Điểm đáng chú ý, thông tư 26 – quy định chuẩn nghề nghiệp giảng viên đại học áp dụng đối với toàn bộ đội ngũ giảng viên đại học, bao gồm: giảng viên, giảng viên chính, giảng viên cao cấp trong các cơ sở giáo dục đại học công lập và ngoài công lập.
Trước đó, quy định cũ chỉ áp dụng đối với viên chức giảng dạy trong các cơ sở giáo dục đại học công lập.
Thông tư 26 quy định chuẩn nghề nghiệp giảng viên đại học gồm 3 nhóm tiêu chuẩn cơ bản: tiêu chuẩn về đạo đức; tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng; tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ.
Trong đó, tiêu chuẩn về đạo đức nhấn mạnh giảng viên đại học phải giữ gìn phẩm chất, uy tín, danh dự nhà giáo. Đối xử công bằng, đúng mực với người học, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, chính đáng của người học, đồng nghiệp.
Đặc biệt, giảng viên đại học phải tuân thủ các quy định về đạo đức học thuật và bảo đảm liêm chính khoa học, thực hiện trung thực, minh bạch trong giảng dạy, nghiên cứu khoa học, công bố kết quả nghiên cứu và các hoạt động chuyên môn khác.
Giảng viên đại học cần đáp ứng các tiêu chí, gồm: có bằng thạc sĩ trở lên, phù hợp với vị trí việc làm, ngành hoặc chuyên ngành giảng dạy; có chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giảng viên đại học; thực hiện được các hoạt động khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo; ứng dụng được công nghệ thông tin và sử dụng được ngoại ngữ…
Giảng viên đại học chính ngoài yêu cầu bằng thạc sĩ còn phải chủ trì ít nhất 1 hoạt động khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo cấp cơ sở hoặc cấp cao hơn đã nghiệm thu với kết quả đạt yêu cầu; chủ trì hoặc tham gia biên soạn ít nhất 1 sách; có ít nhất 3 bài báo khoa học được công bố trên tạp chí quốc tế có mã số ISSN; giữ chức danh giảng viên đại học từ 4-6 năm tùy theo bằng cấp…
Giảng viên đại học cao cấp phải có bằng tiến sĩ, chủ trì ít nhất 2 đề tài nghiên cứu cấp cơ sở hoặc 1 đề tài cấp cao hơn; hướng dẫn ít nhất 2 học viên thạc sĩ hoặc 1 nghiên cứu sinh tiến sĩ; biên soạn sách chuyên môn có mã số ISBN; có ít nhất 6 bài báo khoa học quốc tế (ISSN); giữ chức danh giảng viên chính ít nhất 4 năm…
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, các chứng chỉ bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp được cấp trước ngày 31-12-2026 được công nhận tương đương với chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp theo quy định mới.
Giảng viên trong cơ sở giáo dục đại học được tuyển dụng, tiếp nhận hoặc thay đổi vị trí việc làm giảng viên đại học trước ngày 9-4-2026 thì không yêu cầu đáp ứng tiêu chuẩn có chứng chỉ bồi dưỡng chuẩn nghề nghiệp giảng viên đại học.
Việc rà soát lần này thực hiện theo kế hoạch số 179 của Bộ Giáo dục và Đào tạo, gồm ba nội dung: khảo sát năng lực tiếng Anh; xác định nhu cầu bồi dưỡng đối với nhà giáo dạy tiếng Anh; tổ chức các hoạt động giáo dục và dạy các môn học, chuyên ngành khác bằng tiếng Anh.
Sở Giáo dục và Đào tạo TP.HCM đề nghị UBND phường, xã, đặc khu; thủ trưởng cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông, thường xuyên, nghề nghiệp công lập và ngoài công lập trực thuộc sở thực hiện hai nhiệm vụ:
Một là tổ chức cho nhà giáo (trừ giáo viên dạy tiếng Anh) tự đánh giá năng lực tiếng Anh theo khung năng lực 6 bậc của Việt Nam; rà soát nhu cầu bồi dưỡng để cơ quan quản lý giáo dục các cấp xây dựng kế hoạch phù hợp, phục vụ việc giảng dạy và tổ chức các hoạt động giáo dục bằng tiếng Anh.
Hai là tổng hợp kết quả tự đánh giá, cập nhật số liệu vào bảng tổng hợp tại các liên kết:
Được biết, vào tháng 5-2025 (trước sáp nhập), Sở Giáo dục và Đào tạo TP.HCM cũng đã thực hiện kỳ khảo sát năng lực tiếng Anh với quy mô lớn đối với giáo viên, cán bộ quản lý toàn TP.
Theo kết quả khảo sát, đã có 50.278 giáo viên (tiểu học có 22.284 giáo viên, THCS là 10.088 và THPT là 8.229) tham gia thực hiện bài khảo sát trực tuyến theo dạng trắc nghiệm khách quan, thời lượng 90 phút. Trong số 50.278 giáo viên có 4.721 giáo viên tiếng Anh và 45.557 giáo viên các môn học khác.
Các giáo viên thực hiện bài khảo sát năng lực tiếng Anh do Cambridge Assessment English thiết kế và chuẩn hóa, gồm ba kỹ năng nghe, đọc và viết, đánh giá theo khung tham chiếu châu Âu CEFR (từ A1 đến C2).
