Theo thông tin công bố ngày 15/5, bà Đặng Huỳnh Ức My – Chủ tịch HĐQT CTCP Thành Thành Công – Biên Hòa (AgriS, HoSE: SBT) đã đăng ký mua 42.755.629 cổ phiếu SBT trong tháng 5, tương đương tỷ lệ 4,61% với mục đích gia tăng tỷ lệ sở hữu.
Số lượng cổ phiếu này dự kiến được nhận chuyển nhượng từ bà Huỳnh Bích Ngọc – mẹ của bà Ức My và Công ty Cổ phần Đầu tư Thành Thành Công. Giao dịch dự kiến được thực hiện từ ngày 20/05/2026 đến ngày 18/06/2026.
Tính đến hết ngày 20/04/2026, bà Đặng Huỳnh Ức My đang nắm giữ 86.487.366 cổ phiếu SBT, tương đương 9,32% vốn điều lệ. Sau khi hoàn tất giao dịch, tổng lượng cổ phiếu do bà nắm giữ dự kiến tăng lên 129.242.995 cổ phiếu, tương đương 13,93% vốn điều lệ.
Động thái trên được xem là một phần của tiến trình chuyển giao thế hệ lãnh đạo trong một doanh nghiệp có dấu ấn gia đình rõ nét như AgriS.
Là một trong những nhân vật đặt nền móng cho sự phát triển của hệ sinh thái Tập đoàn Thành Thành Công trong lĩnh vực nông nghiệp và mía đường, bà Huỳnh Bích Ngọc được xem là gương mặt có ảnh hưởng lớn trong ngành mía đường Việt Nam.
Trước đó, vào giữa tháng 7/2024, sau khi kết thúc nhiệm kỳ 5 năm (2019–2024) giữ cương vị Chủ tịch HĐQT AgriS, bà Huỳnh Bích Ngọc đã chuyển giao lại vị trí này cho con gái Đặng Huỳnh Ức My (sinh năm 1981).
Theo chia sẻ của bà Huỳnh Bích Ngọc, việc trao lại vai trò điều hành cho thế hệ lãnh đạo trẻ nằm trong định hướng phát triển dài hạn nhằm tạo sự kế thừa và thích ứng với giai đoạn phát triển mới của doanh nghiệp, đặc biệt trong bối cảnh AgriS mở rộng hoạt động quốc tế và thúc đẩy chiến lược tăng trưởng bền vững.
Là thế hệ doanh nhân F2 của Tập đoàn Thành Thành Công, bà Đặng Huỳnh Ức My không phải là “gương mặt mới” với thị trường. Trước khi đảm nhiệm vai trò Chủ tịch HĐQT, bà My đã tham gia vào quá trình hoạch định chiến lược, triển khai các dự án chuyển đổi và mở rộng hoạt động kinh doanh của AgriS. Việc tham gia điều hành trong nhiều năm trước đó được cho là giúp quá trình chuyển giao diễn ra tương đối ổn định, hạn chế xáo trộn trong hoạt động doanh nghiệp.
Sau chuyển giao, AgriS tiếp tục đẩy mạnh việc chuyển đổi từ một doanh nghiệp sản xuất đường truyền thống sang mô hình doanh nghiệp nông nghiệp tích hợp, phát triển trên ba trụ cột AgTech, FoodTech và FinTech, vận hành theo mô hình “Chuỗi giá trị thương mại tuần hoàn” gắn với tiêu chuẩn ESG.
Quá trình chuyển đổi này bước đầu ghi nhận một số kết quả tích cực, thể hiện qua các chỉ số hoạt động và kinh doanh. AgriS hiện tiếp tục duy trì vị thế lớn trong ngành đường Việt Nam với khoảng 46% thị phần nội địa, quy mô vùng nguyên liệu gần 80.000 ha, đồng thời mở rộng sự hiện diện sản phẩm tại 76 quốc gia, tăng hơn ba lần so với 5 năm trước.
Trong niên độ 2024–2025, AgriS ghi nhận doanh thu thuần 28.482 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế đạt 950 tỷ đồng, tăng khoảng 5% so với cùng kỳ, cho thấy những tín hiệu ổn định trong giai đoạn đầu của chiến lược phát triển mới.
