Cuối tháng 4, Ngọc Minh, 27 tuổi, ở Hà Nội mở bảng Excel đối chiếu các khoản ứng trước để mua đồ ăn uống buổi chiều cho đồng nghiệp. Số tiền cần truy thu lên tới gần 10 triệu đồng.
Làm nhân viên truyền thông, Minh cho biết nửa năm qua cô nhận việc đặt đồ ăn cho 7 người trong phòng để tận dụng mã giảm giá. Mỗi ngày lúc 14h, cô gom yêu cầu, gọi món và nhận đồ. “Ban đầu tôi tự nguyện. Giờ tôi thấy đây là gánh nặng khi phải phụ trách cà phê sáng, đồ tráng miệng buổi trưa và trà chiều”, Minh nói.
Vì nhiều người nhờ mua, cô phải lập bảng tính. Nhiều lần quên ghi sổ, cô tự bỏ tiền túi để bù. Việc thu tiền gặp trở ngại do đồng nghiệp trả lắt nhắt hoặc đợi nhắc nhiều lần. Minh cho biết có những tháng nhận lương chỉ để bù vào khoản ứng mua quà vặt cho phòng.
Bảo Trang, 22 tuổi, cộng tác viên công ty thiết kế tại TP HCM, cũng đối mặt bài toán chi phí cho “văn hóa trà chiều”. Những ngày đầu, Trang được đồng nghiệp mời. Về sau, cô tự trả 60.000-70.000 đồng mỗi ngày cho thức uống, chưa tính chi phí liên hoan.
Trang cho biết toàn bộ thu nhập cộng tác viên khoảng 3 triệu đồng mỗi tháng đều dành cho ăn uống cùng đồng nghiệp. Cô tham gia vì sợ mọi người đánh giá là “không hòa đồng” và xa lánh. Trong các buổi tụ tập, chủ đề chính thường là nói xấu các phòng ban khác. Môi trường này khiến cô không muốn gắn bó lâu dài.
“Văn hóa trà chiều” đang là vấn đề khó nói, gây khó chịu của nhiều dân văn phòng. Gần đây trên mạng xã hội xuất hiện một video về chủ đề này thu hút hơn 7 triệu lượt xem và hàng chục nghìn bình luận. Nhóm nhân sự mới xem đó là gánh nặng tài chính. Trên nền tảng Threads, chủ đề “áp lực góp quỹ trà chiều” cũng thu hút gần 100.000 lượt quan tâm.
Báo cáo The Social Culture Report 2025 chỉ ra hơn 1/3 nhân viên toàn cầu cảm thấy khó chịu vì bị ép buộc tham gia các buổi tụ tập công sở, trong đó Gen Z chịu áp lực lớn nhất. Tại Việt Nam, khảo sát của Cimigo cho thấy hơn 70% nhân viên văn phòng thường xuyên gọi trà sữa theo nhóm.
Cố vấn tài chính Nguyễn Thị Thu Hương, Công ty Cổ phần Tư vấn đầu tư và Quản lý tài sản FIDT, cho biết thói quen đặt đồ ăn vặt ở văn phòng xuất phát từ yếu tố tâm lý và văn hóa tập thể. Môi trường công sở nhiều áp lực làm tăng nhu cầu tiêu thụ thức ăn xoa dịu tinh thần (comfort food). Bên cạnh đó, hiệu ứng đám đông tác động khiến khao khát hòa nhập lấn át nhu cầu thực tế của nhân viên. “Nếu không kiểm soát, thói quen này tạo ra vòng lặp: Áp lực công việc dẫn đến chi tiêu, chi tiêu gây áp lực tài chính, từ đó phát sinh căng thẳng mới”, bà Hương nói.
Dưới góc độ quản trị, chuyên gia nhân sự Bùi Đoàn Chung, người sáng lập Cộng đồng Nghề nhân sự Việt Nam, cho biết văn hóa trà chiều mang tính hai mặt. Hoạt động này giúp giảm căng thẳng và tăng thấu hiểu nội bộ. Tuy nhiên, các buổi tụ tập tự phát, mang tính ép buộc ngầm dễ trở thành gánh nặng cho người mới, hoặc tạo kẽ hở cho những câu chuyện phiếm sai lệch chuẩn mực. Dù vậy, nếu được tổ chức dựa trên sự tôn trọng, thói quen này vẫn phát huy giá trị.
