Trong chuyến thăm chính thức Ấn Độ (5-7/5), điểm dừng chân cuối cùng của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm là Mumbai – thủ đô tài chính và thương mại của quốc gia Nam Á. Điều này cho thấy thương mại là một trụ cột then chốt trong quan hệ đối tác giữa hai nước.
Chuyến thăm cũng đánh dấu cột mốc quan trọng khi Việt Nam – Ấn Độ nâng cấp quan hệ lên Đối tác Chiến lược Toàn diện Tăng cường, với mục tiêu nâng kim ngạch thương mại song phương lên 25 tỷ USD vào năm 2030, tăng gấp 1,5 lần hiện nay.
Cơ hội từ thị trường tiêu thụ khổng lồ
Trong một thập kỷ qua, thương mại Việt – Ấn đã tăng từ 5 tỷ USD năm 2016 lên 16,4 tỷ USD, tức gấp hơn ba lần. Tuy nhiên, Đại sứ Ấn Độ tại Việt Nam, ông Tshering W. Sherpa nhìn nhận con số này “chiếm dưới 2% tổng kim ngạch thương mại toàn cầu tương ứng của mỗi nước, khá trái ngược khi cả hai đều là những nền kinh tế tăng trưởng nhanh nhất thế giới”.
Nông sản là trường hợp thể hiện rõ khoảng cách giữa tiềm năng và thực tế. Ông Đặng Phúc Nguyên, Tổng thư ký Hiệp hội Rau quả Việt Nam, mô tả Ấn Độ là “thị trường có quy mô rất lớn” với dân số 1,4 tỷ người và tầng lớp trung lưu tăng nhanh, ước khoảng 500 triệu người. Thế nhưng xuất khẩu rau quả Việt sang thị trường này hiện chỉ khoảng 50-100 triệu USD mỗi năm.
Theo ông, nguyên nhân chủ yếu là hàng rào thuế quan. Ông phân tích hiện chỉ có thanh long được hưởng mức thuế ưu đãi khoảng 10%, trong khi nhiều loại trái cây khác phải chịu thuế 40-50%. Việt Nam cũng chưa có hiệp định thương mại tự do riêng với Ấn Độ.
Rào cản thương mại kéo dài nhiều năm này có thể được gỡ bỏ, khi tại tuyên bố chung sau chuyến thăm, lãnh đạo hai nước nhất trí tạo thuận lợi hơn cho hàng hóa tiếp cận thị trường của nhau, gồm nông sản. Ấn Độ sẽ mở cửa cho sầu riêng Việt, giải quyết các vấn đề kỹ thuật để mở cửa thêm cho bưởi Việt Nam. Việt Nam cũng làm tương tự với trái nho của Ấn Độ.
Ở chiều thương mại rộng hơn, hai nước cũng thống nhất thúc đẩy rà soát Hiệp định Thương mại Hàng hóa ASEAN – Ấn Độ (AITIGA), tăng kết nối chuỗi cung ứng trong các lĩnh vực có lợi ích chung và mở rộng hợp tác trong thương mại điện tử, kinh tế số.
Theo dự báo của Standard Chartered, xuất khẩu của Việt Nam sang Ấn Độ có thể tăng 10% mỗi năm, tương đương 633 triệu USD, chủ yếu đến từ hàng hóa, dịch vụ.
Thắt chặt đầu tư giữa hai nước
Không chỉ Việt Nam coi Ấn Độ là thị trường tiêu thụ khổng lồ, các doanh nghiệp Ấn cũng đánh giá cao tiềm năng đầu tư tại nước ta. Theo số liệu của Cục Đầu tư nước ngoài (Bộ Tài chính), Ấn Độ hiện có hơn 500 dự án còn hiệu lực tại Việt Nam, với tổng vốn đăng ký gần 1,2 tỷ USD.
Riêng quý đầu năm nay, các nhà đầu tư của quốc gia Nam Á đã rót hơn 95 triệu USD vào 30 dự án mới, gấp 8 lần so với cùng kỳ năm trước. Dòng vốn này tập trung vào công nghiệp chế biến chế tạo, sản xuất và phân phối điện, và khai khoáng.
Tại Mumbai, nhiều tập đoàn lớn của Ấn Độ bày tỏ mong muốn mở rộng hiện diện tại Việt Nam. Larsen & Toubro và Adani quan tâm tới các dự án giao thông, năng lượng, cảng biển. ONGC – “ông lớn” trong lĩnh vực dầu khí của Ấn Độ, hiện diện tại Việt Nam gần 40 năm – muốn tiếp tục là đối tác chiến lược lâu dài trong ngành dầu khí và bảo đảm an ninh năng lượng.
