Kiên định với tầm nhìn dài hạn và chủ trương đúng đắn, ngành giáo dục TP hôm nay đang bước vào giai đoạn tăng tốc và bước đầu đã gặt hái được những kết quả khả quan.
Tiết dạy môn khoa học ở lớp 5/4 Trường tiểu học Đống Đa (phường Tân Hòa, TP.HCM) của cô Nguyễn Thị Hòa vào ngày 22-4 thật đặc biệt. Phòng học không chỉ có tivi thông minh đã tích hợp AI mà trên bàn học của học sinh đã được trang bị sẵn máy tính, iPad cùng bảng con, bút màu, phiếu học tập…
Sau phần khởi động vui vẻ, học sinh háo hức bước vào bài học “Các giai đoạn phát triển của con người”. Ngay ở hoạt động đầu tiên, các em đã rất thành thạo dùng iPad để quét mã QR, vào link Google AI studio để tham gia trò chơi tìm hiểu về bài học.
Tiếp theo đó, cô Hòa liên tục tổ chức các hoạt động có sử dụng công cụ số để học sinh thực hiện theo nhóm. Từng nhóm một di chuyển đến các góc, tìm hiểu tài liệu và ghi chép thông tin vào phiếu học tập cá nhân.
Các em đọc sách điện tử (flipbook) ở góc đọc, xem phim về đặc điểm nổi bật của giai đoạn tuổi ấu thơ ở góc xem phim, nối hình ảnh phù hợp qua trò chơi trực tuyến ở góc trải nghiệm, hỏi trợ lý ảo môn khoa học ở góc chuyên gia…
Cuối cùng, học sinh quay về bàn học của mình để thảo luận nhóm và thực hiện phiếu bài tập của nhóm mình rồi lên thuyết trình cho cả lớp nghe.
Trong suốt quá trình đó, cô Hòa thường xuyên tương tác với học sinh đồng thời tạo điều kiện để các học sinh tương tác với nhau, bởi như cô nói: “AI là công cụ hỗ trợ đắc lực cho việc dạy và học.
Các em học sinh rất hào hứng khi được sử dụng công cụ số trong quá trình học tập. Nhưng AI không thể làm thay công việc của giáo viên. Vì thế, người giáo viên không chỉ tổ chức, dẫn dắt các hoạt động mà cần sâu sát, quan tâm, kết nối trực tiếp với học sinh để giúp các em phát triển năng lực của mình”.
Đó là một tiết dạy trong nhiều tiết dạy thể hiện sự chuyển đổi số mạnh mẽ trong các trường phổ thông ở TP.HCM hiện nay. Trong đó, việc ứng dụng AI, đưa AI vào chương trình giảng dạy cho học sinh không chỉ thực hiện ở các trường THCS, THPT mà nhiều trường tiểu học trên địa bàn TP.HCM cũng đã thực hiện từ năm học 2024 – 2025. Thế nên, học sinh tiểu học TP.HCM sử dụng thành thạo các phương tiện kỹ thuật số cũng là điều dễ hiểu.
Những năm gần đây, xã hội bắt đầu chú ý đến TP.HCM khi học sinh TP tám năm liền dẫn đầu cả nước về điểm trung bình môn tiếng Anh trong kỳ thi tốt nghiệp THPT; 5 năm liên tục TP có học sinh đạt điểm toán cao nhất thế giới cấp tiểu học khi thi toán bằng tiếng Anh (do hội đồng khảo thí Pearson Edexcel, Anh Quốc tổ chức); số lượng học sinh đoạt giải cao trong kỳ thi học sinh giỏi quốc gia môn tiếng Anh tăng lên hằng năm…
Ngoài những con số biết nói ấy là thực tế nhiều học sinh phổ thông ở TP.HCM giao tiếp thành thạo bằng tiếng Anh, đặc biệt là trong các tình huống liên quan đến học thuật và khoa học.
Tuy nhiên, ít ai biết được rằng để có được thành quả như hôm nay TP.HCM đã có những bước đi táo bạo, bắt nguồn từ tầm nhìn xa của lãnh đạo TP cũng như lãnh đạo ngành GD-ĐT TP.
