giọng của Måns Ehrenberg, thành viên Hội đồng Nobel mà ông quen biết, Ramakrishnan mới tin đó là sự thật.
Dù nhận giải thưởng danh giá nhất thế giới, ông chưa bao giờ coi Nobel là đích đến.
“Sau cùng, giải Nobel không chỉ là sự ghi nhận cho những gì tôi đã làm, mà còn là lời nhắc rằng tôi phải tiếp tục đi tìm những câu hỏi mới”, ông nói.
Năm 2010, Chính phủ Ấn Độ trao cho ông huân chương Padma Vibhushan – phần thưởng dân sự cao quý thứ hai của nước này. Ông được phong tước hiệp sĩ tại Anh. Hiện ở tuổi ngoài 70, Ramakrishnan vẫn tiếp tục nghiên cứu, viết sách.
Cuối tuần trước, Hà Nội phê duyệt đề án phát triển theo hướng tiệm cận "chuẩn quốc tế" với hai trường THPT chuyên Chu Văn An và Hà Nội - Amsterdam, ngay lập tức gây bàn luận trên các diễn đàn.
TS Nguyễn Quang Minh, chuyên gia giáo dục quốc tế và là Giám định viên Hội đồng các trường Quốc tế (CIS), cho rằng đây là hướng đi cần thiết.
Ông đánh giá đề án của hai trường có sự học hỏi từ các mô hình đào tạo tài năng ở Singapore, Nhật Bản, Hàn Quốc, Mỹ và Anh, song không sao chép máy móc mà vẫn giữ "tinh thần trường công" với ngân sách nhà nước làm nền tảng.
Các mục tiêu như tăng cường nghiên cứu khoa học, trí tuệ nhân tạo, học tập dự án và hội nhập học thuật quốc tế là phù hợp với yêu cầu phát triển nguồn nhân lực trong bối cảnh mới.
Chuyên gia cũng đánh giá cao việc sử dụng khái niệm "tiệm cận quốc tế", thay vì ngay lập tức khẳng định sẽ trở thành một "trường chuẩn quốc tế".
"Đây là cách tiếp cận thận trọng và thực tế, bởi giáo dục quốc tế không chỉ là câu chuyện chương trình hay chứng chỉ, mà là cả một hệ sinh thái học thuật, văn hóa và quản trị cần thời gian dài để hình thành", ông Minh nói.
Điểm gây tranh luận nhất nằm ở tiêu chí cụ thể của trường chuyên Chu Văn An. Trường này đặt mục tiêu giai đoạn 2026-2030 có ít nhất 150 học sinh trúng tuyển đại học tại Anh, Mỹ, Australia và 80 em nhận học bổng quốc tế. Trường cũng tổ chức các hoạt động để hỗ trợ học sinh làm quen, chuẩn bị cho các kỳ thi, chương trình chuẩn hóa quốc tế như SAT, ACT, AP, IB... - vốn được nhiều đại học trên thế giới dùng như một tiêu chí xét tuyển đầu vào.
Theo ông Quang Minh, một ngôi trường xuất chúng không phải là nơi "dạy học sinh vào Harvard", mà là nuôi dưỡng học sinh có nền tảng tư duy, năng lực nghiên cứu, khả năng tự học và thích nghi, để các em có đủ năng lực "vào Harvard".
Lãnh đạo một trường THPT chuyên ở phía Nam nhìn nhận rằng việc du học, thi chứng chỉ SAT, AP... nên là kế hoạch của học sinh và gia đình, không nên là mục tiêu của trường chuyên.
Ông dẫn lại nhiệm vụ của trường chuyên được đề cập trong Luật Giáo dục, đó là phát hiện và bồi dưỡng học sinh có năng khiếu trong các môn học, tạo nguồn nhân tài cho đất nước.
"Học sinh trường chuyên đi du học không phải là điều xấu nhưng không nên dùng nguồn lực nhà nước để thúc đẩy điều đó", ông nói.
Bởi dù còn hạn chế, trường chuyên đã và đang được ưu tiên hơn về ngân sách, đội ngũ giáo viên giỏi và những chính sách khác trong hệ thống giáo dục công lập nói chung.
"Việc phân bổ thêm ngân sách để tạo bệ phóng "tiếp cận quốc tế" cho một bộ phận nhỏ vốn đã được đầu tư nhiều hơn là thiếu công bằng cho số đông".
PGS. TS quản lý giáo dục Trương Đình Thăng, Hiệu trưởng trường Cao đẳng Sư phạm Quảng Trị, cũng cảnh báo các mục tiêu "quốc tế hóa" có thể trở thành một cuộc đua thành tích, xem trường nào có nhiều học sinh đạt chứng chỉ, nghiên cứu khoa học... hơn. Khi đó, mô hình mới rất dễ lại đặt trọng tâm vào luyện thi, tăng áp lực cho học trò.
Ở chiều ngược lại, ông Đàm Quang Minh, Đồng chủ tịch khối Phổ thông, Tập đoàn giáo dục EQuest, thấy rằng cần đặt những tiêu chí về du học, chứng chỉ trong tổng thể định hướng hội nhập quốc tế của trường chuyên Chu Văn An.
Theo ông, đề án này theo đuổi mô hình tương tự một số trường công ở Singapore, khi triển khai các chương trình như tú tài quốc tế IB để học sinh tiếp cận chuẩn đầu ra toàn cầu. Ngoài ra, Việt Nam hiện chưa có đại học nào vào top 200 thế giới, nên học sinh "chỉ có lựa chọn du học" nếu muốn vào các trường như vậy.