Doanh nghiệp này cũng đồng thời đẩy mạnh tái cấu trúc danh mục đầu tư, tập trung nguồn lực vào các lĩnh vực cốt lõi liên quan đến giải pháp nông nghiệp và ngành hàng FBMC (Food – Beverage – Milk – Confectionery/ Thực phẩm – Đồ uống – Sữa – Bánh kẹo). Theo kế hoạch, quá trình tái cấu trúc này dự kiến hoàn tất trong năm 2026.
Một trong những điểm đáng chú ý trong chiến lược mở rộng của AgriS là việc gia tăng hiện diện quốc tế. Doanh nghiệp cho biết hiện sản phẩm đã có mặt tại 76 thị trường, tăng mạnh so với giai đoạn trước. Song song đó, AgriS cũng mở rộng kết nối với các định chế tài chính nước ngoài để huy động vốn cho các kế hoạch phát triển dài hạn.
Theo doanh nghiệp, trong gần hai năm qua, AgriS đã huy động hơn 400 triệu USD từ nhiều tổ chức tài chính quốc tế như International Finance Corporation, First Commercial Bank hay E.Sun Commercial Bank. Tỷ lệ sở hữu nước ngoài tại doanh nghiệp cũng tăng lên gần 20% vào cuối quý I/2026.
Chia sẻ về định hướng phát triển AgriS sau giai đoạn chuyển giao, bà Đặng Huỳnh Ức My cho biết: “Chúng tôi kế thừa những giá trị đã được xây dựng trong nhiều thập kỷ, đồng thời nâng cấp năng lực quản trị, công nghệ và mô hình vận hành để phù hợp với bối cảnh mới. Mục tiêu không chỉ là tăng trưởng, mà là kiến tạo một hệ sinh thái nông nghiệp bền vững, có khả năng cạnh tranh trên thị trường khu vực và quốc tế.”
Những diễn biến trong thời gian qua cho thấy AgriS như một điển hình thành công trong việc chuyển giao thế hệ lãnh đạo trong khối doanh nghiệp gia đình tại Việt Nam. Quá trình thay đổi vị trí điều hành cao nhất diễn ra theo lộ trình đã được chuẩn bị từ trước, trong bối cảnh doanh nghiệp vẫn duy trì hoạt động ổn định và tiếp tục triển khai các chiến lược mở rộng.
Sáng 24/4, tiếp tục Kỳ họp thứ Nhất, với 492/492 đại biểu tham gia biểu quyết tán thành, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết bổ sung dự toán thu ngân sách Nhà nước (NSNN) năm 2024 và phê chuẩn quyết toán NSNN năm 2024.
Theo báo cáo 250 ngày 23/4 của Chính phủ, việc chuyển nguồn năm 2024 của các bộ, cơ quan trung ương, địa phương đã thực hiện theo quy định của Luật NSNN, Luật Đầu tư công, Nghị quyết của Quốc hội và các văn bản có liên quan.
Số chuyển nguồn NSNN năm 2024 sang năm 2025 là 1.439.178 tỷ đồng, gồm ngân sách trung ương là 543.515 tỷ đồng, ngân sách địa phương là 895.663 tỷ đồng.
Trong đó: kinh phí thực hiện cải cách tiền lương là 580.618 tỷ đồng; chi đầu tư phát triển là 354.578 tỷ đồng; nguồn tăng thu, tiết kiệm chi là 355.663 tỷ đồng; các khoản dự toán được cấp có thẩm quyền bổ sung sau ngày 30/9 năm thực hiện dự toán là 29.098 tỷ đồng.
Kinh phí được giao tự chủ của các đơn vị sự nghiệp công lập và các cơ quan nhà nước là 5.559 tỷ đồng. Kinh phí nghiên cứu khoa học là 4.131 tỷ đồng. Kinh phí mua sắm trang thiết bị đã đầy đủ hồ sơ, hợp đồng mua sắm trang thiết bị ký trước ngày 31/12 năm thực hiện dự toán là 2.647 tỷ đồng.
Theo Nghị quyết được Quốc hội thông qua, bổ sung dự toán thu NSNN năm 2024 là 13.760 tỷ đồng, bao gồm tăng thu ngân sách trung ương là 3.408 tỷ đồng; tăng thu ngân sách địa phương là 10.352 tỷ đồng.
