Chiến sự giữa Mỹ – Israel với Iran bùng phát cuối tháng 2 cho thấy các nước vùng Vịnh cũng như thế giới vẫn phụ thuộc đáng kể vào eo biển Hormuz để duy trì dòng chảy năng lượng. Một số quốc gia như Arab Saudi, Các tiểu vương quốc Arab Thống nhất (UAE) hay Iraq trước đó đã xây dựng một số đường ống để chuyển hướng xuất khẩu khỏi Hormuz, nhưng vẫn còn hạn chế về công suất.
Thổ Nhĩ Kỳ đang coi cuộc khủng hoảng hiện tại là cơ hội cho nước này vẽ lại bản đồ năng lượng Trung Đông. Với lợi thế là điểm giao cắt của nhiều tuyến đường ống dầu khí, Ankara đang đề xuất các bên xây dựng thêm hạ tầng kết nối qua Thổ Nhĩ Kỳ để thoát phụ thuộc Hormuz.
“Các bạn không thể xuất khẩu khí tự nhiên hóa lỏng (LNG) qua Hormuz. Hãy nghĩ đến việc chuyển một phần khí đốt sang Thổ Nhĩ Kỳ và châu Âu bằng đường ống”, Bộ trưởng Năng lượng Thổ Nhĩ Kỳ Alparslan Bayraktar nói với hãng thông tấn Anadolu. “Chúng tôi đang mở ra tuyến xuất khẩu thay thế cho các bạn”.
Vượt biển Caspi
Bộ trưởng Bayraktar đang thúc đẩy một dự án đã được thảo luận từ lâu là Đường ống khí đốt xuyên Caspi, đưa khí đốt từ Turkmenistan qua biển Caspi tới Azerbaijan và sang châu Âu.
Turkmenistan là nhà xuất khẩu khí đốt lớn, cung cấp khoảng 80 tỷ m3 mỗi năm. Thổ Nhĩ Kỳ đã nhập một phần khí đốt từ Turkmenistan thông qua Iran bằng các thỏa thuận hoán đổi. Theo thỏa thuận, Turkmenistan bơm khí đốt vào đường ống ở đông bắc Iran để nước này tiêu thụ nội bộ cho các tỉnh phía bắc. Đổi lại, Iran trích lượng khí đốt tương đương từ các mỏ ở tây bắc để bơm vào đường ống Thổ Nhĩ Kỳ tại biên giới.
“Nhưng giải pháp đúng đắn, một trong những phương án lý tưởng nhất, là để lượng khí đốt này đi thẳng qua biển Caspi, Azerbaijan và Gruzia rồi đến Thổ Nhĩ Kỳ”, ông Bayraktar nói.
Umud Shokri, chuyên gia năng lượng tại Đại học George Mason, Mỹ cho rằng dự án đường ống xuyên Caspi đang có triển vọng tốt hơn trước, nhưng vẫn bị hạn chế bởi các vấn đề khu vực chưa được giải quyết. Azerbaijan và Turkmenistan cần phê chuẩn Công ước 2018 về quy chế pháp lý của biển Caspi, đặt ra các quy tắc cho đường ống dưới biển.
“Hiệu quả kinh tế rõ ràng kém hơn nhiều. Các ước tính thận trọng cũng cho thấy dự án xây dựng đoạn ống ngầm có thể tốn 2 tỷ USD, trong khi để đạt công suất thương mại 20-30 tỷ m3 mỗi năm cần đầu tư thêm vào khai thác, nén khí và mở rộng hạ tầng phía hạ nguồn”, ông Shokri nói.
Ông Shokri thêm rằng dự án còn đối mặt với hạn chế về nhu cầu, khi thị trường châu Âu ngày càng đa dạng hóa nguồn cung LNG. Nếu không có các hợp đồng mua dài hạn và mức giá cạnh tranh, việc huy động vốn sẽ rất khó khăn.
Dự án Qatar
Giới chức Thổ Nhĩ Kỳ và Qatar đã công khai thể hiện từ năm 2009 rằng họ muốn xây dựng một đường ống kết nối từ mỏ khí đốt North Dome qua Arab Saudi, Jordan, Syria đến Thổ Nhĩ Kỳ. Ý tưởng này khi đó vấp phải sự phản đối từ chính quyền tổng thống Syria Bashar al-Assad.