Chu Linh, 24 tuổi, ở Hà Nội xem trà chiều là cơ hội gắn kết. Đều đặn hai buổi mỗi ngày, Linh phụ trách gọi đồ cho 10 đến 30 đồng nghiệp. Để không ảnh hưởng giờ làm việc, cô lập nhóm chat riêng để mọi người chọn món, phân công người gọi và nhận đồ.
Khi không đủ tài chính ứng trước hoặc không có nhu cầu, Linh từ chối và được tập thể tôn trọng. “Nhiều lần tôi được các anh chị mời”, Linh nói. Cô cho biết những phút giải lao giúp cô học hỏi kinh nghiệm và tháo gỡ khúc mắc chuyên môn.
Tương tự, Tú Hảo, 35 tuổi, ở Hà Nội từng né tránh tụ tập do duy trì chế độ ăn kiêng. Về sau, Hảo chia sẻ thẳng thắn về chế độ dinh dưỡng cá nhân. “Khi hiểu vấn đề, mọi người chủ động ưu tiên đặt những món lành mạnh để tôi ăn chung”, cô kể.
Dưới góc độ quản lý, chị Trần Tuyết, 32 tuổi, trưởng phòng Nhân sự một công ty truyền thông ở TP HCM, cho biết doanh nghiệp có thể chủ động định hướng. Với 90% nhân sự ở độ tuổi 20-25, công ty của Tuyết bố trí khu vực sinh hoạt chung có sẵn dụng cụ làm đồ ăn nhẹ.
“Thay vì gọi đồ bên ngoài, nhân viên được khuyến khích đóng góp đồ ăn vặt vào tủ chung”, Tuyết nói. Công ty cũng bố trí không gian trò chuyện riêng để không ảnh hưởng đến người đang làm việc.
Để giải bài toán chi tiêu, cố vấn tài chính Thu Hương đề xuất quy tắc “trả tiền cho mình trước”. Khi nhận lương, người lao động cần trích tối thiểu 10-20% cho tiết kiệm và đầu tư, sau đó trích 10-15% vào tài khoản giải trí. “Khi quỹ giải trí hết tiền, bạn buộc phải dừng các buổi ăn vặt. Cách làm này giúp kiểm soát tài chính mà không gây cảm giác tội lỗi”, bà Hương nói.
Để nói “không” mà không mất lòng, chuyên gia giao tiếp Tô Quỳnh Mai (Hà Nội) đưa ra nguyên tắc từ chối tình huống, không từ chối con người. Mọi người nên thiết lập ranh giới ngay từ đầu bằng thái độ lịch thiệp.
Bà Mai gợi ý các mẫu câu như: “Em đang hạn chế đồ ngọt nhưng vẫn ra ngồi trò chuyện cùng mọi người”, hoặc “Dạo này em đang cân đối chi tiêu nên không tham gia thường xuyên, dịp đặc biệt em sẽ góp vui”. Việc giữ thái độ nhất quán giúp đồng nghiệp hiểu phong cách cá nhân, tránh việc phải giải thích nhiều lần.
Về phía doanh nghiệp, chuyên gia nhân sự Bùi Đoàn Chung cho biết nếu xác định trà chiều là hoạt động gắn kết, tổ chức cần lập kế hoạch bài bản và cấp ngân sách minh bạch.
“Tổ chức chỉ phát triển lành mạnh khi mọi hoạt động hướng tới kết quả thực tế và tôn trọng sự đa dạng”, ông Chung nói.
Kế hoạch Chương trình Bảo đảm mức sinh thay thế đến năm 2030 vừa được Bộ Y tế ban hành đã đưa ra một mục tiêu đáng chú ý: nâng tổng tỉ suất sinh trung bình khoảng 2% mỗi năm. Đây được xem là bước đi quan trọng trong bối cảnh mức sinh tại Việt Nam đang rơi xuống dưới ngưỡng thay thế và có xu hướng giảm kéo dài.
Theo kế hoạch thực hiện do Bộ trưởng Bộ Y tế Đào Hồng Lan kí ban hành, việc gia tăng mức sinh không chỉ nhằm cải thiện về số lượng mà còn hướng tới nâng cao chất lượng dân số, bảo đảm nguồn nhân lực cho phát triển bền vững trong tương lai.
Các giải pháp được đặt ra mang tính tổng thể, từ truyền thông thay đổi nhận thức, hoàn thiện cơ chế chính sách đến mở rộng dịch vụ chăm sóc sức khỏe sinh sản.
