Báo động trẻ bị bạo hành: Không thiếu luật, cần giải quyết 3 ‘khoảng trống’

Báo động trẻ bị bạo hành: Không thiếu luật, cần giải quyết 3 'khoảng trống'

Tiến sĩ, đại biểu Quốc hội Trịnh Thị Tú Anh cho rằng với cháu bé 4 tuổi tại Hà Nội, trước đó là bé gái 8 tuổi tại TP.HCM, hay bé trai 3 tuổi bị ghim đinh vào đầu, mỗi trường hợp đều phản ánh một mô thức giống nhau đến đáng sợ. Đó là đứa trẻ hoàn toàn phụ thuộc và bất lực, người có nghĩa vụ bảo vệ chính là người gây ra bạo lực và hệ thống xung quanh không phát hiện, hoặc phát hiện quá muộn để cứu vãn.

* Có một thực tế phần lớn các vụ bạo hành trẻ em thời gian qua đều xảy ra trong phạm vi gia đình hoặc nơi ở khép kín, khiến việc phát hiện gặp nhiều khó khăn. Trẻ nhỏ lại hoàn toàn lệ thuộc vào người lớn nên không có khả năng phản kháng hay cầu cứu. Thực trạng này đặt ra câu hỏi phải chăng đang có những khoảng trống đáng lo ngại trong môi trường sống, giáo dục và cơ chế bảo vệ trẻ em hiện nay?

– Bạo hành trong gia đình có đặc tính phân biệt với hầu hết các dạng bạo lực khác là xảy ra trong không gian được che chắn bởi quan niệm về sự riêng tư gia đình.

Đây là một quan niệm vừa có giá trị văn hóa chính đáng, vừa bị lạm dụng để che giấu tội ác. Đứa trẻ bị bạo hành, đặc biệt khi còn quá nhỏ, không có ai để cầu cứu bởi người các em phụ thuộc hoàn toàn về ăn uống, chỗ ở và cảm xúc chính là người đang gây hại cho các em. Đây là một bẫy cấu trúc, không phải chỉ là bất hạnh cá nhân.

Bẫy đó được vận hành bởi ít nhất ba khoảng trống song song tồn tại trong hệ thống hiện nay. Khoảng trống đầu tiên là năng lực nhận diện. Giáo viên mầm non và tiểu học là những người tiếp xúc thường xuyên nhất với trẻ em ngoài gia đình, nhưng tại phần lớn địa phương, họ chưa được đào tạo bài bản để phân biệt dấu hiệu bạo hành.

Vết thương ở vị trí bất thường, hành vi thu mình đột ngột, biểu hiện sợ hãi không có nguyên nhân rõ ràng với những chấn thương thông thường của trẻ nhỏ. Cán bộ y tế cơ sở cũng vậy. Chính những người có thể phát hiện sớm nhất lại thiếu công cụ và quy trình để làm điều đó.

Khoảng trống thứ hai là chuẩn mực xã hội. Quan niệm “con tôi, tôi dạy” vẫn ăn sâu trong một bộ phận không nhỏ người Việt Nam, kể cả ở thành thị có học thức. Hàng xóm nghe thấy tiếng khóc, nhìn thấy vết bầm, nhưng ngại can thiệp vì sợ “dây vào chuyện người ta”.

Đây không phải thái độ vô cảm mà là kết quả của một chuẩn mực xã hội lâu đời chưa được thay thế bởi chuẩn mực mới rằng bảo vệ trẻ em là trách nhiệm của cộng đồng, không phải quyền riêng của gia đình.

Khoảng trống thứ ba là thể chế tuyến đầu. Cán bộ bảo vệ trẻ em cấp xã theo thiết kế của Luật Trẻ em 2016 là người chịu trách nhiệm theo dõi và can thiệp tại cơ sở. Song ở phần lớn địa phương chỉ là một người kiêm nhiệm nhiều đầu việc.

Không có đủ thời gian để theo dõi các gia đình nguy cơ cao, và thường không có thẩm quyền thực tế để can thiệp khẩn cấp ngay cả khi đã phát hiện nguy hiểm. Kết quả là hệ thống bảo vệ trẻ em trên thực tế vận hành theo chế độ phản ứng sau sự kiện, nghĩa là gần như luôn đến muộn.

Cần nói thêm rằng những khoảng trống này không phải do thiếu luật. Kiến trúc pháp lý của Việt Nam về bảo vệ trẻ em nhìn chung là đủ. Vấn đề nằm ở khoảng cách giữa văn bản và năng lực thực thi thực tế. Khoảng cách đó, nếu không được đo lường và thu hẹp một cách có chủ đích, sẽ tiếp tục tạo ra những bi kịch như chúng ta đang chứng kiến.

* Có thực tế nhiều hành vi bạo lực lại được ngụy biện dưới danh nghĩa “dạy con”, “uốn nắn trẻ”, trong khi thực chất đã vượt xa giới hạn của quyền giáo dục con cái và có dấu hiệu rõ ràng của hành vi hành hạ, ngược đãi trẻ em. Bà suy nghĩ gì về thực tế này?

