Ngày 19/4, Bắc Ninh tổ chức đối thoại giữa lãnh đạo tỉnh, các sở ngành với gần 400 cán bộ công đoàn cơ sở và công nhân trong doanh nghiệp. Nội dung tập trung vào tiền lương, phúc lợi, bảo hiểm xã hội, hưu trí và nhà ở xã hội.
Toàn tỉnh có hơn 26.000 doanh nghiệp với khoảng 820.000 lao động, trong đó 568.000 người làm việc tại các khu công nghiệp. Nhiều ý kiến tại hội nghị phản ánh khoảng cách giữa chính sách và thực tế việc làm, thu nhập của người lao động.
Ông Phạm Văn Trung, Chủ tịch Công đoàn Công ty Goertek Vina – doanh nghiệp điện tử có gần trăm nghìn lao động làm việc tại KCN Quế Võ, đề nghị nghiên cứu giảm tuổi nghỉ hưu với lao động sản xuất. Theo ông, dù tuổi hưu đang tăng theo lộ trình lên 62 với nam vào năm 2028 và 60 với nữ vào năm 2035, doanh nghiệp tư nhân hầu như không bố trí việc làm cho lao động ở độ tuổi này, nhất là vị trí trực tiếp sản xuất do yêu cầu về sức khỏe và năng suất.
“Nhiều lao động buộc phải nghỉ việc sớm, dẫn đến thiệt thòi về thu nhập và quyền lợi bảo hiểm xã hội khi chưa đủ điều kiện hưởng lương hưu”, ông nói.
Bộ luật Lao động quy định tuổi nghỉ hưu tăng dần theo lộ trình, đồng thời cho phép nghỉ sớm tối đa 5 năm với người suy giảm khả năng lao động hoặc làm nghề nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Tuy nhiên, nếu nghỉ trước tuổi, người lao động bị giảm 2% tỷ lệ hưởng lương hưu mỗi năm.
Đây không phải lần đầu xuất hiện đề xuất phân loại nhóm lao động để nghỉ hưu sớm. Trước đó, khi góp ý dự thảo Luật Bảo hiểm xã hội sửa đổi năm 2024, Liên đoàn Lao động TP Hà Nội cũng kiến nghị áp dụng cơ chế này với công nhân trực tiếp sản xuất.
Về tiền lương tối thiểu vùng, bà Vũ Thị Ninh, Chủ tịch Công đoàn Công ty Cổ phần công nghệ cao môi trường Bình Nguyên, cho biết mức lương tối thiểu vùng II hiện là 4,73 triệu đồng mỗi tháng. Mức này chưa theo kịp đà tăng của điện, nước, xăng dầu và nhu yếu phẩm.
“Đề xuất lãnh đạo tỉnh sớm kiến nghị với Chính phủ điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng để đảm bảo thu nhập và giá trị tích lũy của lao động”, bà nói.
Phản hồi các kiến nghị, Phó giám đốc Sở Nội vụ Trần Văn Hà cho biết pháp luật hiện hành đã có các quy định linh hoạt cho phép nghỉ hưu sớm trong một số trường hợp, như làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm. Với đề xuất giảm tuổi hưu, Sở sẽ tổng hợp, báo cáo cấp có thẩm quyền để xem xét trong quá trình hoàn thiện chính sách. Đồng thời, tỉnh sẽ nghiên cứu giải pháp sử dụng lao động cao tuổi phù hợp hơn trong doanh nghiệp.
Về lương tối thiểu, Sở Nội vụ Bắc Ninh cho biết đã báo cáo Bộ Nội vụ trong tháng 4, đề nghị sớm điều chỉnh mức lương tối thiểu vùng phù hợp với chi phí sinh hoạt hiện nay và sẽ tiếp tục theo dõi để kiến nghị bổ sung.
Hiện mức lương tối thiểu áp dụng từ ngày 1/1/2026 là 5,31 triệu đồng với vùng I; 4,73 triệu đồng vùng II; 4,14 triệu đồng vùng III và 3,7 triệu đồng vùng IV. Đây là mức sàn để doanh nghiệp và người lao động thỏa thuận trả lương.
Khảo sát của Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam với 3.000 lao động tại 10 tỉnh, thành cho thấy 55% có thu nhập chỉ đủ chi tiêu cơ bản, 26% phải tằn tiện và 8% không đủ sống, phải làm thêm. Gần 73% lao động độc thân cho biết thu nhập là rào cản chính khiến họ chưa lập gia đình.
Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) tại Việt Nam cho biết giai đoạn 2015-2022, lương tối thiểu danh nghĩa tăng từ 119 USD lên 168 USD/tháng nhưng giá trị thực tăng chậm do lạm phát. Giai đoạn 2015-2019, lương danh nghĩa tăng 42,7% nhưng thực tế chỉ tăng 20,1%; từ 2020-2022, lương danh nghĩa tăng hơn 6%, song thực tế chỉ tăng 0,7%.
Cơ quan này khuyến nghị việc điều chỉnh lương tối thiểu vùng cần dựa trên dữ liệu về lạm phát, tăng trưởng, năng suất lao động và khả năng chi trả của doanh nghiệp, đồng thời bảo đảm theo kịp chi phí sinh hoạt.
Chiều 20-4, Quốc hội thảo luận ở hội trường về kinh tế - xã hội và ngân sách nhà nước, công tác thực hành tiết kiệm, chống lãng phí và tình hình thực hiện mục tiêu quốc gia về bình đẳng giới.
Đại biểu Phạm Trọng Nhân (TP.HCM) cho hay theo báo cáo của Chính phủ, tổng sản phẩm quốc nội (GDP) năm 2025 đạt 8,02%.
Đóng góp vào kết quả này không chỉ từ kinh tế nhà nước và đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI), mà còn đến từ sự bền bỉ của kinh tế tư nhân.
Tuy nhiên phía sau những con số tăng trưởng đó, số lượng doanh nghiệp rời khỏi thị trường vẫn ở mức cao.
Và dù đóng góp hơn một nửa GDP, khu vực này chỉ chiếm khoảng 30% xuất khẩu, số còn lại thuộc về FDI.
"Chênh lệch đó phản ánh thực tế kinh tế tư nhân vẫn chủ yếu hoạt động ở thị trường nội địa, gia công hoặc các phân khúc giá trị thấp. Trong khi những lĩnh vực chiến lược, công nghệ cao và hạ tầng lại thiếu vắng vai trò dẫn dắt của kinh tế tư nhân", ông Nhân nói.
Theo đại biểu, Nghị quyết 198 của Quốc hội là một nỗ lực quan trọng nhằm lấp các khoảng trống của các quy định hiện hành. Tuy nhiên các ưu đãi lãi suất chủ yếu gắn với điều kiện dự án xanh, tiêu chuẩn ESG, tức là hỗ trợ có điều kiện, chứ chưa phải là quyền được bảo vệ một cách thực chất.
Dù đã có nhiều nỗ lực hoàn thiện chính sách, nhưng cách tiếp cận vẫn thiên về hỗ trợ, trong khi điều doanh nghiệp cần không phải là hỗ trợ, bởi còn tư duy hỗ trợ thì khó xóa rào cản xin - cho.
"Điều họ cần là một khung pháp lý vững chắc, ổn định, bình đẳng và có thể thi hành để họ có thể yên tâm đầu tư dài hạn, đặc biệt trong những lĩnh vực mà nền kinh tế đang rất cần như hạ tầng, năng lượng và công nghệ cao", ông Nhân nói.
Đại biểu đoàn TP.HCM nhìn nhận Việt Nam đã hệ thống các nghị quyết, Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu tư, Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa. Nhưng các luật này chủ yếu điều chỉnh từng lĩnh vực cụ thể.
Điều còn thiếu là một nguyên tắc xuyên suốt, có tính nền tảng, bảo đảm quyền và tạo lập niềm tin cho khu vực kinh tế tư nhân trong toàn bộ hệ thống pháp luật.
"Từ việc xác định động lực quan trọng đến động lực quan trọng nhất của nền kinh tế là một bước nhảy lớn trong quan điểm, tư duy, nhưng rất tiếc từ trước đến nay, trên bàn nghị sự của Quốc hội chưa có một báo cáo thường niên chuyên đề về tình hình thực thi các quyền của kinh tế tư nhân", ông Nhân nói.
Theo đại biểu, tại Hội nghị Trung ương ban hành Nghị quyết 68, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước đã chỉ đạo phải kiến tạo hệ sinh thái công bằng.
Cùng với đó, tạo điều kiện để kinh tế tư nhân bứt phá, hình thành các tập đoàn tư nhân đủ năng lực tham gia hạ tầng trọng điểm, công nghệ cao và các lĩnh vực chiến lược, đặt mục tiêu kinh tế tư nhân đóng góp 70% GDP vào năm 2030.