Một trong những yêu cầu cụ thể là hơn 95% cặp vợ chồng trong độ tuổi sinh đẻ phải được tiếp cận đầy đủ thông tin liên quan đến hôn nhân, sinh con và duy trì mức sinh hợp lí. Đồng thời, tất cả các tỉnh, thành phố đều phải xây dựng và triển khai chính sách hỗ trợ sinh con, nuôi con phù hợp với điều kiện thực tế từng địa phương.
Kế hoạch cũng nhấn mạnh việc rà soát, điều chỉnh hệ thống chính sách dân số hiện hành. Những quy định không còn phù hợp, đặc biệt là các nội dung mang tính hạn chế sinh, sẽ được xem xét sửa đổi hoặc bãi bỏ.
Song song với đó là đề xuất xây dựng các quy định khuyến khích, đề cao vai trò nêu gương của cán bộ, đảng viên trong việc xây dựng gia đình hạnh phúc, sinh con và nuôi dạy con tốt.
Ở cấp địa phương, các chính sách hỗ trợ sẽ được thiết kế linh hoạt theo điều kiện kinh tế - xã hội và khả năng ngân sách, ưu tiên cho những khu vực có mức sinh thấp hoặc các nhóm dân tộc thiểu số rất ít người. Nhiều giải pháp cụ thể cũng được đưa ra như hỗ trợ chi phí kế hoạch hóa gia đình cho nhóm yếu thế, mở rộng đối tượng thụ hưởng chính sách, đồng thời cải thiện khả năng tiếp cận dịch vụ.
Đáng chú ý, chương trình hướng đến thí điểm và nhân rộng các chính sách hỗ trợ các cặp vợ chồng sinh đủ hai con, khuyến khích phụ nữ sinh đủ hai con trước 35 tuổi.
Bên cạnh đó là các giải pháp tạo môi trường thuận lợi cho việc lập gia đình và sinh con như phát triển dịch vụ hỗ trợ chăm sóc trẻ, xây dựng hệ thống trông giữ trẻ tại khu công nghiệp, khu đô thị, hay hỗ trợ phụ nữ quay trở lại làm việc sau sinh.
Các chính sách xã hội liên quan đến việc làm, nhà ở, giáo dục và y tế cũng sẽ được nghiên cứu, điều chỉnh nhằm tác động tích cực đến quyết định sinh con của người dân, đặc biệt là giới trẻ, qua đó hạn chế tình trạng kết hôn muộn, sinh con muộn hoặc sinh ít con.
Theo Bộ Y tế, trên phạm vi toàn quốc, mức sinh xuống thấp dưới mức sinh thay thế, giảm từ 2,11 con/phụ nữ (2021) xuống 1,91 con/phụ nữ (2024) và 1,93 con/phụ nữ (2025), không đạt mục tiêu duy trì vững chắc mức sinh thay thế trên toàn quốc giai đoạn 2020-2025.
Sau ngày 1/7/2025, theo số liệu của Cục Thống kê (Bộ Tài chính), số liệu về mức sinh năm 2025: 11/34 tỉnh có mức sinh dưới 2,0 con/phụ nữ, 19/34 tỉnh có mức sinh từ 2,2 con/phụ nữ trở lên và 4/34 tỉnh có mức sinh xung quanh mức sinh thay thế từ 2,0 - 2,2 con/phụ nữ.
Kết quả đánh giá các mục tiêu Chương trình Điều chỉnh mức sinh cho thấy, xu hướng giảm sinh đang diễn ra trên phạm vi rộng cả ở nơi có mức sinh cao cũng như nơi có mức sinh thấp. Dự báo đến năm 2030 khó đảm bảo mục tiêu duy trì mức sinh thay thế trên toàn quốc. Chính vì vậy, việc triển khai đồng bộ các giải pháp ngay từ giai đoạn hiện nay được coi là yếu tố then chốt để giữ ổn định cơ cấu dân số và bảo đảm phát triển bền vững trong dài hạn.
Tiến sĩ, đại biểu Quốc hội Trịnh Thị Tú Anh cho rằng với cháu bé 4 tuổi tại Hà Nội, trước đó là bé gái 8 tuổi tại TP.HCM, hay bé trai 3 tuổi bị ghim đinh vào đầu, mỗi trường hợp đều phản ánh một mô thức giống nhau đến đáng sợ. Đó là đứa trẻ hoàn toàn phụ thuộc và bất lực, người có nghĩa vụ bảo vệ chính là người gây ra bạo lực và hệ thống xung quanh không phát hiện, hoặc phát hiện quá muộn để cứu vãn.
