Song, không phải cách chế biến nào cũng giữ trọn giá trị dinh dưỡng vốn có. Thực tế cho thấy cùng một loại thực phẩm nhưng nếu nấu sai cách, dưỡng chất có thể giảm đi đáng kể. Điều này đặc biệt đúng với bông cải xanh, khi một số hợp chất có lợi dễ bị phá hủy dưới tác động của nhiệt độ cao hoặc thời gian nấu kéo dài, theo trang sức khỏe Verywell Health.
Bà Stephani Johnson, chuyên gia dinh dưỡng tại Mỹ, cho biết việc nấu bông cải xanh quá lâu làm suy giảm các dưỡng chất trong bông cải xanh, trong đó có sulforaphane.
Theo đó, quá trình nấu chín bông cải xanh có thể ức chế enzyme myrosinase. Đây là enzyme cần thiết để tạo ra sulforaphane. Khi nấu ở nhiệt độ cao hoặc trong thời gian dài, lượng sulforaphane giảm đáng kể.
Một nghiên cứu đăng trên Journal of Agricultural and Food Chemistry cũng cho thấy việc cắt nhỏ trước và xào sơ có thể giúp giữ lại nhiều sulforaphane, một chất chống oxy hóa quan trọng.
Xào sơ bông cải xanh giúp duy trì hoạt động của enzyme. Nhờ đó, lượng sulforaphane trong món ăn cao hơn.
Ngoài ra, việc cắt bông cải xanh thành miếng nhỏ khoảng 90 phút trước khi xào giúp đạt hiệu quả tốt nhất.
Việc cắt nhỏ bông cải xanh giúp kích hoạt enzyme myrosinase, từ đó chuyển hóa hợp chất glucoraphanin thành sulforaphane trước khi nhiệt độ cao làm enzyme này mất hoạt tính.
Sulforaphane là hợp chất tự nhiên có trong các loại rau như bông cải xanh, súp lơ và cải xoăn. Chất này có tác dụng chống oxy hóa và kháng viêm.
Bà Johnson cho biết sulforaphane giúp cơ thể sản sinh enzyme chống oxy hóa. Các enzyme này trung hòa gốc tự do và bảo vệ tế bào khỏi tổn thương. Chất này còn hỗ trợ phòng ngừa ung thư bằng cách ức chế sự phát triển của tế bào bất thường, giảm viêm và giảm stress oxy hóa.
Sulforaphane cũng hỗ trợ gan giải độc, giúp ổn định huyết áp, từ đó bảo vệ hệ tim mạch.
Bông cải xanh cung cấp nhiều vitamin và khoáng chất như vitamin C, K, A, kali, magiê, canxi và sắt.
Thực phẩm này giàu chất xơ, hỗ trợ tiêu hóa và chứa nhiều chất chống oxy hóa như sulforaphane, lutein và zeaxanthin.
Theo bà Johnson, bông cải xanh luôn là thực phẩm ít calo và giàu chất xơ, phù hợp cho chế độ ăn lành mạnh.
Việc thay đổi cách chế biến giúp tăng thêm lợi ích dinh dưỡng, nhưng không cần quá khắt khe. Ăn bông cải xanh dưới bất kỳ hình thức nào vẫn tốt cho sức khỏe. Cách ăn sống hoặc nấu sơ thường giúp giữ lại nhiều dưỡng chất hơn.
Sáng 12/5, chiến dịch cộng đồng "Vì một kỷ nguyên cao khỏe" do Viện Y học ứng dụng Việt Nam phối hợp với các đơn vị tổ chức đã diễn ra tại Trường Tiểu học Hoàng Diệu (Hà Nội), với sự tham gia của hơn 1.500 học sinh, phụ huynh.
Theo TS.BS Trương Hồng Sơn, Viện trưởng Viện Y học ứng dụng Việt Nam, chiều cao trung bình của thanh thiếu niên Việt Nam hiện nằm trong nhóm thấp trên thế giới. Chiều cao nam giới Việt Nam ở tuổi 19 đứng thứ 154, nữ đứng thứ 146 trong số 201 quốc gia và vùng lãnh thổ.
Theo chuyên gia này, chiều cao của trẻ chịu tác động lớn bởi bốn yếu tố: di truyền đóng góp 23%, trong khi dinh dưỡng quyết định tới 32%, cùng với vận động, giấc ngủ và môi trường.
“Điều này có nghĩa là hơn 75% tiềm năng chiều cao của trẻ hoàn toàn có thể chủ động tác động thông qua lối sống khoa học”, ông cho biết.
Tuy nhiên, nhiều phụ huynh cũng chưa đánh giá đúng tình trạng phát triển chiều cao của con em mình, cho rằng trẻ thấp là do di truyền.
Độ tuổi 6-12 là giai đoạn “vàng” trong phát triển chiều cao của trẻ. Đây là thời điểm nền tảng. Một chế độ dinh dưỡng cân bằng, kết hợp với vận động hợp lý và nghỉ ngơi khoa học sẽ giúp trẻ phát triển tối ưu về thể chất, đặc biệt là chiều cao.