Ông Minh cũng đánh giá cao việc đề án nhấn mạnh hỗ trợ học bổng cho học sinh khó khăn, để các em được tiếp cận chương trình quốc tế.
"Làm được điều này, các chương trình như IB sẽ không còn là đặc quyền của những gia đình giàu có", ông nói.
Dù có góc nhìn khác nhau, các chuyên gia đều cho rằng hai trường nên thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp về chương trình, đội ngũ và tăng cường hợp tác quốc tế.
TS Nguyễn Quang Minh thấy cần xây dựng bộ tiêu chí đánh giá năng lực học thuật và nghiên cứu thực chất, bổ sung các chỉ số về sức khỏe tinh thần để bảo vệ học sinh, giúp các em phát triển toàn diện.
Đây cũng là quan điểm của PGS Trương Đình Thăng. Ông lưu ý các trường cân bằng giữa học thuật đỉnh cao và sức khỏe tinh thần của học sinh, hội nhập quốc tế và trách nhiệm đất nước, đào tạo cá nhân xuất sắc và xây dựng tinh thần phụng sự cộng đồng.
Các chuyên gia kỳ vọng hai đề án không chỉ nâng cao chất lượng đào tạo của trường chuyên công lập, mà còn mở thêm cơ hội để học sinh Việt Nam tiếp cận môi trường học thuật và chuẩn đầu ra quốc tế ngay trong nước.
GS Huỳnh Văn Chương, Cục trưởng Quản lý chất lượng, Bộ Giáo dục và Đào tạo, ngày 10/4 cho biết thông tin trên tại hội nghị về tổ chức kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026.
Cơ quan này dự kiến trình Chính phủ đề án thi trên máy tính trong năm nay, thời điểm chính thức tổ chức thi tốt nghiệp THPT trên máy tính chưa được công bố. Bộ đề nghị các địa phương có kế hoạch đầu tư cơ sở vật chất cho trường học để thực hiện việc này, cũng như phục vụ dạy học, kiểm tra thường xuyên.
Việc này theo yêu cầu của Chính phủ hồi tháng 9 năm ngoái, trong mục tiêu chuyển đổi số toàn diện, phổ cập và ứng dụng mạnh mẽ công nghệ số, trí tuệ nhân tạo với giáo dục và đào tạo.
Với tuyển sinh đại học, một số trường đã tổ chức thi trên máy tính như kỳ thi đánh giá tư duy (TSA) của Đại học Bách khoa Hà Nội, thi đánh giá năng lực của Đại học Quốc gia Hà Nội (HSA). Song, kỳ thi đánh giá năng lực của Đại học Quốc gia TP HCM với quy mô lớn nhất - khoảng 140.000 thí sinh vẫn thi trên giấy.
6 thay đổi trong kỳ thi tốt nghiệp THPT 2026
Kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2026 diễn ra trong hai ngày 11-12/6, dự kiến hơn một triệu thí sinh. Kết quả thi được công bố vào 8h ngày 1/7.
Ngày 15-4, Viện Đào tạo số và Khảo thí - Đại học Quốc gia Hà Nội chính thức công bố phổ điểm kỳ thi đánh giá năng lực học sinh trung học phổ thông (kỳ thi HSA) của 3 đợt thi đầu tiên năm 2026.
Theo thống kê, 3 đợt thi đầu tiên vừa qua có hơn 57.000 thí sinh dự thi, trong đó có 10 thí sinh vi phạm quy chế thi.
Phân tích kết quả thi của 57.230 thí sinh trong 3 đợt thi, cho thấy phổ điểm thi HSA có dạng phân phối chuẩn, với điểm trung bình 78,2/150, gần như trùng khớp với điểm trung vị (78,0/150), độ lệch chuẩn 14,8. Dải điểm trải rộng từ 22 - 129/150 điểm.
Tỉ lệ thí sinh đạt từ 110 điểm trở lên chiếm 1,88%, từ 105 điểm chiếm 4,23%, từ 100 điểm chiếm 8,50%, từ 90 điểm trở lên chiếm 23,1%, từ 80 điểm trở lên chiếm 45,2%, từ 75 điểm chiếm 58%.
Theo Viện Đào tạo số và Khảo thí, phổ điểm thi và tỉ lệ đạt các mức điểm tương ứng tương đối ổn định so với điểm bài thi năm 2025.
Năm ngoái, điểm trung bình của kỳ thi HSA là 78,8, trung vị là 78,0, độ lệch chuẩn 14,3.
Kỳ thi đánh giá năng lực HSA năm 2026 gồm 6 đợt thi, diễn ra từ ngày 7-3 đến 24-5 tại Hà Nội, Hải Phòng, Ninh Bình, Hưng Yên, Thái Nguyên, Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh.
Bài thi HSA 2026 có cấu trúc 3 phần, tổng điểm tối đa 150 trong 195 phút. Trong đó phần 1 toán học và xử lý số liệu (50 câu, 75 phút), phần 2 ngôn ngữ - văn học (50 câu, 60 phút).
Với phần 3 lựa chọn - khoa học/tiếng Anh (50 câu, 60 phút), thí sinh chọn 3 trong 5 chủ đề, gồm: vật lý, hóa học, lịch sử, địa lý hoặc tiếng Anh.
Năm 2026, tổng số có hơn 120.000 thí sinh đăng ký dự thi HSA. Kết quả bài thi được sử dụng tuyển sinh bởi hơn 100 trường đại học trên cả nước.