Năng lượng, công nghệ cao, xe điện hay đổi mới sáng tạo… đều là các lĩnh vực mới, trọng tâm sẽ được Việt – Ấn thúc đẩy hợp tác, đầu tư thời gian tới.
Tuy nhiên, giới chuyên gia đánh giá quá trình hiện thực hóa dư địa hợp tác còn đối mặt nhiều thách thức. Dù được nhìn nhận là điểm đến hấp dẫn, các nhà đầu tư Ấn Độ chỉ xếp thứ 26/154 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư nhiều vào Việt Nam.
Theo nhóm tác giả cuốn sách Quan hệ Việt – Ấn (India – Vietnam Relations: Development Dynamics and Strategic Alignment), nhà đầu tư Ấn Độ thường lo ngại rủi ro với các dự án làm mới từ đầu nên chuộng hình thức M&A. Tuy nhiên, thủ tục này tại Việt Nam chưa được thông thoáng, cộng thêm chi phí logistics cao đang kìm hãm dòng vốn đầu tư song phương. Do đó, sự quan tâm cụ thể của các nhà đầu tư lớn trong chuyến thăm của Tổng Bí thư, Chủ tịch nước có thể gợi mở cơ hội, dư địa lớn hơn rất nhiều nếu hai bên sớm tháo gỡ những điểm nghẽn này.
Ở chiều ngược lại, các doanh nghiệp Việt cũng nhân chuyến thăm để mở rộng dấu ấn tại thị trường tỷ dân, đặc biệt trong lĩnh vực hàng không, du lịch, logistics và vận tải biển. Một số lĩnh vực công nghệ cao và AI cũng ghi nhận nhiều hợp tác mới.
TS Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội, đánh giá Việt Nam đang chủ động mở rộng không gian chiến lược bằng cách kết nối sâu hơn với những động lực phát triển mới của châu Á.
Theo ông, Ấn Độ đang nổi lên như một trung tâm công nghệ và nhân lực số mới toàn cầu trong khi Việt Nam đang nỗ lực chuyển dịch khỏi mô hình tăng trưởng lao động giá rẻ, hướng tới khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.
try{try{for(const iframe of document.querySelectorAll(“iframe[data-src]”)){iframe.removeAttribute(“sandbox”);iframe.setAttribute(“src”,iframe.getAttribute(“data-src”));}}catch(e){}}catch(e){console.log(“error_replace_script”,e);}
Giới phân tích cũng cho rằng trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang tái cấu trúc để giảm phụ thuộc vào Trung Quốc, tiềm năng hợp tác giữa hai nước là vô cùng lớn. Hai nước có thể cạnh tranh nhau trong thu hút FDI toàn cầu, nhưng cũng có thể bổ trợ nhau trong cùng một chuỗi cung ứng.
“Đây mới chỉ là khởi đầu của hành trình chung của hai nước. Bầu trời không phải là giới hạn với Ấn Độ và Việt Nam”, theo Đại sứ Sherpa.
Trong khi đó, ông Đặng Phúc Nguyên, người đang chờ đợi từng bước tiến trong đàm phán mở cửa cho sầu riêng Việt Nam vào thị trường Ấn Độ, nhìn nhận “nếu tận dụng tốt đà hợp tác này, cơ hội cho rau quả Việt sẽ rộng hơn”.
Quý đầu năm, Việt Nam xuất khẩu 122,93 tỷ USD hàng hóa, theo Cục Thống kê. Con số này cao hơn 19,1% so với cùng kỳ năm ngoái và mở rộng nhanh hơn mức tăng 10,6% của quý I/2025.
Tuy nhiên, việc duy trì phong độ tăng trưởng này trong ba quý còn lại không dễ, do xung đột tại Trung Đông khiến giá nhiên liệu, vận tải và kéo theo là nguyên vật liệu đầu vào leo thang.
Khảo sát chỉ số nhà quản trị mua hàng (PMI) tháng 3 của S&P Global cho biết một nửa doanh nghiệp được hỏi phản ánh chi phí đầu vào tháng qua tăng nhanh nhất kể từ tháng 4/2022. Họ phản ứng bằng cách nâng giá bán, với tốc độ cao nhất gần 15 năm, khiến đơn đặt hàng xuất khẩu mới quay đầu giảm.