Kết quả toàn bộ 50.278 giáo viên: A1 chiếm 9,45%; A2: 11,35%; B1: 35,09%; B2: 13,63%; C1: 3,69%; C2: 0,29%; các trình độ khác: 26,5%.
Theo nghiên cứu về tác động kinh tế - xã hội của làn sóng du học sinh quốc tế tại Hàn Quốc, do Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Di cư công bố, khoảng 71,1% du học sinh quốc tế làm thêm đang làm việc trong lĩnh vực ăn uống và lưu trú.
Tại một số địa phương như Gwangju, Incheon, Busan và các tỉnh Chungcheongnam, Gyeonggi, tỷ lệ du học sinh làm việc trong ngành nhà hàng - khách sạn vượt 80%. Nghiên cứu cho thấy chỉ 2,4% du học sinh lựa chọn công việc dựa trên mức độ liên quan đến ngành học hoặc định hướng nghề nghiệp tương lai.
Trong khi đó, yếu tố được ưu tiên nhiều nhất là thời gian làm việc phù hợp với lịch học, chiếm 54,4%. Mức lương là yếu tố quan trọng thứ hai với 24,8%.
Theo nghiên cứu, điều này cho thấy công việc làm thêm hiện chưa đóng vai trò như bước đệm giúp du học sinh tích lũy kinh nghiệm cho nghề nghiệp tương lai.
Kết quả khảo sát cũng cho thấy 41,9% du học sinh làm thêm mà không khai báo chính thức với cơ quan chức năng, mà chủ yếu thông qua các "thỏa thuận miệng" với chủ sử dụng lao động.
Nghiên cứu nhận định tình trạng lao động phi chính thức, hay “lao động chui”, đang diễn ra phổ biến. Một trong những nguyên nhân chính được cho là xuất phát từ quy định tài chính hiện hành.
Theo quy định tại Hàn Quốc, du học sinh sẽ mất ưu đãi giảm 50% phí bảo hiểm y tế quốc gia nếu thu nhập hàng năm vượt 3,6 triệu won (hơn 63 triệu đồng). Để tránh vượt ngưỡng này, nhiều sinh viên và chủ sử dụng lao động lựa chọn hình thức trả lương ngoài sổ sách, trả lương bằng tiền mặt.
Nghiên cứu cho biết điều này khiến nhiều du học sinh ngần ngại báo cáo các vi phạm lao động như bị nợ lương hoặc bị đối xử bất công.
Báo cáo cũng nhận định du học sinh quốc tế đang được xem là nguồn lao động có chi phí thấp, ít phản kháng ngay cả khi chỉ nhận mức lương tối thiểu. Công việc làm thêm của họ không còn mang tính tạm thời mà đã trở thành một phần cấu trúc của ngành dịch vụ trong nước.
Các du học sinh được khảo sát cho biết rào cản ngôn ngữ, sự phân biệt đối xử và tính chất nặng nhọc của công việc tay chân là những khó khăn lớn khi làm thêm. Họ tìm việc chủ yếu dựa vào các mối quan hệ cá nhân, nền tảng trực tuyến và cộng đồng du học sinh quốc tế.
Để giải quyết tình trạng này, nhóm nghiên cứu đề xuất xây dựng hệ thống quản lý chính thức đối với việc làm thêm của du học sinh nhằm đưa hoạt động này vào khuôn khổ pháp lý.
Nghiên cứu cũng đề xuất cải cách quy định, bao gồm áp dụng chế độ khai báo hằng năm đối với các sinh viên đủ điều kiện như đạt TOPIK cấp 4 trở lên hoặc có thành tích học tập tốt, đồng thời điều chỉnh ngưỡng bảo hiểm y tế và gỡ bỏ quy định hạn chế khoảng cách nơi làm việc.
Chiều 15/5, ông Trần Kiêm Hảo, Giám đốc Sở Y tế thành phố Huế, cho biết đơn vị đã lập đoàn kiểm tra đột xuất bếp ăn tập thể tại Trung tâm Giáo dục quốc phòng và an ninh, thuộc Đại học Huế, sau khi có thông tin “vật thể lạ” trong thức ăn của sinh viên.
Theo ông Hảo, lực lượng chức năng đang hoàn thiện báo cáo kết quả kiểm tra, sẽ cung cấp cho báo chí khi đầy đủ thông tin.
Trước đó trên nhóm mạng xã hội “Sinh viên đại học Huế”, một tài khoản tự nhận là sinh viên đang học quốc phòng tại Trung tâm Giáo dục quốc phòng và an ninh thông tin phát hiện nhiều "vật thể lạ” nghi là gián, dòi và sâu trong khẩu phần ăn tập thể dành cho sinh viên.
Bài viết kèm theo các hình ảnh giống con gián trong bát nước mắm, bát canh rau có sâu và miếng chả có vật nghi là dòi.
Bài đăng tải thu hút sự quan tâm lớn của cộng đồng mạng, đa phần bày tỏ sự bất bình trong công tác đảm bảo vệ sinh an toàn thực phẩm tại trung tâm này.
Theo lãnh đạo Đại học Huế, các đơn vị liên quan và công an đang xác minh thông tin kể trên.
Trước đó vào năm 2025, nhiều sinh viên của Trường đại học Sư phạm (Đại học Huế) bị ngộ độc thực phẩm sau khi ăn sáng tại Trung tâm Giáo dục quốc phòng và an ninh.