Tòa án cấp cao Seoul đưa ra mức án nặng hơn đối với cựu Tổng thống Hàn Quốc Yoon Suk Yeol trong một phán quyết được truyền hình trực tiếp, theo Yonhap.
Tòa án cấp cao Seoul kết luận ông Yoon phạm tội cản trở các nhà điều tra bắt giữ ông vào năm ngoái liên quan việc ông ban bố thiết quân luật trong thời gian ngắn vào ngày 3.12.2024.
Nhóm luật sư của ông Yoon cho hay sẽ kháng cáo phán quyết 7 năm tù giam lên tòa án tối cao, theo Reuters.
Trước đó, nhóm luật sư của công tố viên đặc biệt Cho Eun-suk đã đề nghị mức án 10 năm tù giam đối với ông Yoon.
Vào ngày 16.1.2026, Tòa án Quận Trung tâm Seoul tuyên án vị cựu tổng thống này 5 năm tù về các tội danh, trong đó có tội cản trở công lý.
Cũng trong tháng 1, cựu Tổng thống Yoon đã bị tuyên án tù chung thân vì đã ban bố thiết quân luật, theo AFP.
Tin Gốc: Thanh Niên

Khi Tổng thống Mỹ Richard Nixon đặt chân đến Bắc Kinh năm 1972, đó được xem là một canh bạc chính trị lớn. Ông đánh cược rằng việc mở cánh cửa ngoại giao với Trung Quốc, đồng thời hạ cấp quan hệ với Đài Loan, sẽ phục vụ lợi ích chiến lược của Washington tại khu vực và trên toàn cầu.
Những chuyến thăm Trung Quốc sau đó của các đời tổng thống Mỹ đều ít nhiều kế thừa tư duy này. Lịch sử quan hệ Mỹ - Trung trong nửa thế kỷ qua là chuỗi đan xen giữa những giai đoạn căng thẳng và hòa dịu. Có thời điểm quan hệ rơi vào u ám như giai đoạn cuối 1980 và đầu 1990, nhưng cũng có lúc "bừng sáng" khi Mỹ ủng hộ Trung Quốc gia nhập Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO) và trở thành một động lực lớn của kinh tế toàn cầu.
Thăm dò
Chuyến thăm của Nixon được coi là một trong những chuyến công du nước ngoài mang tính bước ngoặt nhất của một tổng thống Mỹ sau Thế chiến II. Trước đó một năm, cố vấn an ninh quốc gia Henry Kissinger bí mật tới Bắc Kinh để thăm dò khả năng thiết lập kênh ngoại giao với Chủ tịch Mao Trạch Đông và Thủ tướng Chu Ân Lai.
Trong hơn hai thập kỷ từ khi Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được thành lập vào năm 1949, Washington không thiết lập quan hệ chính thức với Bắc Kinh. Thay vào đó, Mỹ công nhận chính quyền tại đảo Đài Loan là đại diện hợp pháp của Trung Quốc. Nhưng bối cảnh địa chính trị đến thời của ông Nixon đã thay đổi mạnh. Quan hệ giữa Liên Xô và Trung Quốc rạn nứt, tạo ra cơ hội để chính quyền Nixon tiếp cận Bắc Kinh như một nước cờ chiến lược.
Chuyến thăm để lại nhiều hình ảnh biểu tượng, như ông Nixon đi dạo trên Vạn Lý Trường Thành và ca ngợi đây là "một bức tường vĩ đại do một dân tộc vĩ đại xây dựng". Sau đó, Trung Quốc gửi một cặp gấu trúc tới Sở thú Quốc gia ở Washington, trở thành biểu tượng lâu dài của nỗ lực xích lại gần nhau giữa hai nước.
Tổng thống Gerald Ford thăm Trung Quốc trong 5 ngày vào tháng 12/1975. Khi đó, Trung Quốc đang trong giai đoạn cuối của thời kỳ Cách mạng Văn hóa đầy biến động, nhưng giới lãnh đạo nước này vẫn duy trì định hướng cải thiện quan hệ với Mỹ.