Chuyên gia cũng khuyến khích trẻ nên duy trì 4 thói quen gồm vận động 60 phút mỗi ngày, dinh dưỡng đầy đủ, ngủ đủ giấc và bổ sung vitamin D hợp lý.
Chuyên gia dinh dưỡng thông tin thêm, tất cả các môn thể thao như bơi lội, võ thuật, đạp xe, cầu lông, bóng chuyền hay bóng rổ đều mang lại lợi ích cho phát triển thể lực và chiều cao. Các hoạt động ngoài trời cũng được khuyến khích để trẻ hấp thụ vitamin D, ăn ngon, ngủ ngon, giúp phát triển chiều cao.
Bên cạnh đó, phụ huynh nên chủ động kiểm tra và đánh giá chiều cao của trẻ dựa trên chuẩn WHO, qua đó giúp cha mẹ biết được tình trạng phát triển của trẻ và đưa ra gợi ý tối ưu chiều cao phù hợp với từng thể trạng và độ tuổi.
Tại sự kiện, chuyên gia cũng giới thiệu đến các phụ huynh bài tập thể dục Maxd Dance - bài tập vận động đơn giản, thú vị, không chỉ giúp cha mẹ và bé dễ ghi nhớ công thức mà còn khuyến khích hình thành thói quen vận động mỗi ngày một cách tự nhiên.
Chiến dịch đặt mục tiêu tiếp cận hơn một triệu phụ huynh trên cả nước, hướng tới cải thiện chiều cao trung bình của thế hệ trẻ Việt Nam.
Chiến lược Quốc gia về Dinh dưỡng 2021-2030, tầm nhìn 2045 đặt mục tiêu nâng chiều cao trung bình thanh niên 18 tuổi lên 2-2,5 cm (nam) và 1,5-2 cm (nữ) so với hiện nay.
TS Lê Thị Hương Giang, Trưởng Khoa Tiết chế Dinh dưỡng, Bệnh viện 19-8 (Bộ Công an), cho biết nước mía là nguồn đường hấp thu nhanh, tiềm ẩn nhiều rủi ro nếu sử dụng không đúng cách.
Theo khuyến nghị của Tổ chức Y tế Thế giới (WHO), lượng đường tự do nên dưới 25g mỗi ngày để có lợi cho sức khỏe. Tuy nhiên, một cốc nước mía khoảng 240 ml cung cấp 90-120 kcal, tương đương 20-25 g đường.
"Như vậy, chỉ một cốc nước mía đã gần chạm ngưỡng đường khuyến nghị trong ngày", tiến sĩ nói.
Đường trong nước mía tồn tại ở dạng lỏng, không có chất xơ đi kèm nên được hấp thu rất nhanh vào máu, làm tăng đường huyết và kích thích tiết insulin mạnh. Dạng đường này không tạo cảm giác no và không làm giảm lượng ăn ở bữa sau, khiến người uống dễ nạp thêm năng lượng mà không nhận ra, tăng nguy cơ béo phì, đái tháo đường và các rối loạn chuyển hóa.
Nước mía thường được uống rất lạnh. Nhiệt độ thấp làm giảm cảm nhận vị ngọt, khiến người uống có cảm giác "không ngọt lắm" và dễ uống nhiều hơn bình thường. Đây là một "cái bẫy" cảm giác khá phổ biến, khiến lượng đường nạp vào thực tế cao hơn nhiều so với nhận thức.
"Bạn cho rằng mình chỉ uống nước giải khát nhẹ, nhưng thực chất đã tiêu thụ lượng đường tương đương hoặc thậm chí không kém nước ngọt có gas", tiến sĩ nói.
Ở nhiều quầy hàng, mía được cạo sẵn vỏ và để ngoài trời trong thời gian dài. Khi mất lớp vỏ bảo vệ tự nhiên, phần ruột mía giàu đường lộ ra ngoài, trở thành môi trường thuận lợi cho vi khuẩn phát triển, đặc biệt trong điều kiện nhiệt độ cao của mùa hè.
Ngoài ra, bụi, ruồi, tay người và dụng cụ chế biến không đảm bảo, nguyên liệu có thể bị ô nhiễm trước khi ép. Nguồn nước đá có thể không đảm bảo vệ sinh có thể gây đầy bụng, tiêu chảy, đau bụng, lâu dài ảnh hưởng đến hệ vi sinh đường ruột và tiêu hóa.
Tiến sĩ Giang khuyến cáo mỗi lần chỉ nên dùng một cốc nhỏ khoảng 200 ml, không uống hàng ngày và không dùng thay nước lọc.
Người mắc hoặc có nguy cơ đái tháo đường nên hạn chế vì nước mía làm tăng đường huyết nhanh, khó kiểm soát. Phụ nữ mang thai cần lưu ý nguy cơ đái tháo đường thai kỳ cũng như nguy cơ nhiễm khuẩn từ quy trình chế biến không đảm bảo.
