Ngày 6.4, tại thành phố Đà Nẵng, Viện Khoa học giáo dục Việt Nam phối hợp với Vụ Giáo dục mầm non, Ngân hàng Thế giới và Sở GD-ĐT thành phố Đà Nẵng tổ chức hội thảo “Hướng tới mục tiêu nâng cao chất lượng giáo dục mầm non”.
Hội thảo thu hút gần 100 cán bộ quản lý đến từ các Sở GD-ĐT khu vực miền Trung cùng nhiều chuyên gia, tập trung trao đổi về nhu cầu và giải pháp phát triển giáo dục mầm non trong bối cảnh đô thị hóa và phát triển các khu công nghiệp.
Theo ban tổ chức, quá trình đô thị hóa nhanh, đặc biệt tại các khu công nghiệp, kéo theo sự gia tăng lực lượng lao động khiến nhu cầu gửi trẻ, chăm sóc và giáo dục mầm non cho con em người lao động, nhất là lao động nữ, tăng mạnh.
Tuy nhiên, việc tiếp cận các dịch vụ mầm non bảo đảm chất lượng, an toàn và phù hợp với điều kiện làm việc vẫn còn nhiều hạn chế, đặt ra yêu cầu cấp thiết về chính sách.
Tại hội thảo, các đại biểu được chia sẻ kết quả nghiên cứu đánh giá nhu cầu nhà trẻ, giáo dục mầm non tại các đô thị có khu công nghiệp; đồng thời giới thiệu chương trình nâng cao chất lượng giáo dục mầm non giai đoạn 2025 – 2035, định hướng đến năm 2045.
Nhiều ý kiến cũng tập trung đề xuất các giải pháp, khuyến nghị chính sách nhằm nâng cao chất lượng chăm sóc, giáo dục trẻ trong thời gian tới.
Phát biểu tại hội thảo, ông Lê Anh Vinh, Viện trưởng Viện Khoa học giáo dục Việt Nam, nhấn mạnh giáo dục mầm non là nền tảng cho sự phát triển lâu dài của trẻ. Giai đoạn từ 3 – 6 tuổi được xem là “thời điểm vàng”, khi trẻ phát triển nhanh nhất về thể chất, nhận thức và kỹ năng sống.
Theo ông Vinh, nhiều nghiên cứu cho thấy việc tiếp cận giáo dục sớm giúp trẻ đạt kết quả học tập tốt hơn ở các cấp học sau, kéo dài thời gian học tập và hình thành năng lực học tập suốt đời. Do đó, đầu tư cho giáo dục mầm non không chỉ bảo đảm công bằng mà còn là chiến lược phát triển kinh tế – xã hội bền vững.
Thời gian qua, nhiều chính sách quan trọng đã được ban hành, trong đó Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030 đặt mục tiêu mở rộng phổ cập cho trẻ từ 3 tuổi, tăng tỷ lệ trẻ đến trường và nâng cao chất lượng tại các địa bàn khó khăn, khu công nghiệp.
Đáng chú ý, năm 2026 bắt đầu triển khai thí điểm chương trình giáo dục mầm non mới với 7 điểm cải cách, theo hướng tiếp cận năng lực, liên thông với chương trình Giáo dục phổ thông 2018 và chú trọng phát triển tình cảm, kỹ năng xã hội cho trẻ. Chương trình khung cũng tăng quyền chủ động cho địa phương, phù hợp thực tiễn từng cơ sở, đồng thời bảo đảm chế độ dinh dưỡng và giảm áp lực cho giáo viên.
Tuy nhiên, theo các đại biểu, tại các đô thị đông dân, khu công nghiệp có tỷ lệ di cư lớn vẫn còn nhiều thách thức trong việc bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục mầm non. Điều này không chỉ ảnh hưởng đến sự phát triển của trẻ mà còn tác động đến việc làm của phụ nữ và sự ổn định xã hội.
Ông Lê Anh Vinh cho biết thêm, thông qua hội thảo, ban tổ chức mong muốn tiếp nhận thêm ý kiến từ cơ quan quản lý và cơ sở giáo dục để hoàn thiện mô hình giáo dục mầm non tại các khu công nghiệp, khu chế xuất theo hướng sát thực tiễn, đáp ứng nhu cầu của người dân.
Tại hội nghị đối thoại giữa công nhân lao động với lãnh đạo Đà Nẵng năm 2026, anh Lê Bản Thiện, đại diện Công ty giày Rieker Việt Nam thuộc Khu công nghiệp Điện Nam - Điện Ngọc, cho biết doanh nghiệp hiện có hơn 13.000 lao động, trong đó hơn 90% là nữ và phần lớn đang trong độ tuổi nuôi con nhỏ.