Các cuộc trao đổi trong chuyến thăm của Ford góp phần mở đường cho tiến trình bình thường hóa quan hệ mà Tổng thống Jimmy Carter hoàn tất năm 1979, trong một chuyến thăm sau khi ông đã kết thúc nhiệm kỳ.
Đến năm 1984, Tổng thống Ronald Reagan, người nổi tiếng với lập trường cứng rắn trong Chiến tranh Lạnh, cũng đặt chân tới Trung Quốc.
Khác với những tuyên bố mang tính đối đầu với Liên Xô, ông Reagan không kêu gọi thay đổi tại Trung Quốc hay công kích hệ thống chính trị nước này. Thay vào đó, ông thể hiện hình ảnh chính khách thực dụng và thúc đẩy đối thoại thương mại, lĩnh vực sau này trở thành trọng tâm trong quan hệ Mỹ - Trung.
Sau chuyến đi, Tổng thống Reagan nói ông cảm thấy được khích lệ bởi "luồng sinh khí của tinh thần thị trường tự do" đang xuất hiện trong nền kinh tế Trung Quốc.
Nỗ lực mở cửa nền kinh tế Trung Quốc tiếp diễn với chuyến thăm của Tổng thống George H.W. Bush tới Bắc Kinh tháng 2/1989, với tư cách một "người quen" đã lâu không gặp.
Ông Bush từng phụ trách Văn phòng Liên lạc của Mỹ tại Bắc Kinh giai đoạn 1974-1975, trên thực tế là cơ quan đại diện ngoại giao cao nhất của Washington trước khi hai nước thiết lập quan hệ chính thức.
Quan hệ song phương khi đó đang có đà phát triển tích cực, nhưng những biến động liên quan đến việc Liên Xô tan rã đã thay đổi tất cả, đẩy liên lạc giữa hai nước trở vào trạng thái đóng băng trong gần một thập kỷ.
Thúc đẩy hợp tác
Chuyến thăm Trung Quốc của Tổng thống Bill Clinton năm 1998 diễn ra trong giai đoạn Mỹ giữ vị thế "siêu cường duy nhất" của thế giới.
Khi đó, nhiều người ở Washington tin rằng mô hình chính trị và kinh tế Mỹ gần như không có đối thủ. Giới chức Mỹ cho rằng Trung Quốc sẽ dần bước vào trật tự thế giới do phương Tây định hình và một Trung Quốc hội nhập hơn với nền kinh tế thế giới cũng sẽ thân thiện hơn với Mỹ.
Ông Giang Trạch Dân khi đó đã cố gắng nói tiếng Anh trong một số sự kiện công khai, thậm chí đọc những câu trích từ diễn văn Gettysburg của Tổng thống Abraham Lincoln, tạo nên ấn tượng về một lãnh đạo Trung Quốc cởi mở với phương Tây.
Trong chuyến thăm năm 1998 của Tổng thống Clinton, ông Giang bất ngờ thông báo cuộc họp báo chung sẽ được truyền hình trực tiếp. Khoảnh khắc này được nhiều người xem là đặc biệt, thể hiện bầu không khí cởi mở hiếm thấy giữa lãnh đạo hai nước, thắp lên kỳ vọng con đường hợp tác trước mắt đang rộng mở.
Đến thời của Tổng thống George W. Bush, ông thăm Trung Quốc 4 lần vào các năm 2001, 2002, 2005 và 2008. Lần xuất hiện mang tính biểu tượng nhất là khi ông có mặt tại lễ khai mạc Olympic Bắc Kinh 2008, sự kiện được nhiều người xem như màn khẳng định vị thế mới của Trung Quốc trên trường quốc tế. Đây là thời kỳ toàn cầu hóa tăng tốc, khi kinh tế Trung Quốc phát triển mạnh sau khi gia nhập WTO.
Tuy nhiên, chuyến đi năm 2008 của George W. Bush diễn ra ngay trước cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu. Cùng với tác động từ chiến tranh Iraq, biến cố này khiến nhiều quan chức Trung Quốc, trong đó có Chủ tịch Hồ Cẩm Đào, tin rằng Mỹ và các đồng minh đang mất phương hướng, mở ra cơ hội để Trung Quốc trỗi dậy mạnh mẽ hơn.