– Lập luận “tôi chỉ đang dạy con” là lập luận xuất hiện trong hầu hết các vụ bạo hành gia đình và không riêng ở Việt Nam. Nó phản ánh một nhập nhằng có thật giữa quyền giáo dục con cái và hành vi xâm hại. Đồng thời cho thấy ranh giới đó, dù đã được pháp luật xác định, chưa được nội tâm hóa đủ sâu trong nhận thức xã hội.

Về phía pháp lý, ranh giới đó không hề mơ hồ. Luật Trẻ em nghiêm cấm mọi hành vi bạo lực, lạm dụng với trẻ em dưới bất kỳ danh nghĩa nào. Bộ luật Hình sự hiện hành, quy định tội hành hạ người lệ thuộc tại điều 140 với khung hình phạt tăng nặng khi nạn nhân dưới 16 tuổi và tội cố ý gây thương tích tại điều 134. Tòa án đã xử nhiều vụ theo các điều này. Vấn đề không phải là thiếu luật.

Vấn đề nằm sâu hơn khi nhiều người lớn thực sự tin rằng đánh đập là phương pháp giáo dục hợp lệ. Thành ngữ “thương cho roi cho vọt” không chỉ là câu nói mà dường như trở thành một hệ giá trị được thế hệ này truyền sang thế hệ khác, được hợp thức hóa bởi trật tự gia đình Nho giáo và chưa bao giờ được thay thế bởi một hệ giá trị mới đủ mạnh.

  Người dân đội nắng mua vé tham quan di tích Dinh Độc Lập

Điều đáng lo ngại hơn là những người từng bị bạo hành khi còn nhỏ có nguy cơ cao hơn trở thành người bạo hành trong chính gia đình của mình. Đây là một vòng lặp thế hệ mà nghiên cứu tâm lý học phát triển đã ghi nhận ở nhiều nền văn hóa khác nhau.

* Trẻ em là một trong những nhóm đối tượng yếu thế cần được bảo vệ. Vậy để hạn chế thấp nhất tình trạng bạo hành trẻ em, chúng ta cần làm gì thưa bà?

– Bạo hành trẻ em là hậu quả của sự thất bại đồng thời trên nhiều tầng: gia đình thiếu năng lực – hỗ trợ, cộng đồng thiếu cơ chế – ý thức phát hiện, hệ thống nhà nước thiếu nhân lực tuyến đầu – tốc độ can thiệp. Giải pháp đơn lẻ ở bất kỳ tầng nào cũng sẽ thất bại nếu không có phối hợp đồng bộ.

Ở tầng phòng ngừa, trọng tâm phải là thay đổi thực chất năng lực nuôi dạy con của cha mẹ, đặc biệt là các nhóm nguy cơ cao như cha mẹ trẻ lần đầu sinh con, cha mẹ đơn thân, người chăm sóc thay thế trong các gia đình tái hôn. Không phải bằng tờ rơi hay buổi tuyên truyền một lần mà bằng các chương trình có nội dung khoa học, có đo lường kết quả, được triển khai liên tục qua hệ thống y tế cơ sở và nhà trường.

Ở tầng phát hiện sớm, cần thiết lập nghĩa vụ báo cáo bắt buộc và kèm chế tài rõ ràng khi không thực hiện cho các nhóm chuyên môn thường xuyên tiếp xúc với trẻ. Đó là giáo viên mầm non và tiểu học, bác sĩ và điều dưỡng nhi khoa, cán bộ y tế thôn bản.

Luật Trẻ em đã có quy định về trách nhiệm thông báo nhưng chế tài với người bỏ qua trách nhiệm đó còn mờ nhạt. Cần lấp khoảng trống này. Kinh nghiệm ở nhiều quốc gia cho thấy phần lớn các vụ bạo hành nghiêm trọng đều có dấu hiệu cảnh báo trước. Đồng thời đều có người nhìn thấy nhưng không hành động vì không biết mình có nghĩa vụ pháp lý phải hành động.

Ở tầng thể chế, lực lượng cán bộ bảo vệ trẻ em cấp xã cần được chuyên nghiệp hóa thực chất. Hiện nay đây là vị trí kiêm nhiệm ở hầu hết địa phương, với thẩm quyền pháp lý không đủ để can thiệp khẩn cấp.

Cần học từ mô hình của Hàn Quốc và Phần Lan, nơi nhân viên công tác xã hội bảo vệ trẻ em là vị trí chuyên trách, được đào tạo bài bản. Cùng với có thẩm quyền pháp lý rõ ràng để tách trẻ khỏi môi trường nguy hiểm khi cần mà không phải chờ qua nhiều tầng thủ tục hành chính làm chậm phản ứng.

Ở tầng pháp lý, cần rà soát và rút ngắn quy trình đưa trẻ ra khỏi môi trường nguy hiểm trong trường hợp khẩn cấp. Hiện tại quy trình này còn phức tạp và kéo dài, trong khi cửa sổ an toàn của trẻ có thể đóng lại rất nhanh. Đây là điểm mà lập pháp có thể, cần điều chỉnh để cân bằng giữa quyền của cha mẹ và quyền sống của đứa trẻ. Khi hai quyền đó xung đột, quyền sống của trẻ phải được đặt lên trước.

Tin Gốc: Tuổi Trẻ