Năm 1998, trong khi chương trình giáo dục quốc gia mới chỉ dạy tiếng Anh cho học sinh bắt đầu từ lớp 6 thì TP.HCM đã tiên phong thí điểm dạy tiếng Anh cho học sinh bắt đầu từ lớp 1.
Năm 2014, Sở GD-ĐT TP tiếp tục tham mưu và được UBND TP phê duyệt cho triển khai đề án 5695 ở 18 trường phổ thông. Đây là chương trình dạy – học các môn toán, khoa học và tiếng Anh – tích hợp chương trình Anh và Việt Nam, bắt đầu cho học sinh lớp 1 (gọi tắt là chương trình tiếng Anh tích hợp).
Đến nay, TP.HCM đã có hơn 30.000 học sinh thuộc 160 trường phổ thông công lập theo học chương trình tiếng Anh theo đề án 5695. Riêng chương trình tăng cường tiếng Anh đã được nhân rộng đến hầu hết các trường tiểu học trên địa bàn TP.HCM (trước sáp nhập).
Không những thế, hiện tại TP có gần 70% trường mầm non đã tổ chức chương trình cho trẻ mẫu giáo làm quen với tiếng Anh từ 3 – 6 tuổi.
Từ thành quả trên, hiện TP.HCM đang xây dựng đề án “Đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học trên địa bàn TP.HCM giai đoạn 2025 – 2035, tầm nhìn đến năm 2045”. Đề án này được xem là “cú hích” không chỉ cho sự phát triển của ngành GD-ĐT TP. HCM mà còn tạo động lực, chia sẻ kinh nghiệm và làm hình mẫu cho các địa phương khác trên cả nước, góp phần quan trọng vào việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực quốc gia, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa – hiện đại hóa và hội nhập quốc tế.
Trao đổi với Tuổi Trẻ, một lãnh đạo Sở GD-ĐT TP.HCM cho hay dự kiến sở sẽ đề xuất với UBND TP về lộ trình đưa tiếng Anh thành ngôn ngữ thứ hai trong trường học gồm ba giai đoạn như sau:
Giai đoạn 1 (2025 – 2030) là giai đoạn xây dựng nền tảng và chuẩn hóa, triển khai có trọng điểm. Đây là thời kỳ đặt nền móng vững chắc để tiếng Anh được sử dụng thường xuyên, tạo nhu cầu giao tiếp và thói quen sử dụng tiếng Anh trong trường học. Chuẩn hóa chương trình, đội ngũ, hạ tầng và xây dựng mô hình thí điểm chất lượng cao.
Giai đoạn 2 (2030 – 2040) sẽ mở rộng và tăng cường, hình thành hệ sinh thái tiếng Anh. Đây là thời gian mở rộng quy mô sử dụng tiếng Anh trong dạy học và hoạt động giáo dục nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng, phong phú trong hệ thống giáo dục.
Giai đoạn 3 (2040 – 2045) sẽ hoàn thiện và nâng cao, đưa tiếng Anh trở thành ngôn ngữ thứ hai trong môi trường giáo dục tại TP.HCM. Giai đoạn này tiếng Anh được sử dụng một cách tự nhiên, phổ biến và trở thành một phần trong văn hóa học đường.
Ban Tuyển sinh quân sự Bộ Quốc phòng ngày 7/5 cho biết thời gian đăng ký thi đánh giá năng lực vào các trường đại học, cao đẳng khối quân đội kéo dài đến 17h ngày 20/5.
Thí sinh đăng ký trực tuyến tại https://qda.edu.vn. Chỉ những em đã tham gia sơ tuyển, được ban tuyển sinh quân sự địa phương, đơn vị, nhà trường kết luận đủ điều kiện mới được đăng ký.
Tuy nhiên, thí sinh không bắt buộc phải dự thi QDA nếu không muốn xét bằng phương thức này. 23 trường quân đội còn tuyển sinh bằng ba phương thức khác gồm: xét tuyển thẳng, xét điểm thi đánh giá năng lực của Đại học Quốc gia Hà Nội và TP HCM, dựa vào điểm thi tốt nghiệp THPT.
Khi đăng ký, thí sinh bắt buộc phải theo đúng khu vực theo địa chỉ thường trú, riêng quân nhân đăng ký theo địa bàn nơi đóng quân.