Cạnh tranh
Khi sức mạnh Trung Quốc gia tăng, cùng với sự tự tin ngày càng lớn trong cách tiếp cận với Washington, bản chất các cuộc gặp thượng đỉnh Mỹ - Trung cũng thay đổi. Nếu trước đây Mỹ thường giữ vai trò chủ động định hình quan hệ, về sau, nhiều quan chức và học giả Trung Quốc bắt đầu nhìn Mỹ như một cường quốc đang chật vật giữ vị thế.
Các chuyến thăm cấp cao của lãnh đạo Mỹ trong hai thập kỷ qua mang màu sắc "quản lý" những bất đồng giữa hai cường quốc nhiều hơn là thúc đẩy quan hệ song phương, khi vị thế của Trung Quốc ngày càng gia tăng và dần định hướng sang trật tự đa cực.
Tổng thống Barack Obama thăm Trung Quốc ba lần trong hai nhiệm kỳ, với lần đầu diễn ra vào năm 2009 trong bối cảnh Mỹ đang chật vật đối phó hậu quả khủng hoảng tài chính, còn kinh tế Trung Quốc tiếp tục tăng trưởng mạnh. Tại Bắc Kinh, ông Obama nêu các vấn đề như hội nghị khí hậu Copenhagen và nỗ lực ngoại giao nhằm ngăn chặn tham vọng hạt nhân của Iran.
Năm 2014, ông trở lại Trung Quốc dự hội nghị kinh tế khu vực và gặp song phương với Chủ tịch Tập Cận Bình. Đến lúc này, quan hệ hai nước đã xấu đi đáng kể. Trung Quốc gia tăng hoạt động quân sự ở các vùng biển lân cận, khiến nhiều nước châu Á phản ứng, đồng thời bị cáo buộc thường xuyên tiến hành hoạt động gián điệp mạng nhắm vào Mỹ và phương Tây.
Chuyến thăm cuối cùng của ông Obama năm 2016 gây chú ý khi chuyên cơ Không Lực Một hạ cánh tại Hàng Châu và Tổng thống Mỹ phải rời máy bay bằng cửa sau vì không có cầu thang được đưa tới cửa chính.
Dù nguyên nhân sự cố có thể chỉ là trục trặc kỹ thuật, nhiều người xem đây là dấu hiệu cho thấy thái độ của Trung Quốc với Mỹ "đã khác xưa".
Đến năm 2017, Tổng thống Donald Trump bước vào Nhà Trắng với những thông điệp chỉ trích mạnh mẽ Trung Quốc, đặc biệt về thương mại. Chuyến thăm Trung Quốc năm đó của ông Trump diễn ra trong bối cảnh ngày càng nhiều tiếng nói tại Mỹ hoài nghi về toàn cầu hóa và muốn giảm phụ thuộc kinh tế vào Bắc Kinh.
Tuy nhiên, khi đến thăm Bắc Kinh, ông Trump lại thể hiện một hình ảnh hòa dịu hơn hẳn. Ông dành nhiều lời khen cho Chủ tịch Tập Cận Bình, gọi ông là một người rất đặc biệt. Phía Trung Quốc cũng dành cho ông Trump những biệt lệ về đón tiếp, tiêu biểu là cuộc tham quan riêng ở Tử Cấm Thành giữa hai lãnh đạo cùng phu nhân.
Nhưng bầu không khí hòa thuận giữa hai cường quốc không kéo dài. Chỉ ít lâu sau chuyến thăm, tháng 1/2018, Tổng thống Trump khởi động "thương chiến" với Trung Quốc, cuộc đối đầu định hình phần lớn nhiệm kỳ đầu tiên của ông. Quan hệ Mỹ - Trung từ đó trở nên đối đầu rõ rệt.
Điều đáng chú ý là dù cứng rắn về thương mại và cạnh tranh chiến lược, ông Trump tránh nhấn mạnh các vấn đề dân chủ và nhân quyền, cách tiếp cận được giới lãnh đạo Trung Quốc hoan nghênh.