Người có hệ tiêu hóa nhạy cảm, đặc biệt là hội chứng ruột kích thích, có thể gặp tình trạng đầy hơi, chướng bụng hoặc tiêu chảy do lượng fructose cao.
Không nên uống nước mía trong bữa ăn, dễ dẫn đến tích lũy năng lượng dư thừa. Uống vào buổi tối có thể gây năng lượng dư thừa, khó được tiêu hao và có thể gây tiểu đêm do tính chất lợi tiểu nhẹ. Uống khi đói có thể làm tăng đường huyết đột ngột rồi giảm nhanh, gây cảm giác mệt mỏi.
Không uống khi đang sử dụng các thuốc điều trị đặc biệt nếu chưa có tư vấn y tế. Nên lựa chọn những cơ sở đảm bảo vệ sinh, ưu tiên nơi ép mía trực tiếp, nguyên liệu còn nguyên vỏ. Nước mía sau khi ép nên được uống ngay, không để lâu ngoài môi trường để tránh biến chất.
Đối với người mắc tiểu đường, kiểm soát đường huyết là yếu tố quan trọng để phòng biến chứng tim mạch, thần kinh và thận. Tuy nhiên, trong chế độ ăn hằng ngày, trái cây, đặc biệt là chuối, thường gây tranh cãi vì chứa nhiều đường và tinh bột.
Carbohydrate là dưỡng chất tác động mạnh nhất đến đường huyết. Khi ăn, carb sẽ được chuyển hóa thành đường và đi vào máu. Một quả chuối cỡ vừa (khoảng 126 g) chứa khoảng 29 g carb và 15 g đường. Vì vậy, ăn chuối có thể làm tăng đường huyết. Tuy nhiên, mức độ tăng không giống nhau ở mỗi người và còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác.
Vai trò của chất xơ trong chuối
Dù chứa đường, chuối cũng cung cấp khoảng 3 g chất xơ mỗi quả. Đây là yếu tố giúp làm chậm quá trình hấp thụ đường vào máu. Nhờ đó, đường huyết không tăng đột ngột mà với tốc độ từ từ, giúp duy trì năng lượng ổn định. Đây cũng là lý do đường từ trái cây nguyên quả tốt hơn các loại đường tinh luyện trong bánh kẹo vốn hoàn toàn thiếu hụt chất xơ.
Chỉ số đường huyết của chuối
Chỉ số đường huyết (GI) cho biết mức độ làm tăng đường máu của thực phẩm. GI gồm ba mức: thấp khi từ 55 trở xuống, trung bình khi dao động 56-69 và cao khi từ 70 trở lên. Chuối có GI từ thấp đến trung bình (khoảng 31-62). Vì vậy, chuối không phải là thực phẩm gây tăng đường huyết quá nhanh nhưng vẫn cần kiểm soát lượng ăn.
Sự khác nhau giữa chuối xanh và chuối chín
Độ chín của chuối ảnh hưởng lớn đến đường huyết. Chuối xanh chứa rất ít đường nhưng lại giàu tinh bột kháng - một dạng tinh bột không bị tiêu hóa ngay tại dạ dày và ruột non. Loại tinh bột này hoạt động tương tự chất xơ hòa tan, giúp làm chậm quá trình chuyển hóa thành đường, từ đó hạn chế tăng đường huyết sau ăn.
Ngoài ra, tinh bột kháng còn có lợi cho hệ vi sinh đường ruột, cải thiện độ nhạy insulin và giảm viêm, hữu ích với người bệnh tiểu đường type 2. Tinh bột từ chuối có thể giúp giảm đường huyết lúc đói và kéo dài cảm giác no.
Ngược lại, khi chuối chín, phần lớn tinh bột kháng sẽ chuyển thành đường tự nhiên như glucose và fructose. Vì vậy, chuối càng chín, lượng đường càng cao, càng dễ làm tăng đường huyết nhanh hơn so với chuối còn hơi xanh.
Cách ăn chuối an toàn cho người tiểu đường
Hầu hết các tổ chức y tế đều khuyến nghị người tiểu đường nên ăn trái cây như một phần của chế độ ăn lành mạnh. Chuối cung cấp nhiều dưỡng chất quan trọng như kali, vitamin B6 và chất chống oxy hóa, tốt cho tim mạch và hệ thần kinh. Tuy nhiên, người cần kiểm soát carb nghiêm ngặt nên cân nhắc kỹ về khẩu phần.
Để hạn chế ảnh hưởng đến đường huyết, người tiểu đường nên chọn chuối vừa chín, tránh chuối chín quá, ăn khẩu phần nhỏ thay vì một quả lớn. Kết hợp với protein hoặc chất béo như sữa chua không đường, hạt. Không ăn chuối khi đói và theo dõi đường huyết sau khi ăn để điều chỉnh phù hợp.