Được kiểm chứng qua thực tiễn khắc nghiệt, chương trình bình ổn thị trường đã khẳng định là mô hình đúng đắn, phù hợp thực tiễn khách quan, phản ánh tinh thần năng động, sáng tạo của TP.
Từ mô hình này, nhiều địa phương trên cả nước đã kế thừa tinh thần chung để triển khai, nhân rộng.
Sống lâu năm ở TP.HCM, bà Nguyễn Thị Hương – phường Bình Trưng – còn nhớ như in những ngày giáp Tết hơn 20 năm trước. Đó là thời điểm người tiêu dùng TP vẫn còn giữ thói quen mua sắm ở chợ truyền thống, siêu thị vẫn chưa thể phủ rộng được như bây giờ.
Những ngày ấy bà nội trợ ra chợ là “chóng mặt” vì giá không chỉ đến Tết lại tăng mà còn tăng từng ngày.
“Tôi còn nhớ khi đó các mặt hàng như trứng vịt, thịt heo không chỉ tăng cao mà muốn mua cũng không có hàng. Phải đi vòng vòng mấy chợ để có nguyên liệu cho hai món quen thịt kho hột vịt và khổ qua dồn thịt”, bà Hương kể.
Và trong bối cảnh ấy, chương trình bình ổn thị trường được khởi xướng vào dịp Tết Nhâm Ngọ 2002. Ngay năm đầu tiên, UBND TP.HCM giao 45 tỉ đồng cho hai doanh nghiệp mua lương thực, thực phẩm để dự trữ, phục vụ dịp Tết Nhâm Ngọ.
Mục tiêu ban đầu là ngăn chặn tình trạng găm hàng, tăng giá tùy tiện trong dịp cao điểm, đặc biệt là Tết Nguyên đán, giúp người dân yên tâm mua sắm.
Năm 2010 là cột mốc đánh dấu chương trình bắt đầu được xã hội hóa, mở rộng quy mô với 13 doanh nghiệp tham gia và chính thức chuyển sang bình ổn thị trường cả năm, thay vì chỉ riêng dịp Tết.
Từ khi triển khai đến nay, ở mỗi giai đoạn chương trình bình ổn thị trường của TP được linh hoạt điều chỉnh phù hợp với nhu cầu kinh tế – xã hội của từng thời kỳ. Như trong giai đoạn
2002-2012, chương trình chủ yếu tập trung vào mục tiêu chống giá thực phẩm tăng sốc, bảo đảm nguồn cung các mặt hàng thiết yếu như gạo, thịt, trứng, đường và dầu ăn, nhất là vào dịp lễ, Tết hoặc khi thị trường biến động mạnh.
Sang giai đoạn 2013-2020, phạm vi bình ổn được mở rộng sang các lĩnh vực liên quan trực tiếp đến đời sống người dân như giáo dục, y tế và hàng tiêu dùng dân sinh, bao gồm tập vở, dụng cụ học tập, dược phẩm và một số mặt hàng gia dụng thiết yếu.
Trong thời kỳ 2021-2023, sau tác động của đại dịch COVID-19, chương trình chú trọng hơn đến việc củng cố chuỗi cung ứng, kết nối sản xuất với hệ thống phân phối và bảo đảm lưu thông hàng hóa ổn định.
Đến giai đoạn 2024-2026, chương trình tiếp tục phát triển theo hướng bình ổn chi phí sống toàn diện, không chỉ tập trung vào ăn uống mà còn mở rộng sang học tập, hàng gia dụng và hỗ trợ sản xuất, qua đó đáp ứng tốt hơn nhu cầu đa dạng của người dân và doanh nghiệp.
Sau hơn 20 năm, thành công của chương trình là tạo kết nối giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng.
Gắn bó lâu năm với chương trình bình ổn thị trường của TP, ông Nguyễn Nguyên Phương – Phó giám đốc Sở Công thương TP.HCM – cho biết trải qua hơn hai thập niên, chương trình đã có những bước chuyển mình mạnh mẽ, từ mục tiêu ngắn hạn phục vụ dịp Tết sang hoạt động xuyên suốt cả năm vào năm 2010 và đặc biệt là từ năm 2013, TP đã thực hiện bước đột phá xã hội hóa 100% nguồn vốn thông qua cơ chế kết nối ngân hàng – doanh nghiệp.