Quan hệ Mỹ - Trung tiếp tục căng thẳng trong nhiệm kỳ của Tổng thống Joe Biden, người không thực hiện bất cứ chuyến thăm chính thức nào tới Trung Quốc khi nắm quyền giai đoạn 2021-2025. Ông Biden và ông Tập chỉ gặp nhau tại các sự kiện đa phương trong giai đoạn này.
Sau khi trở lại Nhà Trắng nhiệm kỳ hai, Tổng thống Trump tiếp tục thể hiện sự cứng rắn với Trung Quốc thông qua các đòn áp thuế. Tuy nhiên, Trung Quốc không nhượng bộ và đáp trả "ăn miếng trả miếng" với đòn thuế của ông Trump, buộc Mỹ phải đối thoại và sau đó đi đến thỏa thuận đình chiến thương mại.
Ngay trước chuyến tới Bắc Kinh hôm 13/5, Tổng thống Trump viết trên mạng xã hội rằng ông dự định đề nghị Chủ tịch Tập Cận Bình, người ông gọi là "một nhà lãnh đạo xuất chúng", mở cửa hơn nữa. Điều này nối tiếp thông điệp cải thiện quan hệ chiến lược giữa hai cường quốc thông qua hợp tác kinh tế mà các đời tổng thống Mỹ từng thể hiện, song vị thế của hai nước giờ đây đã rất khác.
Các quan chức Mỹ giờ đây đã công khai thừa nhận Trung Quốc là đối thủ "gần ngang hàng", đồng thời mô tả Bắc Kinh là "đối thủ mạnh mẽ nhất từng đối đầu trong lịch sử".
"Trung Quốc đã dồn rất nhiều nỗ lực ngoại giao để tạo ấn tượng rằng Chủ tịch Tập Cận Bình ngang hàng với Tổng thống Donald Trump về vị thế địa chính trị", Ali Wyne, cố vấn cấp cao về quan hệ Mỹ - Trung tại Nhóm Khủng hoảng Quốc tế (ICG), nhận định. "Điều tôi thấy khá ấn tượng là lần này, phía Trung Quốc không còn cần nỗ lực khẳng định điều đó nữa".
Tin Gốc: Vnexpress

Trong ba năm đầu cuộc chiến Nga - Ukraine, Mỹ là bên viện trợ lớn nhất về quân sự và tài chính cho chính quyền Tổng thống Volodymyr Zelensky. Tổng thống Mỹ khi đó là ông Joe Biden từng cam kết sẽ sát cánh đến cùng với Ukraine cho đến khi "giành chiến thắng".
Nhưng khi Tổng thống Donald Trump nhậm chức hơn một năm trước, nước Mỹ đã dần từ bỏ vai trò "người đồng hành" cùng Ukraine trong cuộc đối đầu Nga. Giờ đây, chính Tổng thống Volodymyr Zelensky cũng cho thấy ông đang chủ động rút lui và giữ khoảng cách với quốc gia từng là đồng minh lớn nhất của mình.
Tổng thống Trump từng tuyên bố sẽ kết thúc chiến sự Ukraine trong vòng 24 giờ sau khi nhậm chức, nhưng sau đó thừa nhận điều này khó khăn hơn nhiều so với những gì ông nghĩ. Ông cũng từng đóng vai trò trung gian thúc đẩy Nga - Ukraine ngồi vào bàn đàm phán, nhưng nỗ lực này đình trệ khi Tổng thống Mỹ hướng sự chú ý sang Trung Đông và phát động cuộc chiến chống lại Iran.
Cho đến gần đây, giới lãnh đạo Ukraine phần lớn vẫn giữ thái độ trung dung với Tổng thống Trump, nhằm tránh một cuộc đổ vỡ hoàn toàn trong quan hệ song phương. Mỹ vẫn cung cấp những thông tin tình báo chiến trường sống còn và vẫn nắm giữ vị thế đặc biệt để làm trung gian hòa giải giữa Moskva và Kiev.
Dù chính quyền Trump đã cắt hoàn toàn viện trợ vũ khí cho Ukraine, họ vẫn cho phép Kiev mua chúng bằng nguồn tiền từ các đồng minh phương Tây khác. Ukraine hiểu rõ rằng nếu chọc giận chính quyền Trump, những hỗ trợ đó không chỉ biến mất mà ông Trump còn có thể bỏ mặc họ hoàn toàn để quay sang ủng hộ Nga.