Theo anh Thiện, quanh khu công nghiệp hiện vẫn thiếu nhà trẻ, trường học và khu vui chơi cho trẻ em. Nhiều công nhân phải gửi con tại các điểm giữ trẻ tự phát, vừa tốn kém vừa thấp thỏm lo lắng.
"Điều khiến nhiều công nhân áp lực mỗi ngày không chỉ là công việc mà còn là tìm nơi gửi con. Nhiều anh chị em gửi con ở các điểm tự phát, ảnh hưởng rất lớn đến tâm lý làm việc", anh Thiện nói.
Từ thực tế đó, công nhân kiến nghị thành phố sớm xây dựng thêm nhà trẻ và các khu sinh hoạt văn hóa ngay tại khu công nghiệp để người lao động có nơi gửi con an toàn, chi phí phù hợp.
Trước đó, tại một hội thảo về giáo dục mầm non, bà Helle Buchhave, trưởng nhóm toàn cầu về giới của Ngân hàng Thế giới, dẫn nghiên cứu tại các khu công nghiệp ở Đà Nẵng cho thấy 42% hộ thu nhập thấp không sử dụng dịch vụ giữ trẻ vì chi phí quá cao. Nhiều gia đình phải gửi con về quê cho ông bà chăm sóc hoặc buộc một trong hai vợ hoặc chồng phải nghỉ việc để ở nhà trông con.
Ông Nguyễn Minh Huy, Phó giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo Đà Nẵng, cho biết hiện Đà Nẵng có 4 nghị quyết liên quan đến chính sách hỗ trợ phát triển giáo dục mầm non và các cơ sở mầm non tư thục tại khu công nghiệp.
Hiện sở được giao gộp 4 nghị quyết trên thành nghị quyết quy định chính sách phát triển giáo dục mầm non tại địa bàn có khu công nghiệp.
Theo đó, con công nhân lao động sẽ được hỗ trợ 200.000 đồng/trẻ/tháng, thời gian hỗ trợ không quá 9 tháng/năm học. Các cơ sở giáo dục mầm non tư thục được hỗ trợ một lần 30 triệu đồng/cơ sở, để sửa chữa, mua sắm trang thiết bị, đồ dùng phục vụ chương trình giáo dục mầm non theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Ngoài ra, 760 giáo viên đang giảng dạy tại các cơ sở giáo dục mầm non tư thục sẽ được hỗ trợ 800.000 đồng/người/tháng.
"Toàn thành phố hiện có 12.316 trẻ là con công nhân thuộc diện được hỗ trợ. Kinh phí dự kiến cho năm học 2026-2027 khoảng 51 tỉ đồng, và sẽ được trình HĐND thành phố Đà Nẵng xem xét trong tháng 5", ông Huy cho hay.
Chủ tịch UBND TP Đà Nẵng Nguyễn Mạnh Hùng cho biết thành phố chia sẻ áp lực với các gia đình công nhân làm việc theo ca kíp, tăng ca về muộn nhưng khó tìm nơi trông trẻ phù hợp giờ giấc.
Hiện phần lớn trường mầm non công lập vẫn hoạt động theo giờ hành chính. Một số trường gần khu công nghiệp đã linh hoạt nhận trẻ sớm từ 6h15 - 17h30 để hỗ trợ phụ huynh công nhân.
Từ năm 2018, Đà Nẵng cũng đã triển khai mô hình trường mầm non nhận trẻ từ 6-18 tháng tuổi. Đến cuối năm học 2025-2026, toàn thành phố có 31 trường mầm non công lập nhận trẻ dưới 18 tháng tuổi.
Bộ Giáo dục và Đào tạo ngày 14/4 công bố Thông tư 32, quy định mã số, bổ nhiệm chức danh và xếp lương giáo viên công lập.
Theo đó, giáo viên mầm non được xếp theo ba hạng, từ thấp đến cao lần lượt là III, II và I, tương ứng với nhóm viên chức A0, A1 và A2.2. Hệ số lương của giáo viên bậc này từ 2,1 đến 6,38.
Giáo viên phổ thông (tiểu học, THCS, THPT) cũng có ba hạng tương tự, nhưng ứng với nhóm A1, A2.2 và A2.1, hệ số lương từ 2,23 đến 6,78.