Đáng chú ý, sau khi triển khai hiệu quả, chương trình được nhiều địa phương trên cả nước học tập và áp dụng với quy mô, cách thức khác nhau. Tiêu biểu có thể kể đến Hà Nội với các chương trình dự trữ hàng hóa thiết yếu phục vụ Tết và bình ổn giá các mặt hàng tiêu dùng; Đà Nẵng triển khai kế hoạch dự trữ hàng hóa, kết nối cung cầu và bình ổn thị trường mùa cao điểm du lịch.
Cần Thơ chú trọng bình ổn lương thực, thực phẩm cho khu vực ĐBSCL, Bình Dương và Đồng Nai triển khai chương trình phục vụ lực lượng lao động lớn tại các khu công nghiệp; Bà Rịa – Vũng Tàu, Long An, An Giang cũng có các kế hoạch dự trữ và bán hàng bình ổn trong dịp lễ, Tết.
Dù tên gọi và cách triển khai khác nhau, các địa phương này đều kế thừa tinh thần chung của mô hình TP.HCM: chủ động nguồn cung, giữ giá hợp lý, liên kết doanh nghiệp và bảo đảm an sinh xã hội khi thị trường biến động.
Đến nay, tại TP.HCM quy mô chương trình không chỉ dừng lại ở nhóm hàng lương thực, thực phẩm thiết yếu mà đã mở rộng sang các nhóm hàng phục vụ mùa khai giảng, sữa, dược phẩm thiết yếu, hàng tiêu dùng…; sự tham gia của đa dạng các thành phần kinh tế từ doanh nghiệp nhà nước đến các tập đoàn đa quốc gia và doanh nghiệp FDI.
Năm 2026, chương trình bình ổn thị trường năm 2026-2027 đã chính thức được triển khai từ ngày 1-4 và kéo dài trong 12 tháng. Đây là một trong những công cụ quan trọng giúp TP.HCM chủ động ứng phó với biến động giá cả, đặc biệt trong bối cảnh chi phí đầu vào, phí vận chuyển và năng lượng có nhiều biến động.
Theo ông Nguyễn Nguyên Phương, trong giai đoạn tới định hướng của TP là đưa chương trình lên một tầm cao mới về cả chất và lượng. Mục tiêu trọng tâm là hiện đại hóa phương thức triển khai, đẩy mạnh ứng dụng thương mại điện tử và chuyển đổi số trong quản lý hệ thống phân phối để hàng bình ổn tiếp cận người dân nhanh chóng, thuận tiện hơn.
Đặc biệt, TP sẽ tập trung triển khai chương trình hợp tác kiểm soát chất lượng hàng hóa (tick xanh trách nhiệm) nhằm xây dựng bộ quy tắc ứng xử khắt khe trong kiểm tra, kiểm soát, phát hiện và xử lý vi phạm thông qua chia sẻ và công khai, minh bạch thông tin tự nguyện giữa các nhà bán lẻ và nhà cung cấp nhằm định hướng sản xuất, đảm bảo hàng hóa không chỉ ổn định về giá mà còn dẫn đầu về chất lượng và an toàn thực phẩm.
“Điểm nhấn của nỗ lực này là việc hình thành và vận hành sàn giao dịch thịt heo. Đây không chỉ là bước đi nhằm hiện đại hóa phương thức giao dịch truyền thống vốn còn nhiều tầng nấc trung gian mà còn là công cụ then chốt để minh bạch hóa thị trường tại địa phương tiêu thụ thịt heo lớn nhất cả nước”, ông Phương kỳ vọng.
Sàn giao dịch thịt heo được cho sẽ xóa bỏ tình trạng thao túng giá, đảm bảo quyền lợi cốt lõi cho cả người chăn nuôi và người tiêu dùng, đồng thời góp phần kiểm soát an toàn thực phẩm và là cơ sở nhân rộng mô hình sang các nhóm ngành hàng khác.