Nhưng mọi thứ thay đổi kể từ khi chiến sự Trung Đông bùng phát. Tổng thống Zelensky phàn nàn rằng các nhà đàm phán Mỹ "không còn thời gian cho Ukraine". Ông cũng lên tiếng phản đối Washington nới lỏng lệnh trừng phạt với dầu Nga nhằm giảm bớt tác động từ cuộc chiến Iran với tình hình năng lượng toàn cầu.
Hồi đầu tháng 4, các quan chức Ukraine đã đến Washington và thúc giục phía Mỹ không gia hạn lệnh miễn trừ trừng phạt với dầu Nga, theo thông tin từ hai quan chức Ukraine am hiểu vấn đề.
Chính quyền Trump sau đó vẫn gia hạn lệnh miễn trừ. Tổng thống Zelensky đã chỉ trích gay gắt động thái này trong một bài đăng trên mạng xã hội, khẳng định "mỗi USD chi trả cho dầu Nga đều là tiền phục vụ các hoạt động trên chiến trường của họ".
Hai quan chức Ukraine cho biết những diễn biến trên càng làm bật lên một thực tế rằng Kiev không còn có thể dựa vào Mỹ.
Tổng thống Zelensky gần đây đưa ra những lời chỉ trích gay gắt bất thường nhắm vào Mỹ, điều từng được coi là "không tưởng" cách đây một năm, khi Kiev hứng chịu nhiều hậu quả trên chiến trường vì bị Washington cắt viện trợ sau "cuộc đấu khẩu thảm họa" ở Nhà Trắng hồi tháng 1/2025.
Lý do khiến Ukraine ngày càng thẳng thắn rất đơn giản. Sau nhiều năm nỗ lực tự chủ sản xuất quốc phòng, họ không còn quá phụ thuộc vào Mỹ như trước, Harry Nedelcu, giám đốc điều hành tại Rasmussen Global, công ty tư vấn chính trị châu Âu, cho hay.
Trong một năm qua, chứng kiến chính sách đối ngoại thay đổi liên tục của Tổng thống Trump, Ukraine hiểu rõ rằng họ cần tự lực cánh sinh nhiều hơn. Nước này đã đẩy mạnh năng lực tự sản xuất vũ khí, trong đó chú trọng vào lĩnh vực máy bay không người lái (UAV), nhằm tạo lợi thế trước các khí tài truyền thống của Nga.
Ukraine hiện có khả năng tự sản xuất được hầu hết các loại UAV mà họ đang sử dụng. Đại sứ Ukraine tại NATO Alyona Getmanchuk cho biết các vũ khí đánh chặn nội địa của nước này đã vô hiệu hóa hơn 60% UAV Nga.
"Chúng tôi cảm thấy mình đã tự chủ hơn trước rất nhiều", bà nói.
Theo Maksym Skrypchenko, Chủ tịch Trung tâm Đối thoại Xuyên Đại Tây Dương, cơ quan nghiên cứu tại Kiev, ngay cả khi nguồn cung vũ khí từ Mỹ cạn kiệt, Ukraine hiện vẫn hoàn toàn có thể xoay xở được.
"Nếu một sáng thức dậy mà không còn hỗ trợ từ Mỹ, tình hình cũng chẳng còn là thảm họa như trước nữa", ông nói. "Mọi chuyện không còn giống như thời chính quyền Biden, khi chúng tôi quá phụ thuộc vào khí tài Mỹ".
Thông tin tình báo từ Mỹ sẽ là thứ khó thay thế nhất, song Skrypchenko cho rằng các nguồn thay thế từ châu Âu cuối cùng cũng có thể lấp đầy khoảng trống này.
Ukraine cũng rất cần các tên lửa đánh chặn Patriot của Mỹ, bởi đây là lá chắn hiệu quả duy nhất giúp chống lại tên lửa đạn đạo Nga. Dù Kiev đang nỗ lực tự sản xuất tên lửa đánh chặn riêng, quá trình vẫn cần thêm thời gian. Tuy nhiên, bất kể mối quan hệ giữa Mỹ và Ukraine ra sao, Washington cũng chỉ có số lượng Patriot hạn chế để cung cấp cho Kiev.