* Có một thực tế phần lớn các vụ bạo hành trẻ em thời gian qua đều xảy ra trong phạm vi gia đình hoặc nơi ở khép kín, khiến việc phát hiện gặp nhiều khó khăn. Trẻ nhỏ lại hoàn toàn lệ thuộc vào người lớn nên không có khả năng phản kháng hay cầu cứu. Thực trạng này đặt ra câu hỏi phải chăng đang có những khoảng trống đáng lo ngại trong môi trường sống, giáo dục và cơ chế bảo vệ trẻ em hiện nay?
- Bạo hành trong gia đình có đặc tính phân biệt với hầu hết các dạng bạo lực khác là xảy ra trong không gian được che chắn bởi quan niệm về sự riêng tư gia đình.
Đây là một quan niệm vừa có giá trị văn hóa chính đáng, vừa bị lạm dụng để che giấu tội ác. Đứa trẻ bị bạo hành, đặc biệt khi còn quá nhỏ, không có ai để cầu cứu bởi người các em phụ thuộc hoàn toàn về ăn uống, chỗ ở và cảm xúc chính là người đang gây hại cho các em. Đây là một bẫy cấu trúc, không phải chỉ là bất hạnh cá nhân.
Bẫy đó được vận hành bởi ít nhất ba khoảng trống song song tồn tại trong hệ thống hiện nay. Khoảng trống đầu tiên là năng lực nhận diện. Giáo viên mầm non và tiểu học là những người tiếp xúc thường xuyên nhất với trẻ em ngoài gia đình, nhưng tại phần lớn địa phương, họ chưa được đào tạo bài bản để phân biệt dấu hiệu bạo hành.
Vết thương ở vị trí bất thường, hành vi thu mình đột ngột, biểu hiện sợ hãi không có nguyên nhân rõ ràng với những chấn thương thông thường của trẻ nhỏ. Cán bộ y tế cơ sở cũng vậy. Chính những người có thể phát hiện sớm nhất lại thiếu công cụ và quy trình để làm điều đó.
Khoảng trống thứ hai là chuẩn mực xã hội. Quan niệm "con tôi, tôi dạy" vẫn ăn sâu trong một bộ phận không nhỏ người Việt Nam, kể cả ở thành thị có học thức. Hàng xóm nghe thấy tiếng khóc, nhìn thấy vết bầm, nhưng ngại can thiệp vì sợ "dây vào chuyện người ta".
Đây không phải thái độ vô cảm mà là kết quả của một chuẩn mực xã hội lâu đời chưa được thay thế bởi chuẩn mực mới rằng bảo vệ trẻ em là trách nhiệm của cộng đồng, không phải quyền riêng của gia đình.
Khoảng trống thứ ba là thể chế tuyến đầu. Cán bộ bảo vệ trẻ em cấp xã theo thiết kế của Luật Trẻ em 2016 là người chịu trách nhiệm theo dõi và can thiệp tại cơ sở. Song ở phần lớn địa phương chỉ là một người kiêm nhiệm nhiều đầu việc.
Không có đủ thời gian để theo dõi các gia đình nguy cơ cao, và thường không có thẩm quyền thực tế để can thiệp khẩn cấp ngay cả khi đã phát hiện nguy hiểm. Kết quả là hệ thống bảo vệ trẻ em trên thực tế vận hành theo chế độ phản ứng sau sự kiện, nghĩa là gần như luôn đến muộn.
Cần nói thêm rằng những khoảng trống này không phải do thiếu luật. Kiến trúc pháp lý của Việt Nam về bảo vệ trẻ em nhìn chung là đủ. Vấn đề nằm ở khoảng cách giữa văn bản và năng lực thực thi thực tế. Khoảng cách đó, nếu không được đo lường và thu hẹp một cách có chủ đích, sẽ tiếp tục tạo ra những bi kịch như chúng ta đang chứng kiến.
* Có thực tế nhiều hành vi bạo lực lại được ngụy biện dưới danh nghĩa "dạy con", "uốn nắn trẻ", trong khi thực chất đã vượt xa giới hạn của quyền giáo dục con cái và có dấu hiệu rõ ràng của hành vi hành hạ, ngược đãi trẻ em. Bà suy nghĩ gì về thực tế này?
- Lập luận "tôi chỉ đang dạy con" là lập luận xuất hiện trong hầu hết các vụ bạo hành gia đình và không riêng ở Việt Nam. Nó phản ánh một nhập nhằng có thật giữa quyền giáo dục con cái và hành vi xâm hại. Đồng thời cho thấy ranh giới đó, dù đã được pháp luật xác định, chưa được nội tâm hóa đủ sâu trong nhận thức xã hội.