Ngoài ra, cùng với chương trình “Tick xanh trách nhiệm”, TP đang kiến tạo một hệ sinh thái thương mại an toàn, nơi mà sự minh bạch về nguồn gốc và chất lượng trở thành tiêu chuẩn bắt buộc.
“Với sự chỉ đạo quyết liệt của lãnh đạo TP, sự ủng hộ tích cực của doanh nghiệp và xu thế phát triển của công nghệ thông tin, chuyển đổi số, chương trình sẽ tiếp tục là công cụ hữu hiệu và trụ cột vững chắc của TP trong quản lý thị trường, ổn định và phát triển kinh tế”, ông Phương bày tỏ tin tưởng.
Ngân hàng TNHH MTV HSBC Việt Nam (HSBC Việt Nam) vừa công bố báo cáo tài chính năm 2025 với lợi nhuận giảm về đáy 4 năm.
Thu nhập lãi thuần năm qua ghi nhận giảm 4,7%, còn 5.949 tỷ đồng. Lãi thuần từ dịch vụ cũng giảm gần 5%, xuống còn 853 tỷ đồng. Hai nguồn thu chủ lực trên cùng suy giảm kéo biên lợi nhuận đi xuống.
Ở diễn biến khác, hoạt động kinh doanh ngoại hối tăng hơn 30%, thu về 1.316 tỷ đồng. Hoạt động khác cũng cải thiện, song quy mô các mảng này chưa đủ bù đắp phần sụt giảm từ hoạt động cốt lõi.
Áp lực chi phí hoạt động gia tăng 11%, lên 3.989 tỷ đồng. Năm qua, ngân hàng được biết điều chỉnh giảm chi phí dự phòng rủi ro tín dụng đến 30% so với năm trước, dù vậy không đủ để “kéo đà” lợi nhuận.
Trừ các chi phí, lợi nhuận trước thuế HSBC đạt 4.141 tỷ đồng, giảm 6,9%. Lợi nhuận sau thuế còn 3.300 tỷ đồng, giảm 6,8%, là mức thấp nhất trong 4 năm trở lại đây. Hiệu quả sinh lời cũng đi xuống khi ROE giảm từ 18,47% xuống 16,79%.
Tại ngày 31/12/2025, tổng tài sản đạt 140.855 tỷ đồng, tăng 3,2% so với cuối năm trước. Dư nợ cho vay khách hàng đạt hơn 74.600 tỷ đồng, tăng 8,3%. Tiền gửi khách hàng ghi nhận 117.779 tỷ đồng, tăng 3,2%.
Về chất lượng tài sản, các chỉ số ghi nhận cải thiện; trong đó nợ xấu giảm còn 495 tỷ đồng, tỷ lệ nợ xấu từ 0,46% xuống 0,42%. Tỷ lệ nợ quá hạn cũng giảm từ 0,76% xuống 0,69%.
HSBC là một trong những ngân hàng ngoại sớm có mặt tại Việt Nam từ năm 1980. Năm 2009, ngân hàng chính thức thành lập Ngân hàng TNHH một thành viên HSBC (Việt Nam) - ngân hàng 100% vốn nước ngoài đầu tiên.
Hiện, quy mô nhân sự của ngân hàng này tại Việt Nam vào khoảng 1.400 người, giảm nhẹ so với năm trước. Tổng chi phí cho lương và thu nhập khác đạt 1.295 tỷ đồng, tăng 6,6%. Thu nhập bình quân đạt 925 triệu đồng/người/năm, tương đương khoảng 77 triệu đồng/người/tháng - mức cao nổi trội so với mặt bằng chung hiện nay.