Kiev cũng đang công khai tìm kiếm hỗ trợ từ những nguồn khác. Trong tháng qua, ông Zelensky đã tích cực vận động ủng hộ khắp châu Âu.
Ông gửi lời cảm ơn các nước trong khu vực vì đã hỗ trợ Ukraine khi cuộc chiến tại Iran đe dọa nguồn cung vũ khí cho Kiev. Ông còn ký kết các thỏa thuận chia sẻ công nghệ UAV với các quốc gia Trung Đông, những thương vụ có thể giúp Ukraine thu về hàng tỷ USD để tái đầu tư cho các doanh nghiệp quốc phòng trong nước.
Về vấn đề đàm phán hòa bình, Volodymyr Fesenko, nhà phân tích chính trị Ukraine, lưu ý rằng dù các cuộc thương lượng không tiến triển, chúng vẫn đóng vai trò quan trọng và Kiev không thể từ bỏ mọi mối hợp tác với Mỹ.
"Có thể nói Mỹ không phải là đối tác hay trung gian hòa giải tốt nhất trong các cuộc đàm phán hòa bình", ông cho hay. "Nhưng Mỹ lại là bên trung gian duy nhất có sức ảnh hưởng lớn nhất và thực tế nhất đối với tiến trình hòa bình. Xét theo khía cạnh này, chúng ta không còn lựa chọn nào thay thế".
Dù các cuộc đàm phán đạt được rất ít kết quả, Ukraine vẫn tiếp tục duy trì những bước đi ngoại giao khéo léo với Mỹ.
Khi ông Trump đề xuất một lệnh ngừng bắn kéo dài ba ngày bắt đầu từ cuối tuần trước, ông Zelensky đã đồng ý, bất chấp những nghi ngại lớn tại Ukraine về việc liệu nó có thể được duy trì hay giúp thúc đẩy hòa bình hay không. Ngay ngày đầu tiên, cả Kiev và Moskva đều cáo buộc nhau vi phạm thỏa thuận ngừng bắn.
Hôm 8/5, Tổng thống Zelensky một lần nữa bày tỏ hy vọng rằng các nhà đàm phán của chính quyền Mỹ, trong đó có đặc phái viên Steve Witkoff và con rể ông Trump, Jared Kushner, sẽ tới thăm thủ đô Kiev.
Cả hai người đều đã nhiều lần đến Moskva nhưng vẫn chưa xác nhận kế hoạch tới Kiev. Đến ngày 10/5, ông Zelensky lên tiếng với thái độ khá cứng rắn khi lưu ý rằng thỏa thuận trao đổi tù binh trong khuôn khổ lệnh ngừng bắn vẫn phải được thực hiện, đồng thời khẳng định "chúng tôi mong đợi Mỹ đóng vai trò tích cực trong việc đảm bảo thỏa thuận này được thực thi".
Ông Zelensky thừa nhận rằng cuộc chiến chống Iran đã làm xao nhãng mối quan tâm của các nhà đàm phán khỏi Ukraine và đôi khi dẫn đến những hành động gây hại cho Kiev.
Tháng trước, Phó tổng thống Mỹ JD Vance mô tả cuộc xung đột tại Ukraine hiện chỉ còn là "cuộc mặc cả về vài km vuông lãnh thổ". Ông cũng đặt nghi vấn liệu vùng lãnh thổ ở miền đông Donetsk, vốn là xương sống cho hệ thống phòng thủ tương lai của Ukraine, có xứng đáng để đánh đổi bằng những hy sinh quá lớn về nhân lực hay không.
Trong một cuộc họp báo, ông Zelensky đã đáp lại: "Với tất cả lòng tôn trọng, Phó tổng thống không tham gia vào các cuộc đàm phán. Nếu tham gia, ông Vance có lẽ sẽ hiểu sâu sắc hơn về lãnh thổ của một Ukraine độc lập thực sự là gì".