Sau khi chính quyền ông Assad bị lật đổ hồi tháng 12/2024, Thổ Nhĩ Kỳ muốn khôi phục ý tưởng, nhưng Qatar hồi tháng 1/2025 cho biết họ chưa cân nhắc về dự án, bởi mô hình xuất khẩu LNG bằng đường biển đến lúc đó vẫn phù hợp hơn, có tính linh hoạt cao.
“Dự án đường ống này khả thi về kỹ thuật, nhưng mong manh về kinh tế và chính trị”, Justin Dargin, chuyên gia tại Hội đồng Trung Đông về Các vấn đề Toàn cầu, nói. “Chi phí ước tính cho dự án trước đây khoảng 10-12 tỷ USD, nhưng nếu xét đến rủi ro an ninh, lạm phát và bất ổn chính trị lúc này, con số thực tế có thể lên đến 15 tỷ USD hoặc hơn”.
Nhưng kể từ khi chiến sự nổ ra, cuộc khủng hoảng ở eo biển Hormuz đang làm tăng sức hấp dẫn chiến lược của dự án Qatar. Thách thức lớn nhất ở đây là làm thế nào để đảm bảo an toàn cho tuyến đường ống dài khoảng 1.500 km, đi qua nhiều quốc gia, trước nguy cơ bị tấn công phá hoại từ nhiều thế lực.
Dự án này đòi hỏi sự đồng thuận bền vững giữa Arab Saudi, Jordan, Syria và Thổ Nhĩ Kỳ, và đây là điều kiện cực kỳ khó đạt được trong bối cảnh hiện nay, theo ông Dargin.
Các mỏ dầu Syria
Một đề xuất dễ thực hiện hơn từ Ankara là kết nối các mỏ dầu ở Syria vào đường ống Iraq – Thổ Nhĩ Kỳ, vốn vẫn còn nhiều công suất dư thừa. Hiện nay, Syria chỉ sản xuất khoảng 100.000-120.000 thùng dầu một ngày, thấp hơn nhiều so với mức gần 400.000 thùng một ngày trước khi nội chiến nổ ra năm 2011.
Wael Alzayat, giám đốc điều hành Hội đồng Doanh nghiệp Mỹ – Syria, cho biết cả Syria và Thổ Nhĩ Kỳ đều ủng hộ dự án, nhưng vẫn còn nhiều trở ngại.
“Một số khu vực vẫn do các nhóm dân quân như Lực lượng Dân chủ Syria nắm giữ, chưa bàn giao cho chính quyền Syria”, ông nói. Ngoài ra, tàn dư của tổ chức khủng bố Nhà nước Hồi giáo tự xưng có thể gây mất an ninh.
Theo ông Alzayat, Syria sẽ cần vài tỷ USD để khôi phục và phát triển các mỏ dầu sau nhiều năm nội chiến. Nhưng vì Damascus đang thiếu tiền, họ có thể phải cần hỗ trợ từ bên ngoài. Sau khi có vốn và nâng được sản lượng, việc nối vào hệ thống đường ống sẽ không quá phức tạp.
Mở rộng đường ống Iraq – Thổ Nhĩ Kỳ
Thổ Nhĩ Kỳ cũng nhiều lần đề xuất kéo dài đường ống Iraq – Thổ Nhĩ Kỳ từ Kirkuk xuống Basrah. Tuy nhiên, dự án này vẫn chưa tiến triển do Iraq chưa đạt được đồng thuận chính trị.
Salam Jabbar Shahab, chuyên gia năng lượng Iraq, cho biết sau khủng hoảng tại eo biển Hormuz, Baghdad đang có động lực mạnh hơn để thúc đẩy dự án. Lý do là Iraq cần xuất khẩu khoảng 6,3 tỷ USD dầu mỏ mỗi tháng để trang trải ngân sách, trong đó có trả lương cho công chức. Riêng trong tháng 3, Iraq ước tính đã mất hơn 5,5 tỷ USD từ xuất khẩu dầu do ảnh hưởng của chiến sự Iran.
“Iraq cần đảm bảo xuất khẩu khoảng 3,5 triệu thùng dầu một ngày để có đủ nguồn chi trả cho bộ máy chính phủ”, ông Shahab nói. “Hiện tại, nước này chỉ xuất khẩu khoảng 200.000 thùng một ngày qua tuyến đường ống Kirkuk – Ceyhan”.