Trước đó, trong dự thảo hồi tháng 9 năm ngoái, Bộ dự kiến xếp nhà giáo thành ba nhóm: giáo viên, giáo viên chính, giáo viên cao cấp, tương đương bậc III, II và I hiện nay. Riêng với giáo viên cao cấp (hạng I), hệ số lương sẽ từ 5,75 đến 7,55 (nhóm A3.2), tăng so với mức 4,4-6,78 hiện tại, còn lại giữ nguyên.
Theo thông tư mới, việc xếp hạng giáo viên vẫn như cũ, hệ số lương của nhóm giáo viên hạng I cũng không được tăng như đề xuất. Thống kê gần nhất của Bộ vào cuối năm 2024 cho thấy nhóm này chưa đến 3.000 người trong số hơn một triệu giáo viên của cả nước.
Hạng chức danh và hệ số lương giáo viên mới nhất theo Thông tư 32/2026 của Bộ Giáo dục và Đào tạo:
Dù hệ số không thay đổi song dự kiến lương của giáo viên sẽ tăng với lộ trình tăng lương cơ sở. Theo phương án Chính phủ dự kiến, lương cơ sở sẽ tăng từ 2,34 triệu đồng lên 2,527 triệu đồng (tăng 8%), áp dụng từ 1/7. Như vậy, thầy cô có thể nhận lương tháng trong khoảng 5,3 - 17,1 triệu đồng, chưa kể các loại phụ cấp. Mức tăng nhiều nhất là gần 1,3 triệu đồng, còn lại phổ biến 0,5-1 triệu so với hiện nay.
Ngoài ra, Bộ Giáo dục và Đào tạo đang đề xuất có thêm hệ số đặc thù (1,15-1,25 lần lương) để lương giáo viên cao nhất như quy định của Luật Nhà giáo. Sau gần nửa năm, việc này vẫn chưa được thông qua.
Thông tư số 33 về khung năng lực ngoại ngữ dùng cho Việt Nam do Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành, đánh dấu bước hoàn thiện quan trọng trong việc chuẩn hóa hệ thống đánh giá năng lực ngoại ngữ trên toàn quốc.
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, thông tư hướng đến thiết lập một chuẩn chung áp dụng trong toàn hệ thống giáo dục quốc dân, làm cơ sở xây dựng chương trình đào tạo, tổ chức giảng dạy, kiểm tra, đánh giá cũng như công nhận kết quả học tập ngoại ngữ.
Qua đó giúp người học định hướng rõ ràng lộ trình phát triển năng lực ngoại ngữ, đồng thời hỗ trợ các cơ sở giáo dục nâng cao chất lượng đào tạo và tăng cường tính liên thông giữa các bậc học và trình độ đào tạo.
Một trong những điểm mới đáng chú ý là việc khung năng lực ngoại ngữ của Việt Nam được cập nhật theo khung tham chiếu chung châu Âu (CEFR) phiên bản mới 2020-2021.
Việc này giúp tăng tính tương thích với các chuẩn quốc tế, tạo thuận lợi cho việc công nhận văn bằng, chứng chỉ giữa Việt Nam và các quốc gia khác.
Lần đầu tiên, khung năng lực ngoại ngữ bổ sung mức "Tiền bậc 1" (Pre-A1) dành cho người mới bắt đầu học ngoại ngữ, đặc biệt phù hợp với xu hướng dạy và học ngoại ngữ từ lứa tuổi nhỏ tại Việt Nam.
Khung năng lực ngoại ngữ Việt Nam được chia làm 3 cấp: sơ cấp, trung cấp và cao cấp
Việc bổ sung này giúp hoàn thiện hệ thống đánh giá theo hướng liên tục, mở rộng phổ trình độ và tạo lộ trình rõ ràng hơn cho người học.
Thông tư cũng làm rõ và chi tiết hóa mô tả năng lực ở từng kỹ năng nghe, nói, đọc, viết. Nội dung được thiết kế theo hướng cụ thể, dễ hiểu, gắn với các tình huống sử dụng ngôn ngữ thực tế, giúp giáo viên và người học dễ dàng áp dụng trong giảng dạy và đánh giá.
Đối với các ngôn ngữ đặc thù như tiếng Trung Quốc, tiếng Nhật và tiếng Hàn, thông tư quy định sử dụng các khung năng lực do quốc gia sở tại ban hành, nhằm đảm bảo phù hợp với đặc trưng ngôn ngữ và thông lệ quốc tế.
Thông tư được kỳ vọng sẽ góp phần nâng cao chất lượng dạy và học ngoại ngữ, đồng thời tăng tính liên thông giữa các bậc học, phục vụ tốt hơn yêu cầu hội nhập quốc tế của Việt Nam.