Vài ngày sau, ông Vance tuyên bố rằng việc Mỹ chấm dứt hỗ trợ tài chính cho Ukraine và để châu Âu chi trả cho công cuộc quốc phòng của Ukraine là "một trong những điều mà tôi tự hào nhất mà chính quyền này đã làm được".
Những hệ lụy từ cuộc chiến Iran đã gây ra nhiều khó khăn cho Tổng thống Zelensky, nhưng chúng cũng khiến ông trở nên quyết liệt hơn. Không chỉ công khai chỉ trích Mỹ, Ukraine còn tiếp tục chiến dịch tấn công bằng UAV tầm xa vào các cơ sở hạ tầng dầu khí trên lãnh thổ Nga, bất chấp những lời kêu gọi dừng lại từ phía Washington.
Nhìn chung, những nước đi của Tổng thống Zelensky khá giống với các lãnh đạo châu Âu khác, những người cũng đang dần giữ khoảng cách với Tổng thống Trump, theo chuyên gia Nedelcu.
Châu Âu đã thay thế Mỹ để trở thành nhà tài trợ lớn nhất cho nỗ lực chiến đấu của Ukraine. Khoản vay 106 tỷ USD gần đây từ EU, chủ yếu tập trung vào chi tiêu quân sự, sẽ giúp Kiev có nền tảng tốt hơn để lên kế hoạch cho một cuộc xung đột mà họ tin rằng sẽ khó lòng kết thúc sớm.
Getmanchuk, đại sứ Ukraine tại NATO, tin rằng nỗ lực hợp tác sâu rộng hơn với châu Âu cuối cùng có thể giúp "Kiev trở thành trụ cột của an ninh châu lục".
Tin Gốc: Vnexpress

Bộ Ngoại giao Hàn Quốc ngày 10/5 cho biết một nhóm điều tra của nước này đã đưa ra kết luận cho rằng vụ nổ và hỏa hoạn trên một con tàu do Hàn Quốc vận hành tại eo biển Hormuz là do bị các "vật thể bay chưa xác định" tấn công.
Theo thông báo của bộ trên, phần đuôi của một tàu chở hàng rời HMM Namu treo cờ Panama do hãng vận tải HMM của Hàn Quốc điều hành đã bị hai vật thể bay chưa xác định tấn công vào ngày 4/5 khi đang mắc cạn ở eo biển Hormuz.
Một tuần trước, Seoul đã thông báo về một vụ nổ và hỏa hoạn trên cùng con tàu này ở eo biển khi đang neo đậu gần Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất (UAE). Không có ai bị thương trong vụ việc.
Tổng thống Mỹ Donald Trump lúc đó cho hay Iran đã "thực hiện một số phát súng" vào tàu chở hàng và các mục tiêu khác, trong khi Đại sứ quán Iran tại Seoul đã ra tuyên bố chính thức vào tuần trước, phủ nhận "một cách mạnh mẽ và tuyệt đối" mọi sự liên quan của quân đội Iran.
Seoul đang điều tra vụ việc, và con tàu đã được kéo đến một cảng ở Dubai sau vụ cháy. Trong khi đó, các giới chức đã tiến hành một cuộc kiểm tra tại chỗ vào hôm 8/5.
Bộ Ngoại giao Hàn Quốc cho hay vẫn chưa chắc chắn các vật thể đó là gì, mặc dù chúng đã được camera giám sát ghi lại. Các nhà chức trách cho biết sẽ thu thập mảnh vỡ tại hiện trường để phân tích kỹ càng.
Theo một đại diện của Bộ Ngoại giao Hàn Quốc, các vật thể được cho là đã va vào đuôi tàu bên trái vào khoảng 15h30 hôm 4/5. Vụ va chạm gây ra hỏa hoạn và làm hư hại một khu vực rộng khoảng 35m2. Hệ thống động cơ, máy phát điện hoặc nồi hơi của tàu cũng không gặp bất kỳ vấn đề gì.
"Chúng tôi cho rằng nguyên nhân gây ra hỏa hoạn không liên quan đến các vấn đề nội bộ trên tàu", quan chức trên nói. Người này cho biết thêm, chính phủ Hàn Quốc đang liên hệ với các nước liên quan, bao gồm cả Iran, về vụ việc.
Tin Gốc: Dân Trí