Ghi nhận báo cáo tài chính của 27 ngân hàng trong nước, mức thù lao cao nhất đang vào khoảng 50 triệu đồng/người/tháng, mặt bằng chung ở mức 30 triệu đồng/người/tháng. Thực tế, con số thu nhập bình quân gần 1 tỷ đồng/người/năm chỉ mang tính tương đối. Thực tế, mức thù lao mỗi cá nhân sẽ khác nhau, tùy thuộc vào cấp bậc, phòng ban…
Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank) vừa điều chỉnh tăng mạnh lãi suất huy động trực tuyến ở nhiều kỳ hạn và mức tiền gửi. Theo đó, lãi suất các khoản tiền gửi dưới 500 triệu đồng tăng thêm 0,2-0,6%/năm, trong khi nhóm từ 500 triệu đồng trở lên được tăng tới 1%/năm ở kỳ hạn 12-18 tháng.
Sau điều chỉnh, lãi suất trực tuyến cao nhất tại Sacombank lên tới 8%/năm, áp dụng cho khoản tiền gửi từ 1 tỷ đồng trở lên ở kỳ hạn 24-36 tháng. Với nhóm tiền gửi từ 200 triệu đồng đến dưới 500 triệu đồng, lãi suất đã vượt 7%/năm ngay từ kỳ hạn 6 tháng.
Trong khi đó, Sacombank giữ nguyên biểu lãi suất tiết kiệm tại quầy, dao động 4,75-7%/năm tùy kỳ hạn và số tiền gửi.
Trước động thái tăng lãi suất của Sacombank, thị trường trong tháng 5 ghi nhận Saigonbank và VPBank điều chỉnh giảm lãi suất huy động, trong khi OCB tăng 0,1%/năm đối với các kỳ hạn từ 6-36 tháng.
Thực tế, sau cuộc họp với Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Phạm Đức Ấn hồi đầu tháng 4, các ngân hàng cho biết đồng thuận giảm lãi suất để giữ mặt bằng thấp hỗ trợ nền kinh tế. “Cuộc đua” lãi suất ưu đãi của các ngân hàng bớt "nóng" hơn. Nhiều nhà băng sau đó dừng hoặc giảm dần lãi suất ưu đãi cho khách gửi tiết kiệm.
Biểu lãi suất huy động trực tuyến niêm yết ngày 13/5 cho thấy mặt bằng lãi suất tại các ngân hàng tiếp tục duy trì ở mức ổn định. Ở kỳ hạn 1 tháng, lãi suất huy động trực tuyến cao nhất được ghi nhận ở mức 4,75%/năm, áp dụng tại nhiều ngân hàng như Agribank, BIDV, VietinBank, Vietcombank, ACB, LPBank, MSB, OCB, PGBank, Sacombank và VPBank. Trong khi đó, SCB niêm yết mức thấp nhất chỉ 1,6%/năm.
Tại kỳ hạn 3 tháng, mặt bằng lãi suất phổ biến dao động quanh 4,65-4,75%/năm. Nhóm ngân hàng quốc doanh tiếp tục duy trì mức 4,75%/năm, trong khi VPBank giảm xuống 4,63%/năm và SCB vẫn ở mức thấp nhất với 1,9%/năm.
Đối với kỳ hạn 6 tháng, nhiều ngân hàng đã niêm yết lãi suất vượt 7%/năm. MBV dẫn đầu với mức 7,2%/năm, tiếp theo là ACB với 7,1%/năm. LPBank, PGBank và Sacombank cùng áp dụng mức từ 6,7-6,9%/năm. Trong khi đó, nhóm ngân hàng quốc doanh niêm yết quanh 6,6%/năm và SCB thấp nhất với 2,9%/năm.
Ở kỳ hạn 9 tháng, MBV tiếp tục dẫn đầu với mức 7,2%/năm, ACB đạt 7,2%/năm, còn LPBank và PGBank cùng niêm yết 6,9%/năm. Nhóm Big4 giữ nguyên mức 5,8-6,6%/năm tùy ngân hàng.
Tại kỳ hạn 12 tháng, mức lãi suất tiền gửi cao nhất thuộc về ACB với 7,3%/năm, tiếp đến là MBV với 7,2%/năm và LPBank, PGBank, VIB cùng niêm yết 7%/năm. Agribank, VietinBank và Vietcombank áp dụng mức 6,8%/năm, trong khi SCB tiếp tục thấp nhất với 3,7%/năm.