Quốc hội ghi nhận và đánh giá cao nỗ lực của Chính phủ đã chỉ đạo sát sao, quyết liệt các giải pháp phát triển kinh tế - xã hội, triển khai chính sách tài khóa có hiệu quả, đồng bộ với chính sách tiền tệ và các chính sách vĩ mô khác nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, người dân, thúc đẩy phục hồi và phát triển kinh tế - xã hội.
Bên cạnh kết quả tích cực đạt được, việc chấp hành kỷ luật, kỷ cương, thực hiện các quy định pháp luật và các nghị quyết của Quốc hội về lập, chấp hành dự toán, quyết toán NSNN vẫn còn một số tồn tại, hạn chế.
Tình trạng điều chỉnh thông tin, số liệu thu, chi NSNN sau thời gian chỉnh lý quyết toán NSNN chưa được khắc phục. Việc thực hiện các kết luận, kiến nghị của Kiểm toán Nhà nước tại một số cơ quan, đơn vị chưa đảm bảo đầy đủ, kịp thời.
Cũng theo nghị quyết, tổng số thu cân đối NSNN là 3.402.379 tỷ đồng. Tổng số chi cân đối NSNN là 3.587.655 tỷ đồng, bao gồm cả số chi chuyển nguồn từ năm 2024 sang năm 2025.
Nghị quyết giao Chính phủ công khai quyết toán NSNN năm 2024 theo đúng quy định của pháp luật. Chỉ đạo các bộ, cơ quan, địa phương làm rõ nguyên nhân và trách nhiệm người đứng đầu, các tập thể, cá nhân không chấp hành nghiêm các quy định của pháp luật trong lập, chấp hành dự toán, quyết toán NSNN năm 2024; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm.
Ông Trần Thanh Phong, Giám đốc Công ty Thiên Bút kinh doanh thực phẩm, cho biết từ đầu năm đến nay, lãi suất vay ngân hàng (NH) tăng liên tục. Có những khoản vay đầu năm chỉ ở mức 5,5%/năm nhưng sau đó điều chỉnh lên 7,5%/năm và nay có những khoản lên đến 9,1 - 10%/năm. "Từ trước nay chúng tôi chủ yếu vay ngắn hạn 6 tháng, có tài sản thế chấp là bất động sản. Nhưng không những lãi vay tăng lên mà hạn mức tín dụng cũng được điều chỉnh giảm xuống. Chẳng hạn, trước đây NH cho vay 70 - 80% tài sản thế chấp nhưng nay chỉ vào khoảng 50%. Dòng tiền NH giải ngân không mạnh, có những thời điểm nhà băng báo bị hết room nên có khi phải chờ. Doanh nghiệp được cấp hạn mức tín dụng khoảng 80 tỉ đồng nhưng nay cũng không dám dùng hết số này", ông Phong chia sẻ và cho hay chi phí tài chính hiện nay tăng gấp đôi so với đầu năm, chưa kể chi phí vận chuyển, lưu kho cũng gia tăng.
Ở chiều ngược lại, mãi lực tiêu thụ trên thị trường lại giảm khi hàng quán, bếp ăn đóng cửa nhiều. Trước đây kho hàng chứa khoảng 10 tấn phục vụ hơn 50 khách hàng đông đúc nhưng nay lại vắng vẻ. Các doanh nghiệp thực phẩm phải hạ giá bán để thu hồi vốn nhanh chứ càng chậm càng phải trả lãi NH tăng lên. "Mấy nay NH tuyên bố giảm lãi suất tiết kiệm nhưng các khoản vay hiện nay chưa nhận được sự điều chỉnh đi xuống. Trong khi trước đây chưa đến hạn điều chỉnh lãi vay nhưng NH cũng có thông báo tăng lên", ông Phong nói.