Về phía pháp lý, ranh giới đó không hề mơ hồ. Luật Trẻ em nghiêm cấm mọi hành vi bạo lực, lạm dụng với trẻ em dưới bất kỳ danh nghĩa nào. Bộ luật Hình sự hiện hành, quy định tội hành hạ người lệ thuộc tại điều 140 với khung hình phạt tăng nặng khi nạn nhân dưới 16 tuổi và tội cố ý gây thương tích tại điều 134. Tòa án đã xử nhiều vụ theo các điều này. Vấn đề không phải là thiếu luật.
Vấn đề nằm sâu hơn khi nhiều người lớn thực sự tin rằng đánh đập là phương pháp giáo dục hợp lệ. Thành ngữ "thương cho roi cho vọt" không chỉ là câu nói mà dường như trở thành một hệ giá trị được thế hệ này truyền sang thế hệ khác, được hợp thức hóa bởi trật tự gia đình Nho giáo và chưa bao giờ được thay thế bởi một hệ giá trị mới đủ mạnh.
Điều đáng lo ngại hơn là những người từng bị bạo hành khi còn nhỏ có nguy cơ cao hơn trở thành người bạo hành trong chính gia đình của mình. Đây là một vòng lặp thế hệ mà nghiên cứu tâm lý học phát triển đã ghi nhận ở nhiều nền văn hóa khác nhau.
* Trẻ em là một trong những nhóm đối tượng yếu thế cần được bảo vệ. Vậy để hạn chế thấp nhất tình trạng bạo hành trẻ em, chúng ta cần làm gì thưa bà?
- Bạo hành trẻ em là hậu quả của sự thất bại đồng thời trên nhiều tầng: gia đình thiếu năng lực - hỗ trợ, cộng đồng thiếu cơ chế - ý thức phát hiện, hệ thống nhà nước thiếu nhân lực tuyến đầu - tốc độ can thiệp. Giải pháp đơn lẻ ở bất kỳ tầng nào cũng sẽ thất bại nếu không có phối hợp đồng bộ.
Ở tầng phòng ngừa, trọng tâm phải là thay đổi thực chất năng lực nuôi dạy con của cha mẹ, đặc biệt là các nhóm nguy cơ cao như cha mẹ trẻ lần đầu sinh con, cha mẹ đơn thân, người chăm sóc thay thế trong các gia đình tái hôn. Không phải bằng tờ rơi hay buổi tuyên truyền một lần mà bằng các chương trình có nội dung khoa học, có đo lường kết quả, được triển khai liên tục qua hệ thống y tế cơ sở và nhà trường.
Ở tầng phát hiện sớm, cần thiết lập nghĩa vụ báo cáo bắt buộc và kèm chế tài rõ ràng khi không thực hiện cho các nhóm chuyên môn thường xuyên tiếp xúc với trẻ. Đó là giáo viên mầm non và tiểu học, bác sĩ và điều dưỡng nhi khoa, cán bộ y tế thôn bản.
Luật Trẻ em đã có quy định về trách nhiệm thông báo nhưng chế tài với người bỏ qua trách nhiệm đó còn mờ nhạt. Cần lấp khoảng trống này. Kinh nghiệm ở nhiều quốc gia cho thấy phần lớn các vụ bạo hành nghiêm trọng đều có dấu hiệu cảnh báo trước. Đồng thời đều có người nhìn thấy nhưng không hành động vì không biết mình có nghĩa vụ pháp lý phải hành động.
Ở tầng thể chế, lực lượng cán bộ bảo vệ trẻ em cấp xã cần được chuyên nghiệp hóa thực chất. Hiện nay đây là vị trí kiêm nhiệm ở hầu hết địa phương, với thẩm quyền pháp lý không đủ để can thiệp khẩn cấp.
Cần học từ mô hình của Hàn Quốc và Phần Lan, nơi nhân viên công tác xã hội bảo vệ trẻ em là vị trí chuyên trách, được đào tạo bài bản. Cùng với có thẩm quyền pháp lý rõ ràng để tách trẻ khỏi môi trường nguy hiểm khi cần mà không phải chờ qua nhiều tầng thủ tục hành chính làm chậm phản ứng.