Thủ tướng cũng cam kết tạo mọi điều kiện để doanh nghiệp tư nhân phát triển. Tuy nhiên từ Nghị quyết 68 đến nay, Quốc hội mới chỉ ban hành thêm Nghị quyết 198.
Theo tinh thần Kết luận 17 của Bộ Chính trị, yêu cầu hoàn thành việc thể chế hóa ngay trong năm 2026 các nghị quyết chiến lược, trụ cột của Trung ương và Bộ Chính trị, mà Nghị quyết 68 là một trong số đó.
Từ đó, ông Nhân kiến nghị Quốc hội đưa vào chương trình lập pháp một đạo luật khung có tính nền tảng, Luật Bảo đảm quyền phát triển kinh tế tư nhân, và không thể chậm trễ hơn nữa.
"Đây không phải là một đạo luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh cụ thể, cũng không tạo thêm cơ chế ưu đãi riêng lẻ, mà là xác lập các nguyên tắc nền tảng về bảo vệ quyền, bảo đảm sự ổn định và tính dự báo của môi trường pháp lý, làm cơ sở để các luật chuyên ngành tham chiếu và thực thi thống nhất", ông Nhân nói.
Các tổ máy nhiệt điện than tại những nhà máy điện than của Tổng công ty Phát điện 1 (EVNGENCO1) liên tục được huy động ở cường độ lớn. Đặc biệt tại Trung tâm Điện lực Duyên Hải có sản lượng bốc dỡ than đạt mức cao. Trong giai đoạn nắng nóng tháng 4 và đầu tháng 5, nhu cầu điện tăng mạnh, các nhà máy nhiệt điện Duyên Hải 1, 3 và 3 mở rộng thường xuyên được huy động cao, khiến cho sản lượng điện sản xuất thực tế cao hơn sản lượng kế hoạch.
Tại ba nhà máy của Trung tâm Điện lực Duyên Hải, sản lượng kế hoạch đưa ra là 1,6 tỉ kWh nhưng sản lượng vận hành thực tế lên tới 1,8 tỉ kWh (tăng tới 111,1%). Khối lượng than bốc dỡ cho nhà máy này để đáp ứng nhu cầu huy động lên tới hơn 1 triệu tấn.
Từ 1-5 đến hết ngày 11-5, các nhà máy nhiệt điện đều được huy động ở mức cao. Chẳng hạn Nhà máy nhiệt điện Duyên Hải 1 huy động đạt 224,2 triệu kWh, Duyên Hải 3 huy động 307,2 triệu kWh (trung bình xấp xỉ 28 triệu kWh/ngày) và Duyên Hải 3 mở rộng đạt 102,8 triệu kWh.
Theo ông Lê Hải Đăng - Tổng giám đốc EVNGENCO 1, kế hoạch điều hành trong tháng 5, sản lượng điện toàn tổng công ty được xác định ở mức 3,92 tỉ kWh. Các chỉ tiêu này đòi hỏi công tác vận hành phải được tổ chức chặt chẽ, linh hoạt, bám sát phương thức huy động của hệ thống.
Việc huy động vượt kế hoạch nhiều nhà máy điện than khiến cho ngành than cũng phải căng mình cung ứng đủ nhiên liệu than cho sản xuất điện. Theo Tập đoàn Công nghiệp than - khoáng sản Việt Nam (Vinacomin), trong tháng 4 cung ứng than cho sản xuất điện với sản lượng cấp dự kiến đạt 4,2 triệu tấn, bằng 102,1% kế hoạch tháng và kế hoạch trong tháng 5 này sẽ là 4,3 triệu tấn. "Các đơn vị thuộc tập đoàn đang tiếp tục đẩy mạnh sản xuất, đảm bảo nguồn than sẵn sàng huy động tối đa cho các nhà máy nhiệt điện, đặc biệt là trong các tháng cao điểm mùa khô", một lãnh đạo của tập đoàn này cho biết.
Theo Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), nhu cầu tiêu dùng điện trong quý 2 tăng mạnh do cao điểm mùa khô, nắng nóng kéo dài và tiêu thụ điện tại các khu công nghiệp gia tăng. EVN đã phải yêu cầu các đơn vị phát điện đảm bảo đủ nhiên liệu, sẵn sàng vận hành các tổ máy theo phương thức hệ thống, nâng cao độ khả dụng và tin cậy nguồn điện. Do sản lượng điện than cho toàn hệ thống chiếm khoảng 52,8% nên các đơn vị cung ứng được yêu cầu sẵn sàng huy động ở mức cao hơn kế hoạch.