Khu vực đăng ký và dự thi đánh giá năng lực QDA như sau:
Kỳ thi đánh giá năng lực lần đầu tiên Bộ Quốc phòng tổ chức sẽ diễn ra vào tuần thứ 3 của tháng 6.
Cấu trúc bài thi tương tự kỳ thi đánh giá năng lực HSA của Đại học Quốc gia Hà Nội, gồm ba phần là Toán học và xử lý số liệu/Tư duy định lượng, Văn học - Ngôn ngữ/Tư duy định tính, Khoa học hoặc Tiếng Anh. Tổng điểm là 150, mỗi phần 50 điểm. Thí sinh biết điểm ngay sau khi kết thúc bài làm.
Năm nay, 23 trường quân đội tuyển sinh đại học, cao đẳng, tăng ba trường so với năm ngoái, là trường Sĩ quan Kỹ thuật quân sự, Cao đẳng Kỹ thuật Phòng không - Không quân, Cao đẳng Kỹ thuật Hải quân. Tổng chỉ tiêu là 5.420 học viên đại học, tăng hơn 1.000 so và là mức cao nhất của nhóm trường quân đội trong 5 năm qua.
Theo số liệu từ Sở GD-ĐT, có 151.254 học sinh (HS) đăng ký nguyện vọng (NV) 1 vào lớp 10 các trường THPT công lập. Trong khi đó, số HS lớp 9 năm học 2025-2026 của TP.HCM là 169.079 em (tăng 42.734 HS so với năm học trước: khu vực 1 tăng 29.848 HS, khu vực 2 tăng 8.419, khu vực 3 tăng 4.467). Như vậy cả 3 khu vực có khoảng hơn 17.000 HS tốt nghiệp THCS không dự thi lớp 10.
Những năm trước ở khu vực 1 (TP.HCM cũ) dao động từ 10.000-12.000 HS hoàn thành bậc THCS không dự thi lớp 10. Năm nay, với kỳ thi đầu tiên sau sáp nhập TP.HCM, Bình Dương, Bà Rịa-Vũng Tàu, con số HS không dự thi như trên được các giáo viên (GV) nhận định là hợp lý, ổn định.
Ngoài ra, tổng chỉ tiêu tuyển sinh lớp 10 của 181 trường THPT công lập năm nay xấp xỉ 120.000 HS. Như vậy, với 151.254 HS đăng ký NV 1 và tỷ lệ phân luồng HS sau THCS vào học lớp 10 công lập của TP.HCM năm nay là 79,4% thì còn khoảng 31.000 HS sẽ không trúng tuyển vào các trường công lập sau kỳ thi.
Từ chỉ tiêu tuyển sinh và số HS đăng ký NV vào từng trường, bà Nguyễn Đoan Trang, Hiệu trưởng Trường THCS Trần Văn Ơn (P.Tân Định), nhận định áp lực năm nay không quá nặng nề. Việc quan trọng nhất của phụ huynh, HS là nhìn nhận chính xác năng lực của mình để chọn trường phù hợp định hướng nghề nghiệp, phát huy sở trường học các môn tự chọn và đảm bảo việc học ổn định ở bậc THPT.
Theo các chuyên gia về tư vấn NV lớp 10, áp lực tuyển sinh lớp 10 năm nay tại TP.HCM "hạ nhiệt'' khi có 94 trường trong tổng số 181 trường THPT tuyển sinh lớp 10 (hơn 50% tổng số trường) tăng chỉ tiêu, thêm 202 lớp với 9.090 HS.
Thêm vào đó, năm học 2026-2027, TP có thêm 5 trường THPT mới ở các phường Phú Mỹ, Tân Phú, Thới An, Dĩ An, Đông Hưng Thuận, tuyển tổng số 3.330 HS.
Một GV chủ nhiệm lớp 9 của Trường THCS Nguyễn Ảnh Thủ (P.Đông Hưng Thuận) đánh giá những trường này được thành lập tại những khu vực gặp áp lực về tuyển sinh đầu cấp rất lớn nên không chỉ giải quyết nhu cầu tại chỗ mà còn giảm tải cho cả cụm khu vực.
Tăng chỉ tiêu, thêm trường học mới là những nhân tố dẫn đến tỷ lệ chọi lớp 10 vào các trường THPT công lập giảm so với năm 2025. Nếu kỳ tuyển sinh năm trước, trường THPT có tỷ lệ chọi 10 lớp thường cao nhất là 3,84 thì năm nay là 2,84.