Sản xuất kinh doanh lâu năm trong lĩnh vực gỗ dăm, bà N.C (giám đốc một công ty có trụ sở tại TP.HCM) kể doanh nghiệp mới giải ngân một khoản trong hạn mức tín dụng vay được cấp với lãi suất lên 8,2%/năm vào đầu tháng 4. Chỉ trong vòng một tháng qua, lãi vay NH cứ liên tục tăng lên. Cụ thể, đầu tháng 3, lãi vay ở mức 7,2%/năm, cuối tháng lên 7,6%/năm và bước qua tháng 4 là 8,2%/năm. "Chỉ trong vòng 1 tháng, lãi suất vay NH tăng 1%/năm. Doanh nghiệp xuất khẩu nên mới có mức lãi suất vay như vậy vì khi có nguồn USD chúng tôi cũng thực hiện bán lại cho NH, cũng như sử dụng những dịch vụ từ NH cung cấp. So với các doanh nghiệp khác thì lãi vay của doanh nghiệp cho sản xuất kinh doanh thấp nhưng việc tăng nhanh như vậy ngoài sức tính toán của doanh nghiệp", bà C. thở dài và nói thêm lãi vay lúc tăng thì nhanh nhưng xuống luôn chậm.
Thực tế, sau khi đồng thuận giảm lãi suất tiết kiệm, cuộc đua tăng lãi suất huy động vốn kéo dài từ cuối năm ngoái đến nay đã dần hạ nhiệt. Trong 4 ngày trở lại đây, các NH đồng loạt giảm lãi suất huy động xuống khoảng 0,5%/năm, có NH tuyên bố giảm lãi vay từ 1 - 3%/năm. Trước đó trong cuộc họp chiều 14.4, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) cho biết đã có 26 NH điều chỉnh giảm lãi suất huy động, phổ biến từ 0,1 - 0,5%/năm ở các kỳ hạn 6 tháng trở lên. Mặt bằng lãi suất huy động hạ nhiệt, góp phần giảm chi phí vốn đầu vào của NH, mở ra dư địa để các NH điều chỉnh giảm lãi suất cho vay nhưng người vay vẫn đang chờ các nhà băng thực hiện việc này.
Ông Nguyễn Thế Minh, Giám đốc Phân tích Khối Khách hàng cá nhân của Công ty Chứng Khoán Yuanta Việt Nam, cho rằng lãi vay hiện chưa thể giảm ngay vì chi phí vốn các NH vừa qua huy động cao. Dù các NH bắt đầu giảm nhẹ lãi suất huy động gần đây thì cũng sẽ mất thời gian để cân đối lại chi phí vốn đi xuống. "Trước khi các NH đồng thuận giảm lãi suất, trên thị trường xuất hiện lãi tiết kiệm từ 8 - 9%/năm, nên muốn kéo mặt bằng lãi vay xuống thấp hơn thì lãi huy động tầm 7% cũng sẽ mất khoảng 2 tháng. Một vấn đề khác đặt ra là tốc độ cho vay hiện nay tăng nhanh hơn huy động. Lãi suất tiết kiệm thấp sẽ không hút được vốn vào NH mà chuyển qua các kênh đầu tư khác, chẳng hạn như vàng. Do vậy khi lãi suất tiết kiệm đi xuống, các NH cần tính đến huy động nguồn vốn khác qua các kênh giấy tờ có giá như trái phiếu để ổn định nguồn vốn nhằm giảm lãi vay", ông Minh nói.
Bước qua quý 2, hạn mức tăng trưởng tín dụng được nới ra, đồng nghĩa nhu cầu vốn tăng lên. Trong quý 1, NHNN yêu cầu hạn mức tăng trưởng tín dụng NH không quá 25% tổng hạn mức tín dụng. Một số NH cho vay nhanh thì đến tháng 2 đã chạm trần được cấp, trong khi đó vốn huy động thì tăng chậm. Đây cũng là nguyên nhân khiến lãi vay tăng nhanh trong quý 1. Báo cáo quý 1 của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam phản ánh bức tranh thanh khoản hệ thống NH chuyển từ trạng thái dư thừa dịp đầu năm sang căng thẳng cục bộ vào cuối quý 1.