Ở kỳ hạn 18 tháng, mặt bằng lãi suất dao động trong biên độ rộng, từ 3,9%/năm đến 7,2%/năm. MBV tiếp tục đứng đầu với 7,2%/năm, LPBank đạt 7,1%/năm, trong khi ACB không niêm yết lãi suất ở kỳ hạn này. Nhóm ngân hàng quốc doanh duy trì mức 6,8%/năm.
Trong chuyến thăm chính thức Ấn Độ (5-7/5), điểm dừng chân cuối cùng của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là Mumbai - thủ đô tài chính và thương mại của quốc gia Nam Á. Điều này cho thấy thương mại là một trụ cột then chốt trong quan hệ đối tác giữa hai nước.
Chuyến thăm cũng đánh dấu cột mốc quan trọng khi Việt Nam - Ấn Độ nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện Tăng cường, với mục tiêu nâng kim ngạch thương mại song phương lên 25 tỷ USD vào năm 2030, tăng gấp 1,5 lần hiện nay.
Cơ hội từ thị trường tiêu thụ khổng lồ
Trong một thập kỷ qua, thương mại Việt - Ấn đã tăng từ 5 tỷ USD năm 2016 lên 16,4 tỷ USD, tức gấp hơn ba lần. Tuy nhiên, Đại sứ Ấn Độ tại Việt Nam, ông Tshering W. Sherpa nhìn nhận con số này "chiếm dưới 2% tổng kim ngạch thương mại toàn cầu tương ứng của mỗi nước, khá trái ngược khi cả hai đều là những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới".
Nông sản là trường hợp thể hiện rõ khoảng cách giữa tiềm năng và thực tế. Ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam, mô tả Ấn Độ là "thị trường có quy mô rất lớn" với dân số 1,4 tỷ người và tầng lớp trung lưu tăng nhanh, ước khoảng 500 triệu người. Thế nhưng xuất khẩu rau quả Việt sang thị trường này hiện chỉ khoảng 50-100 triệu USD mỗi năm.
Theo ông, nguyên nhân chủ yếu là hàng rào thuế quan. Ông phân tích hiện chỉ có thanh long được hưởng mức thuế ưu đãi khoảng 10%, trong khi nhiều loại trái cây khác phải chịu thuế 40-50%. Việt Nam cũng chưa có hiệp định thương mại tự do riêng với Ấn Độ.
Rào cản thương mại kéo dài nhiều năm này có thể được gỡ bỏ, khi tại tuyên bố chung sau chuyến thăm, lãnh đạo hai nước nhất trí tạo thuận lợi hơn cho hàng hóa tiếp cận thị trường của nhau, gồm nông sản. Ấn Độ sẽ mở cửa cho sầu riêng Việt, giải quyết các vấn đề kỹ thuật để mở cửa thêm cho bưởi Việt Nam. Việt Nam cũng làm tương tự với trái nho của Ấn Độ.
Ở chiều thương mại rộng hơn, hai nước cũng thống nhất thúc đẩy rà soát Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN - Ấn Độ (AITIGA), tăng kết nối chuỗi cung ứng trong các lĩnh vực có lợi ích chung và mở rộng hợp tác trong thương mại điện tử, kinh tế số.
Theo dự báo của Standard Chartered, xuất khẩu của Việt Nam sang Ấn Độ có thể tăng 10% mỗi năm, tương đương 633 triệu USD, chủ yếu đến từ hàng hóa, dịch vụ.
Thắt chặt đầu tư giữa hai nước
Không chỉ Việt Nam coi Ấn Độ là thị trường tiêu thụ khổng lồ, các doanh nghiệp Ấn cũng đánh giá cao tiềm năng đầu tư tại nước ta. Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính), Ấn Độ hiện có hơn 500 dự án còn hiệu lực tại Việt Nam, với tổng vốn đăng ký gần 1,2 tỷ USD.