Ở mùa tuyển sinh năm trước, tỷ lệ chọi lớp 10 của 115 trường THPT ở khu vực 1 (TP.HCM cũ) có sự biến động và thay đổi lớn, đặc biệt đối với những trường tốp đầu. Chẳng hạn, năm 2025, Trường THPT Nguyễn Thượng Hiền không còn nằm ở tốp 10 trường dẫn đầu tỷ lệ chọi như hằng năm mà đứng ở vị trí thứ 13, Trường THPT Bùi Thị Xuân tỷ lệ chọi đứng ở vị trí 27, đặc biệt Trường THPT Gia Định ở vị trí 57…
Đến năm nay, tỷ lệ chọi ở các trường tốp đầu đã trở lại đúng vị trí vốn có trước đây. Năm nay, Trường THPT Bùi Thị Xuân dẫn đầu với tỷ lệ 2,84, tiếp đến đến là Trường THCS-THPT Trần Đại Nghĩa với tỷ lệ 2,79 và Thủ Đức đạt 2,57.
Các trường có mức cạnh tranh cao khác gồm: Trường THPT Nguyễn Thượng Hiền (2,51), Lê Trọng Tấn (2,45), Mạc Đĩnh Chi (2,35), Nguyễn Hữu Huân (2,35), Lê Quý Đôn (2,31), Phú Nhuận (2,22), Phạm Văn Sáng (2,17), Vĩnh Lộc (2,16), Trần Phú (2,12), Thạnh Lộc (2,11), Tây Thạnh (2,07), Bình Phú (2,05) và Trần Khai Nguyên (2,02).
Ở nhóm trung bình, tức trường thuộc tốp 2, tỷ lệ chọi phổ biến dao động từ 1,1 đến dưới 2,0. Đây là nhóm chiếm tỷ lệ lớn nhất. Những trường như THPT Hùng Vương (1,66), Võ Thị Sáu (1,4), Nguyễn Du (1,38), Nguyễn Thái Bình (1,22)… có mức cạnh tranh vừa phải, phù hợp với đa số HS có học lực khá. Nhóm này thường có lợi thế về quy mô chỉ tiêu tương đối lớn, giúp "giãn" áp lực tuyển sinh.
Đáng chú ý là nhóm trường có tỷ lệ chọi thấp, thậm chí dưới 1,0 - nghĩa là số NV 1 ít hơn chỉ tiêu. Nhóm này gồm Trường THPT Nguyễn Văn Linh (0,18), Ngô Gia Tự (0,26), Trần Hữu Trang (0,29), GDKTTH Lê Thị Hồng Gấm (0,3) hay THPT Nguyễn Thị Diệu (0,38)…
Những trường có ít HS đăng ký NV 1, dẫn đến tỷ lệ chọi thấp là những trường thuộc tốp 3, có điểm chuẩn thấp nhất, thường được HS chọn làm NV 3. Tức NV an toàn của kỳ thi tuyển sinh lớp 10 hằng năm.
Bộ Giáo dục và Đào tạo đề xuất nâng chuẩn đội ngũ giảng viên, tăng số lượng tiến sĩ, cơ sở vật chất và học liệu, chuyển sang quản lý chất lượng chương trình đào tạo giáo dục đại học thay vì chỉ kiểm soát thủ tục mở ngành.
Dự thảo thông tư cũng quy định rõ các yêu cầu về đội ngũ giảng viên, cơ sở vật chất, học liệu và hệ thống bảo đảm chất lượng nội bộ. Đồng thời thiết lập cơ chế công khai, minh bạch và cải tiến liên tục nhằm nâng cao chất lượng đào tạo và tăng khả năng hội nhập quốc tế của giáo dục đại học.
Theo dự thảo, một chương trình đào tạo trình độ đại học thông thường muốn triển khai phải có ít nhất 7 giảng viên trình độ tiến sĩ tham gia chủ trì, trong đó có 2 giảng viên chịu trách nhiệm chính về xây dựng và tổ chức thực hiện.
Đối với các ngành đặc thù như sức khỏe, pháp luật, kỹ thuật then chốt, công nghệ chiến lược, yêu cầu còn được thiết kế chặt chẽ hơn theo từng lĩnh vực.