Ông Andrew Harker, Giám đốc Kinh tế tại S&P Global Market Intelligence, chỉ ra diễn biến này phản ánh "những ảnh hưởng ngay lập tức và đáng kể" mà các nhà sản xuất tại Việt Nam phải đối diện.
Đáng chú ý, doanh nghiệp nội địa có dấu hiệu "ngấm đòn" trước. Trong kim ngạch xuất khẩu quý vừa qua, khu vực kinh tế trong nước chỉ góp 24,47 tỷ USD, giảm 16,6%. Trong khi, FDI và dầu thô gánh 80% kế quả, tăng trưởng 33,3%.
Khảo sát kết quả sản xuất kinh doanh quý I của Cục Thống kê cũng chỉ ra khối FDI đang lạc quan nhất, với 71,7% đánh giá tình hình tốt hơn và giữ ổn định. Ở khối doanh nghiệp nhà nước và tư nhân, tỷ lệ này lần lượt là 69,5% và 68,3%.
Ông Phạm Văn Việt, Chủ tịch HĐQT Công ty Việt Thắng Jean, xác nhận giá cả nguyên liệu và chi phí vận chuyển đều tăng. "Đã có dấu hiệu gián đoạn chuỗi cung ứng khi một số nhà cung cấp chỉ xác nhận đơn hàng mà không cam kết ngày giao hoặc giá cả", ông kể trong sự kiện gần đây.
Ngay cả với những ngành xuất khẩu không phụ thuộc nguyên liệu nước ngoài như trái cây, Chủ tịch Vina T&T Nguyễn Đình Tùng cho biết vẫn không tránh khỏi áp lực. "Chúng tôi cũng phải đối mặt với chi phí xăng dầu, kéo theo cơ sở hạ tầng logistics, vật tư và bao bì từ nhà cung cấp tăng", ông chỉ ra.
Để hạn chế tác động, duy trì đầu ra, một số doanh nghiệp tìm cách điều chỉnh sản phẩm và hướng đi của đơn hàng. Ông Tùng chỉ ra chiến sự làm tăng cước tàu và kéo dài thời gian vận chuyển đi châu Âu hoặc Mỹ tăng thêm 15 ngày.
Do đó, ông tập trung thêm vào các sản phẩm chế biến sâu để giảm phụ thuộc vào hàng tươi và chuyển đổi từ các thị trường xa sang các thị trường gần để giảm chi phí vận chuyển và tránh vùng xung đột. Hay Việt Thắng Jean trước đây xuất khẩu sang EU và Mỹ chiếm 60%, nhưng đã điều tiết giảm xuống còn khoảng 44%.
Doanh nghiệp vẫn cần thêm hỗ trợ. Khảo sát nhóm ngành công nghiệp chế biến, chế tạo của Cục Thống kê chỉ ra 48,7% doanh nghiệp kiến nghị ưu tiên kiểm soát và bình ổn giá năng lượng, nhằm giảm áp lực đầu vào.
Cùng với đó, sớm có giải pháp hỗ trợ tín dụng, đặc biệt là doanh nghiệp sản xuất, doanh nghiệp nông nghiệp, nhỏ và vừa, đang gặp khó trong xoay xở vốn lưu động. Đồng thời, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, tăng khả năng tiếp cận vốn cho các doanh nghiệp bị ảnh hưởng trực tiếp bởi biến động bên ngoài.
Một số giải pháp dài hơi hơn cũng được đặt ra. Là Phó chủ tịch Hội Dệt may - Thêu đan TP HCM, ông Phạm Văn Việt chỉ ra chuỗi cung ứng ngành này chưa tối ưu nên chi phí sản xuất cao hơn các nước khác khoảng 20%. Cùng với đó, công nghệ chưa tiên tiến khiến giá thành cao hơn từ 10-12% so với các nước đối thủ.
Khi giá đầu vào tăng vọt bào mòn thêm biên lợi nhuận mỏng manh, ông cho rằng cần nhanh chóng tăng liên kết chuỗi trong nước để chủ động nguồn nguyên liệu; đồng thời, cần cải thiện và thay đổi công nghệ để giảm giá thành.
Cuộc xung đột cũng làm tăng mối quan tâm đến các phương án vận tải giảm hoặc không phát thải. Ông Nhữ Đình Thiện, Tổng thư ký Hiệp hội Đại lý, Môi giới và Dịch vụ hàng hải Việt Nam khuyến nghị tăng đầu tư cho hoạt động thủy nội địa.