Ở tầng pháp lý, cần rà soát và rút ngắn quy trình đưa trẻ ra khỏi môi trường nguy hiểm trong trường hợp khẩn cấp. Hiện tại quy trình này còn phức tạp và kéo dài, trong khi cửa sổ an toàn của trẻ có thể đóng lại rất nhanh. Đây là điểm mà lập pháp có thể, cần điều chỉnh để cân bằng giữa quyền của cha mẹ và quyền sống của đứa trẻ. Khi hai quyền đó xung đột, quyền sống của trẻ phải được đặt lên trước.
Tối 11/5, anh T. (sống ở xã Ba Vì) nhận được thông tin có người dân trong thôn đi qua suối Cái, sẩy chân rồi bị hòn đá khổng lồ lăn trúng.
Thời điểm có mặt ở hiện trường, anh T. nhìn thấy một bên chân của nạn nhân mắc kẹt giữa tảng đá lớn và các hòn đá khác nên không thể rút ra được.
Biết sự việc, người dân trong thôn cùng Công an xã, Ban chỉ huy Quân sự xã với số lượng cả trăm người lập tức có mặt ở hiện trường.
"Khó nhất là khối đá có trọng lượng rất lớn. Nếu muốn kéo toàn bộ chân của nạn nhân ra phải nhấc được khối đá lên", anh T. cho biết.
Tại hiện trường, các lực lượng họp bàn tại chỗ tìm ra cách tối ưu, nhanh nhất để cứu được người đàn ông.
“Do khối đá có trọng lượng lớn, lực lượng chức năng huy động một xe cẩu tới hiện trường, đỗ cách con suối khoảng 30m rồi dùng hệ thống nâng hạ thả dây nhằm cố định tảng đá lớn.
"Cả trăm người người phối hợp dùng sức nâng khối đá hàng chục tấn, kết hợp kích thủy lực tạo khoảng hở để kéo phần chân ra ngoài", anh T. kể lại.
Sau thời gian hơn 1 tiếng, khối đá được kéo ra, nạn nhân được đưa ra ngoài trong tình trạng tỉnh táo, phần chân bị thương nhẹ, không nguy hiểm tính mạng.
Chứng kiến toàn bộ quá trình giải cứu, anh T. khâm phục sự đoàn kết giữa người dân và lực lượng chức năng, nỗ lực tìm mọi cách để đảm bảo tính mạng cho người bị nạn.
"Nhà tôi sống gần suối Cái. Đây là lần đầu tiên chứng kiến tình huống khối đá lăn trúng chân một người dân", anh bày tỏ.
Anh Nguyễn Lương - người nhà nạn nhân, cũng có mặt ở hiện trường - cho biết, gần 2 tiếng giải cứu là những giây phút cân não, căng thẳng. Ban đầu, lực lượng chức năng và mọi người dự tính dùng xe cẩu kéo toàn bộ khối đá lên. Tuy nhiên, phương án này có thể khiến tảng đá đè lên người, dẫn tới nguy hiểm tính mạng.
"Đội cứu hộ chọn phương án dùng xe cẩu thả dây, ngăn khối đá tiếp tục sạt trượt rồi dùng kích để nhấc lên", người đàn ông nhớ lại.
Khi nạn nhân được đưa ra khỏi khối đá, cả gia đình vỡ oà, thở phào nhẹ nhõm.
"Chúng tôi xin gửi lời cảm ơn đến Công an xã, UBND xã và các lực lượng khác cùng người dân đã hỗ trợ cứu nạn nhân trong đêm tối", anh nói thêm.
Trao đổi với phóng viên Dân trí, đại diện Công an xã Ba Vì xác nhận khoảng 20h ngày 11/5 nhận được tin báo về việc có người dân bị đá đè mắc kẹt tại khu vực suối Cái trên địa bàn thôn Hợp Nhất.
Công an xã và các lực lượng đã khẩn trương huy động người và phương tiện để triển khai công tác cứu hộ.
Người gặp nạn là ông Nguyễn Minh T. (SN 1987, trú ở thôn Lặt, xã Ba Vì). Trước đó, ông soi đèn đi bắt ếch, cua tại suối Cái thì tảng đá lớn xô trượt đè trúng và bị mắc kẹt chân trái.
Đến 21h45 cùng ngày, Công an xã phối hợp dân quân tự vệ cùng người dân đưa anh T. ra khỏi tảng đá trong tình trạng tỉnh táo. Ngoài phần chân bị thương do bị kẹp vào tảng đá, không phát hiện thương tích khác. Người đàn ông được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Đa khoa Ba Vì.