Trả lời Tuổi Trẻ, đại diện Bộ Công Thương cho hay trong 4 tháng đầu năm 2026, nhu cầu điện toàn hệ thống tăng trưởng khoảng 7,5%. Việc cung ứng năng lượng chịu tác động lớn bởi nhiều yếu tố như căng thẳng ở khu vực Trung Đông đã ảnh hưởng đến việc cung cấp nhiên liệu khí LNG và dẫn đến tăng giá nhiên liệu (khí LNG, than nhập khẩu) cho sản xuất điện.
Đồng thời thời tiết đang có xu hướng diễn biến cực đoan, dự báo các đợt nắng nóng gay gắt xuất hiện với tần suất cao tại nhiều địa phương tăng cao kéo theo nhu cầu tiêu thụ điện tăng mạnh. Các yếu tố ảnh hưởng mang tính toàn cầu, diễn biến nhanh và khó dự báo cũng gây ra những thách thức lớn đối với cân đối cung - cầu điện cả ngắn hạn và dài hạn.
Do đó, việc thực hiện nhiệm vụ đảm bảo cung ứng điện, đáp ứng mục tiêu tăng trưởng hai con số và thực hiện các cam kết chuyển dịch năng lượng là yêu cầu lớn đặt ra. Ngoài ra Bộ Công Thương cũng chỉ ra những khó khăn, thách thức nội tại.
Đó là công suất khả dụng của hệ thống điện quốc gia suy giảm so với tổng công suất đặt, đặc biệt là vào giai đoạn cuối mùa khô do ảnh hưởng của điều kiện thủy văn, mực nước các hồ chứa thủy điện, sự cố của các nguồn nhiệt điện, khả năng cung cấp nhiên liệu và sự cố lưới điện.
Năm 2026 được dự báo là có nền nhiệt độ trung bình và kéo dài các đợt nắng nóng trên diện rộng, đặc biệt tại khu vực miền Bắc và miền Trung. Quá trình chuyển pha giữa La Nina sang El Nino có thể diễn biến khó lường, làm gia tăng sai số trong công tác dự báo phụ tải. Hiện tượng này không chỉ làm nhu cầu phụ tải điện tăng cao đột biến, nhất là vào các giờ cao điểm trưa và chiều, mà còn ảnh hưởng đến chế độ thủy văn, khiến lưu lượng nước về các hồ thủy điện suy giảm.
"Những yếu tố này gây áp lực lớn lên công tác lập kế hoạch vận hành và điều độ hệ thống điện, tiềm ẩn nguy cơ thiếu hụt công suất trong các thời kỳ cao điểm nếu không có các phương án ứng phó kịp thời, linh hoạt", vị này nói.
Ngày 6/5, Chi cục Bảo vệ môi trường (Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Cà Mau), cho biết nguồn nước bơm cát cho dự án lấy từ kênh xáng Cà Mau – Bạc Liêu và kênh Quản Lộ Phụng Hiệp. Trong quá trình thi công, bờ bao đắp thấp bị vỡ tại khu vực kênh Đường Xuồng, khiến nước tràn ra ngoài.
Kết quả phân tích 5 mẫu nước tại kênh Đường Xuồng và ruộng lúa lân cận cho thấy chất lượng nước từ trung bình đến rất xấu. Độ mặn đo được 9,84-14,36‰, vượt ngưỡng để nuôi thủy sản nước ngọt và trồng lúa.
Trước đó, người dân khóm 3 và 4 (phường Tân Thành) phản ánh thi công sân bay khiến nguồn nước thay đổi, nhiều thủy sản chết, đặc biệt là cá bống tượng, gây thiệt hại lớn. Cơ quan chức năng xác định 92 hộ bị ảnh hưởng, tổng diện tích hơn 85 ha.
Ông Phan Thanh Lâm, Giám đốc Cảng hàng không Cà Mau, cho biết nhà thầu đang phối hợp địa phương thống kê thiệt hại từng hộ, làm cơ sở xây dựng phương án hỗ trợ.
Dự án mở rộng Cảng hàng không Cà Mau có tổng vốn khoảng 2.400 tỷ đồng, do Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV) làm chủ đầu tư. Công trình gồm xây dựng đường băng dài 2.400 m, rộng 45 m, cùng hệ thống đường lăn, sân đỗ và mở rộng nhà ga.