Chuyên gia chỉ ra Việt Nam có hơn 80.000 km sông ngòi, với khoảng 40.000 km có thể khai thác vận tải, nhưng vận tải thủy nội địa đóng góp chưa tới 20% sản lượng. Ông Thiện ví dụ việc vận chuyển một container ra khu vực Cái Mép bằng đường bộ có thể mất 4-5 triệu đồng và tốn nhiều thời gian do kẹt xe. Trong khi, một xà lan có thể chở từ 100 đến 200 container, giúp cắt giảm chi phí đáng kể.
Phương tiện điện cũng được tính đến. "Chúng tôi đang cố gắng chuyển đổi cơ sở hạ tầng logistics từ sử dụng xăng dầu sang dùng điện và lắp thêm các tấm pin mặt trời", ông Nguyễn Đình Tùng tại Vina T&T, cho biết.
Đã có triển vọng cho hướng đi này. Tại một hội nghị kinh doanh mới đây, ông Kevin Stuart Burrell, Giám đốc Điều hành khu vực Mekong của A.P. Moller - Maersk, cho biết đã đạt được chi phí vận hành đội xe tải điện bằng với xe xăng sau ba tháng thử nghiệm tại Việt Nam, dù chi phí đầu tư ban đầu gấp 2,5 lần xe xăng.
Theo ông Nguyễn Ngọc Hòa, Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TP HCM, việc hỗ trợ doanh nghiệp ứng phó với thách thức của xung đột Trung Đông không chỉ dừng ở các giải pháp ngắn hạn, mà cần hướng đến xây dựng một môi trường kinh doanh thực sự thuận lợi, nơi doanh nghiệp có thể yên tâm đầu tư dài hạn, đổi mới và phát triển bền vững.
"Đồng thời, Việt Nam cần có những cơ chế cụ thể hơn để hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa trong quá trình chuyển đổi, đặc biệt là về tài chính, công nghệ và nguồn nhân lực", ông nói tại một diễn đàn kinh tế tháng trước.
Đây được xem là diễn đàn để nhận diện thực trạng, đồng thời đề xuất giải pháp tăng cường liên kết sản xuất, tiêu thụ lúa gạo, hướng đến nâng cao giá trị hạt gạo và xây dựng thương hiệu cho Cà Mau cũng như khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Phát biểu khai mạc, ông Lê Văn Sử - Phó chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau - cho biết Cà Mau có nhiều tiềm năng phát triển ngư, nông, lâm nghiệp. Diện tích lúa toàn tỉnh hơn 185.000ha, trong đó khoảng 50% là mô hình lúa - tôm, sản lượng đạt khoảng 1,8 triệu tấn mỗi năm.
Tuy nhiên tỉ lệ liên kết sản xuất và tiêu thụ còn thấp, mới đạt khoảng 16,7% sản lượng. Tình trạng phá vỡ hợp đồng vẫn xảy ra, mối liên kết giữa các bên còn lỏng lẻo, thiếu ràng buộc pháp lý. Hạ tầng, logistics và cơ giới hóa chưa đồng bộ cũng là rào cản lớn.
Việc triển khai các mô hình lúa chất lượng cao, lúa an toàn, lúa hữu cơ và đặc biệt là mô hình lúa giảm phát thải bước đầu mang lại hiệu quả. Dù vậy quy mô còn hạn chế. Tỉnh đăng ký thực hiện 54.680ha lúa giảm phát thải đến năm 2030 nhưng hiện mới triển khai khoảng 1.380ha, liên kết tiêu thụ trong các mô hình này vẫn chưa ổn định.
Tại hội thảo, nhiều ý kiến đề xuất cần hoàn thiện cơ chế, chính sách hỗ trợ liên kết theo chuỗi giá trị; nâng cao năng lực quản trị hợp tác xã; thu hút doanh nghiệp đầu tư vùng nguyên liệu; đẩy mạnh ứng dụng khoa học - công nghệ, chuyển đổi số; phát triển các mô hình lúa chất lượng cao, phát thải thấp gắn với tăng trưởng xanh.
Tiến sĩ Trần Minh Hải - Phó hiệu trưởng Trường Chính sách công và Phát triển nông thôn - nhìn nhận nông nghiệp Việt Nam nhiều năm qua vẫn đối mặt nghịch lý "được mùa, rớt giá", chi phí đầu vào tăng cao, rủi ro thiên tai, dịch bệnh. Trong khi đó, nông dân dư thừa sản phẩm nhưng doanh nghiệp lại thiếu nguyên liệu đạt chuẩn.