Riêng quý đầu năm nay, các nhà đầu tư của quốc gia Nam Á đã rót hơn 95 triệu USD vào 30 dự án mới, gấp 8 lần so với cùng kỳ năm trước. Dòng vốn này tập trung vào công nghiệp chế biến chế tạo, sản xuất và phân phối điện, và khai khoáng.
Tại Mumbai, nhiều tập đoàn lớn của Ấn Độ bày tỏ mong muốn mở rộng hiện diện tại Việt Nam. Larsen & Toubro và Adani quan tâm tới các dự án giao thông, năng lượng, cảng biển. ONGC - "ông lớn" trong lĩnh vực dầu khí của Ấn Độ, hiện diện tại Việt Nam gần 40 năm - muốn tiếp tục là đối tác chiến lược lâu dài trong ngành dầu khí và bảo đảm an ninh năng lượng.
Năng lượng, công nghệ cao, xe điện hay đổi mới sáng tạo... đều là các lĩnh vực mới, trọng tâm sẽ được Việt - Ấn thúc đẩy hợp tác, đầu tư thời gian tới.
Tuy nhiên, giới chuyên gia đánh giá quá trình hiện thực hóa dư địa hợp tác còn đối mặt nhiều thách thức. Dù được nhìn nhận là điểm đến hấp dẫn, các nhà đầu tư Ấn Độ chỉ xếp thứ 26/154 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư nhiều vào Việt Nam.
Theo nhóm tác giả cuốn sách Quan hệ Việt - Ấn (India - Vietnam Relations: Development Dynamics and Strategic Alignment), nhà đầu tư Ấn Độ thường lo ngại rủi ro với các dự án làm mới từ đầu nên chuộng hình thức M&A. Tuy nhiên, thủ tục này tại Việt Nam chưa được thông thoáng, cộng thêm chi phí logistics cao đang kìm hãm dòng vốn đầu tư song phương. Do đó, sự quan tâm cụ thể của các nhà đầu tư lớn trong chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước có thể gợi mở cơ hội, dư địa lớn hơn rất nhiều nếu hai bên sớm tháo gỡ những điểm nghẽn này.
Ở chiều ngược lại, các doanh nghiệp Việt cũng nhân chuyến thăm để mở rộng dấu ấn tại thị trường tỷ dân, đặc biệt trong lĩnh vực hàng không, du lịch, logistics và vận tải biển. Một số lĩnh vực công nghệ cao và AI cũng ghi nhận nhiều hợp tác mới.
TS Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, đánh giá Việt Nam đang chủ động mở rộng không gian chiến lược bằng cách kết nối sâu hơn với những động lực phát triển mới của châu Á.
Theo ông, Ấn Độ đang nổi lên như một trung tâm công nghệ và nhân lực số mới toàn cầu trong khi Việt Nam đang nỗ lực chuyển dịch khỏi mô hình tăng trưởng lao động giá rẻ, hướng tới khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.
try{try{for(const iframe of document.querySelectorAll("iframe[data-src]")){iframe.removeAttribute("sandbox");iframe.setAttribute("src",iframe.getAttribute("data-src"));}}catch(e){}}catch(e){console.log("error_replace_script",e);}
Giới phân tích cũng cho rằng trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái cấu trúc để giảm phụ thuộc vào Trung Quốc, tiềm năng hợp tác giữa hai nước là vô cùng lớn. Hai nước có thể cạnh tranh nhau trong thu hút FDI toàn cầu, nhưng cũng có thể bổ trợ nhau trong cùng một chuỗi cung ứng.
"Đây mới chỉ là khởi đầu của hành trình chung của hai nước. Bầu trời không phải là giới hạn với Ấn Độ và Việt Nam", theo Đại sứ Sherpa.
Trong khi đó, ông Đặng Phúc Nguyên, người đang chờ đợi từng bước tiến trong đàm phán mở cửa cho sầu riêng Việt Nam vào thị trường Ấn Độ, nhìn nhận "nếu tận dụng tốt đà hợp tác này, cơ hội cho rau quả Việt sẽ rộng hơn".