Giảng viên chủ trì không chỉ cần đúng chuyên môn mà còn phải đáp ứng tiêu chuẩn về nghiên cứu khoa học, công bố quốc tế hoặc thành tựu học thuật tương đương.
Trong thời gian tối thiểu ba năm tính đến ngày 31-12 của năm liền kề trước năm tổ chức thực hiện chương trình đào tạo, bình quân một năm của một giảng viên chủ trì có ít nhất 1 bài báo khoa học thuộc danh mục Web of Science hoặc Scopus, hoặc sách xuất bản hoặc bằng độc quyền sáng chế, giải pháp hữu ích…
Đối với chương trình đào tạo trình độ tiến sĩ, trừ các chương trình đào tạo đặc thù, mỗi chương trình đào tạo phải có ít nhất 5 giảng viên toàn thời gian trình độ tiến sĩ, 2 phó giáo sư và 1 giáo sư có chuyên môn phù hợp chủ trì. Trong đó có 2 giảng viên và trong 2 giảng viên đó phải ít nhất 1 giảng viên có chuyên môn ngành gần chịu trách nhiệm chính về việc xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình…
Bình quân một năm của một giảng viên chủ trì có ít nhất 3 bài báo khoa học thuộc danh mục Web of Science hoặc Scopus hoặc sách xuất bản hoặc bằng độc quyền sáng chế.
Dự thảo đồng thời giới hạn tỉ lệ giảng viên thỉnh giảng, yêu cầu giảng viên cơ hữu giữ vai trò nòng cốt trong tổ chức đào tạo nhằm bảo đảm tính ổn định và chất lượng học thuật của chương trình.
Bên cạnh chuẩn về nhân lực, dự thảo siết đồng bộ điều kiện bảo đảm chất lượng đối với cơ sở vật chất và học liệu.
Theo đó, cơ sở đào tạo phải có đầy đủ phòng học, phòng thí nghiệm, trang thiết bị thực hành, cơ sở thực tập, hệ thống công nghệ thông tin và hạ tầng số phù hợp với từng chương trình đào tạo.
Với các ngành có yêu cầu thực hành cao, trường phải có cơ sở thực hành riêng hoặc ký kết hợp tác với đơn vị đủ điều kiện.
Đối với học liệu, giáo trình phải được cung cấp đầy đủ dưới dạng in hoặc số, phù hợp chuẩn đầu ra, cập nhật kiến thức mới và được rà soát định kỳ tối đa 6 năm/lần.
Điểm mới quan trọng là các điều kiện này không chỉ cần có tại thời điểm mở chương trình mà phải được duy trì trong suốt quá trình đào tạo, thể hiện sự chuyển đổi từ cơ chế tiền kiểm sang quản lý chất lượng xuyên suốt vòng đời chương trình.
Một trong những điểm mới nổi bật của dự thảo thông tư là chuyển đổi căn bản cách tiếp cận quản lý từ "mở ngành đào tạo", sang quản lý chương trình đào tạo dựa trên chuẩn và điều kiện bảo đảm chất lượng.
Theo đó, giảm mạnh cơ chế tiền kiểm, tăng cường hậu kiểm và giám sát theo vòng đời chương trình đào tạo. Đồng thời gắn quyền tự chủ học thuật của cơ sở đào tạo với trách nhiệm giải trình và công khai thông tin.
Bên cạnh đó, thông tư thiết kế hệ thống chuẩn chương trình đào tạo theo hướng tiếp cận chuẩn đầu ra, bảo đảm sự liên kết giữa mục tiêu, nội dung đào tạo và phương thức đánh giá.
Tăng tính linh hoạt trong xây dựng chương trình, cho phép phát triển các mô hình đào tạo đa dạng như liên ngành, xuyên ngành, tích hợp, song ngành... phù hợp với yêu cầu phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Đáng chú ý, thông tư được xây dựng để thay thế và hợp nhất nhiều văn bản hiện hành, qua đó tạo sự thống nhất trong hệ thống quy định, phù hợp với mô hình quản lý mới của giáo dục đại học, chuyển từ quản lý hành chính sang quản lý chất lượng dựa trên chuẩn và kết quả.