Theo ông Hải, nguyên nhân nằm ở sản xuất còn manh mún, thiếu liên kết và chưa gắn với tín hiệu thị trường. Do đó phát triển chuỗi giá trị với sự tham gia của nông dân, hợp tác xã và doanh nghiệp là hướng đi tất yếu để giải bài toán bền vững.
Ở góc độ doanh nghiệp, cha đẻ thương hiệu gạo ST25 Hồ Quang Cua nhấn mạnh tầm quan trọng của việc đăng ký và bảo hộ thương hiệu. Theo ông, đây không chỉ là thủ tục hành chính mà là "lá chắn pháp lý" để bảo vệ sản phẩm, nhất là trong bối cảnh hội nhập.
Ông cảnh báo nếu không đăng ký bảo hộ tại thị trường xuất khẩu, doanh nghiệp có thể mất quyền sử dụng chính thương hiệu của mình ở nước ngoài, điều từng xảy ra với nhiều nông sản Việt Nam.
Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Cà Mau, liên kết sản xuất và tiêu thụ giúp giảm phụ thuộc thương lái, cắt giảm khâu trung gian, tăng lợi nhuận cho các bên và giúp người tiêu dùng tiếp cận sản phẩm an toàn, rõ nguồn gốc với giá hợp lý.
Hiện đã có nhiều doanh nghiệp tham gia chuỗi giá trị, cung cấp giống, kỹ thuật và hỗ trợ tiêu thụ sản phẩm. Tuy nhiên số doanh nghiệp đầu tư sâu còn ít. Tình trạng phá vỡ hợp đồng khi giá thị trường biến động vẫn phổ biến.
Một khó khăn khác là hạ tầng phục vụ sản xuất lúa chất lượng cao, phát thải thấp chưa đồng bộ. Nhiều công trình thủy lợi, giao thông nội đồng xuống cấp, ảnh hưởng đến việc chủ động nước, cơ giới hóa và vận chuyển nông sản.
Để khắc phục, ngành nông nghiệp tỉnh đề xuất khuyến khích doanh nghiệp liên kết với hợp tác xã trên cơ sở cùng có lợi; thúc đẩy tín dụng theo chuỗi giá trị; nhân rộng các mô hình hiệu quả.
Phát biểu bế mạc, ông Lê Văn Sử - Phó chủ tịch UBND tỉnh Cà Mau - cho biết hoạt động liên kết thời gian qua đã có chuyển biến tích cực, diện tích liên kết mở rộng, số doanh nghiệp và hợp tác xã tham gia tăng, góp phần nâng giá trị sản xuất và ổn định đầu ra.
Thời gian tới, Cà Mau xác định phát triển ngành lúa gạo theo hướng bền vững, chất lượng cao, phát thải thấp, thích ứng biến đổi khí hậu. Trong đó tập trung phát triển mô hình sinh thái như tôm - lúa, ứng dụng khoa học - công nghệ, chuyển đổi số, xây dựng vùng nguyên liệu tập trung có truy xuất nguồn gốc.
Tỉnh cũng xác định đẩy mạnh liên kết "4 nhà", trong đó hợp tác xã là cầu nối tổ chức sản xuất, doanh nghiệp dẫn dắt thị trường, nông dân là chủ thể sản xuất.
Tại hội thảo, các doanh nghiệp và hợp tác xã đã ký kết nhiều biên bản ghi nhớ hợp đồng bao tiêu và liên kết sản xuất, mở ra kỳ vọng cải thiện chuỗi giá trị ngành lúa gạo trong thời gian tới.
Phiên họp thường niên sáng nay của Tập đoàn Thiên Long (TLG) thu hút nhiều cổ đông tham dự, ghế ngồi được lắp kín từ sớm. Không khí tương tác trong phần đối thoại với ban lãnh đạo rất sôi động. CEO Trần Phương Nga cho biết số lượng câu hỏi nhận về trong năm nay "rất nhiều" so với các năm trước.
Khi được cổ đông hỏi về lý do bán cổ phần cho Tập đoàn Kokuyo (Nhật Bản), ông Cô Gia Thọ - Chủ tịch Hội đồng quản trị - cho biết khá yên tâm vì đối tác nhận chuyển nhượng là Nhật Bản. Theo ông, Kokuyo là doanh nghiệp rất lâu đời và cũng có văn hóa trường tồn.
"Một phần nào đó, tôi cũng cảm thấy an tâm khi Thiên Long giao cho một công ty như vậy", ông Thọ nói.