Trên thị trường liên NH, sau khi giảm về mức 3,7%/năm giữa tháng 3, lãi suất qua đêm đã tăng mạnh trở lại, chạm mức 9,3% vào ngày 30.3 dưới áp lực hút ròng của NHNN và nhu cầu tín dụng tăng tốc cuối quý. Các NH tăng lãi suất huy động từ 0,1 - 1,4%/năm ở các kỳ hạn trên 6 tháng. Lãi suất huy động 12 tháng trung bình toàn hệ thống hiện đạt mức 8,07%/năm. Trên thực tế, một số NH đang huy động với mức lãi suất thỏa thuận lên tới 9%/năm cho các khoản tiền gửi lớn. Nguyên nhân chính là do tín dụng bắt đầu phục hồi nhanh hơn tốc độ huy động vốn, buộc các NH phải tăng cường huy động để đảm bảo các tỷ lệ an toàn thanh khoản và chuẩn bị vốn cho mùa kinh doanh sôi động quý 2. Lãi cho vay bình quân của NH thương mại trong nước đối với các khoản cho vay mới và cũ còn dư nợ ở mức 7,1% - 9,4%/năm. Lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân đối với lĩnh vực ưu tiên khoảng 3,8%/năm, thấp hơn mức lãi suất cho vay ngắn hạn tối đa theo quy định của NHNN 4%/năm.
Trong cuộc họp chiều 14.4, ông Phạm Thanh Hà, Phó thống đốc NHNN, thông tin tính đến ngày 31.3, dư nợ tín dụng toàn hệ thống đạt trên 19,18 triệu tỉ đồng, tăng 3,18% so với cuối năm 2025. NHNN dự kiến tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống khoảng 15%, có điều chỉnh tăng, giảm phù hợp với diễn biến, tình hình thực tế, đảm bảo kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế và an toàn hệ thống các NH. NHNN tiếp tục điều hành chính sách tiền tệ chủ động, linh hoạt, phối hợp chặt chẽ với chính sách tài khóa và các chính sách vĩ mô khác nhằm kiên định ưu tiên mục tiêu kiểm soát lạm phát năm 2026 bình quân khoảng 4,5%, góp phần giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.
Trong khi đó, dầu điêzen 0.05S giảm 268 đồng/lít, xuống còn tối đa 27.226 đồng/lít. Dầu madút 180CST 3.5S giảm 587 đồng/kg, còn tối đa 20.585 đồng/kg.
Ở kỳ điều hành này, liên Bộ tiếp tục không trích lập và không chi sử dụng Quỹ bình ổn giá xăng dầu đối với tất cả mặt hàng. Mức trích lập và chi sử dụng Quỹ đều được giữ ở 0 đồng đối với xăng sinh học, xăng không chì, dầu điêzen và dầu madút.
Theo Bộ Công Thương, thị trường xăng dầu thế giới trong kỳ điều hành lần này chịu tác động bởi nhiều yếu tố đan xen như thông tin Mỹ và Iran hướng tới một thỏa thuận tạm thời nhằm giảm căng thẳng trước mắt, song một số cuộc đụng độ giữa hai bên vẫn xảy ra; eo biển Hormuz phần lớn tiếp tục bị phong tỏa; khả năng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) tăng lãi suất để kiềm chế lạm phát; xung đột quân sự giữa Nga và Ukraina vẫn kéo dài.
Những yếu tố trên khiến giá xăng dầu thành phẩm thế giới biến động tăng giảm tùy từng mặt hàng trong những ngày qua.
Bình quân giá thành phẩm xăng dầu thế giới giữa kỳ điều hành ngày 7/5 và ngày 14/5 ghi nhận xu hướng giảm. Cụ thể, xăng RON92 dùng để pha chế xăng E5RON92 ở mức 128,732 USD/thùng, giảm 4,260 USD/thùng, tương đương giảm 3,20%. Xăng RON95 bình quân ở mức 130,838 USD/thùng, giảm 4,568 USD/thùng, tương đương giảm 3,37%.
Dầu điêzen 0,05S đạt bình quân 146,038 USD/thùng, giảm 7,616 USD/thùng, tương đương giảm 4,96%; dầu mazut 180CST 3,5S ở mức 687,654 USD/tấn, giảm 25,816 USD/tấn, tương đương giảm 3,62%.
Bộ Công Thương cũng cho biết, giá xăng dầu tại Việt Nam hiện vẫn thấp hơn đáng kể so với nhiều quốc gia có chung đường biên giới.
Tính đến ngày 14/5/2026, giá xăng tại Việt Nam ở mức 24.078 đồng/lít, thấp hơn Thái Lan (35.896 đồng/lít), Campuchia (33.798 đồng/lít), Lào (40.096 đồng/lít) và Trung Quốc (35.438 đồng/lít).