Chia sẻ với VnExpress, ông Cô Gia Thọ cho biết Kokuyo là một doanh nghiệp lâu năm, nên khi hợp tác với họ, ông cũng muốn Thiên Long có thể trở thành một thương hiệu có tuổi đời lâu dài tương tự. Hơn hết, khi xem xét các thương vụ trước đây của Kokuyo, ông Thọ thấy phong cách của họ là đầu tư nhưng vẫn tìm cách giữ vững thương hiệu địa phương, chứ không chỉ hướng tới mục đích thâu tóm thông thường.
Kokuyo là tập đoàn hơn 100 năm trong lĩnh vực văn phòng phẩm và giải pháp doanh nghiệp, hệ thống toàn cầu rất mạnh. Thực tế, đây cũng là đối tác mà Thiên Long đã hợp tác gia công theo thiết kế của họ suốt nhiều năm qua.
Tại Việt Nam, Kokuyo đang cung cấp nhiều dòng sản phẩm, đặc biệt là tập vở Campus. Nhìn chung, ông Thọ cho rằng đây có thể là một bước tiến quan trọng trong chiến lược toàn cầu hóa mà Thiên Long đã kiên trì theo đuổi trong thời gian qua. Thương vụ cũng là điều kiện để TLG học hỏi các mô hình quản trị, đẩy mạnh cải tiến sản phẩm và mở rộng thị trường ra khu vực ASEAN cùng các quốc gia khác, qua đó đưa sản phẩm "Made in Vietnam" đến với nhiều người tiêu dùng trên thế giới.
Tập đoàn Thiên Long thành lập năm 1981, được ông Cô Gia Thọ gầy dựng từ một xưởng sản xuất nhỏ thành doanh nghiệp đầu ngành bút viết và văn phòng phẩm. Thiên Long nổi tiếng với sản phẩm bút bi cùng tên và các thương hiệu khác như văn phòng phẩm Flexoffice, bút cao cấp Bizner hay dụng cụ mỹ thuật Colokit. Nhờ tham gia xuất khẩu từ sớm, sản phẩm của họ còn hiện diện trên 75 quốc gia và vùng lãnh thổ
Cuối năm trước, Đầu tư Thiên Long An Thịnh, cổ đông lớn nhất sở hữu 46,82% vốn TLG, cho biết đang đàm phán với Tập đoàn Kokuyo để chuyển nhượng toàn bộ cổ phần. Bên cạnh đó, Kokuyo dự kiến thực hiện chào mua công khai thêm 18,19% vốn TLG. Nếu thành công, tỷ lệ sở hữu của họ sẽ đạt 65,01% và đưa Thiên Long trở thành công ty con.
Trong phần đối thoại với cổ đông sáng nay, ông Cô Gia Thọ cũng nói thêm rằng ông xem Thiên Long là "đứa con tinh thần" trong suốt 45 năm sự nghiệp của mình. Do đó, ông luôn tự thấy mình có trách nhiệm hỗ trợ nhà đầu tư mới để tiếp tục đưa sự nghiệp của tập đoàn phát triển bền vững. Với tư cách là người sáng lập, ông nhấn mạnh mình có "rất nhiều tình cảm và trách nhiệm lớn" với sự phát triển của TLG.
"Dù trong hoàn cảnh nào cũng sẽ luôn lo lắng cho sự phát triển của tập đoàn là chính và đặt lợi ích của cổ đông lên trên hết", ông khẳng định.
Khi được hỏi về việc tham gia vào hội đồng quản trị của đơn vị khác, như Nhà sách Phương Nam, ông nói việc này không làm thay đổi hay "làm mờ đi" những ưu tiên của ông dành cho Thiên Long. Ông cho biết trong tương lai gần, bản thân sẽ có trách nhiệm hỗ trợ đối tác để thực hiện tốt các công tác điều hành và phát triển công ty.
Năm nay, TLG lên kế hoạch có doanh thu 4.400 tỷ đồng, tăng hơn 5% so với năm trước. Song, lợi nhuận sau thuế có thể giảm nhẹ hơn 1% về 440 tỷ đồng do họ phải đầu tư cho kế hoạch tăng trưởng dài hạn và áp lực chi phí nguyên vật liệu đầu vào.
Tập đoàn này nói sẽ bám sát chiến lược "glocalization", tức lấy thế mạnh ở thị trường nội địa (local) áp dụng ra quốc tế (global) và ngược lại. Họ tập trung nguồn lực mở rộng thị trường quốc tế, nâng cao giá trị sản phẩm và tối ưu năng lực vận hành.