Nếu xây dựng đường ống từ Basrah, Iraq sẽ có thêm một hướng xuất khẩu mới cho dầu từ khu vực miền nam sang thị trường châu Âu và châu Á, không phải phụ thuộc vào eo biển Hormuz.
“Tuy nhiên, trở ngại lớn nhất là tìm đủ tiền và đảm bảo an ninh để triển khai cũng như vận hành dự án”, ông Shahab tiếp tục. “Iraq không có đủ nguồn tài chính để xây dựng đường ống này cũng như các cơ sở đi kèm để bơm dầu. Dự án ước tính cần tới hàng tỷ USD và có thể buộc phải vay từ các tổ chức quốc tế”.
Ngoài ra, đường ống cũng đối mặt với rủi ro an ninh nghiêm trọng do đi qua nhiều khu vực, dễ trở thành mục tiêu của các nhóm vũ trang, đồng thời có thể bị kéo vào toan tính chính trị trong bối cảnh Iraq còn chia rẽ.
Mô hình công ty khởi nghiệp nhỏ đã trở nên phổ biến ở Thung lũng Silicon (Mỹ) và nhiều nơi khác, khi những công cụ AI tiên tiến nhanh chóng được coi là một cộng sự đáng hoan nghênh ngay cả khi chúng có thể khiến nhiều nhân viên tại các công ty hiện có bị sa thải.
Ngày càng nhiều người trẻ ở Trung Quốc lựa chọn mô hình nói trên, khi các thành phố cam kết đầu tư hàng triệu USD vào tài trợ và trợ cấp thuê mặt bằng cho các dự án như thế, phù hợp với mục tiêu chính trị của Bắc Kinh về "tự lực công nghệ", theo AFP hôm nay 22.4.
"Công ty một người là sản phẩm của thời đại AI", cô Karen Dai, người sáng lập công ty một người SoloNest có trụ sở tại Thượng Hải, nơi tổ chức các sự kiện cuối tuần dành cho những doanh nhân lập công ty một mình.
Trước đây, việc tự mình điều hành một doanh nghiệp rất khó khăn, nhưng sự hỗ trợ của AI đã "hạ thấp rào cản gia nhập", theo cô Dai.
Vào một ngày chủ nhật ở Thượng Hải, khoảng 20 người ở độ tuổi 20 và 30 đã tập trung tại một phòng hội nghị để tham dự buổi trao đổi ý tưởng kéo dài 3 giờ đồng hồ lần thứ 134 do cô Dai tổ chức về chủ đề tự kinh doanh.
Một người tham dự tên Wang Tianyi hiện kiếm được tới 40.000 nhân dân tệ (hơn 154 triệu)/tháng bằng cách tạo ra các mẫu quảng cáo với sự hỗ trợ của AI cho doanh nghiệp.
Chàng trai 26 tuổi này, đã bỏ công việc quản lý sản phẩm tại một công ty internet vào năm ngoái, dự đoán rằng việc tự kinh doanh sẽ trở thành một xu hướng lớn."Nhờ sự hỗ trợ công nghệ từ AI, (các công ty một người) có lợi thế về hiệu quả", Wang nói với AFP.
Trên mạng xã hội Trung Quốc, trong nhiều năm qua đã có lời than phiền về cái gọi là "lời nguyền tuổi 35", sự phân biệt đối xử về tuổi tác phổ biến trong lĩnh vực công nghệ, chính quyền và các lĩnh vực cạnh tranh khác.
"Ở tuổi 35, dường như có một ranh giới vô hình. Mọi người có thể phải đối mặt với một số thách thức trong công việc. Công ty có thể đánh giá lại xem ai còn phù hợp để ở lại", cô Dai (38 tuổi) nói.
Nhưng những người trẻ tuổi, đã chứng kiến một thập niên tăng trưởng kinh tế nhanh chóng ở Trung Quốc, có khát vọng phát triển, theo cô Dai, tác giả của cuốn sách "Công ty một người".
"Khi đến 30 tuổi hoặc thậm chí trẻ hơn, bạn sẽ tự hỏi: khi tôi đạt đến ranh giới vô hình 35 tuổi, tôi nên chuẩn bị những gì?", cô Dai nói.
Cô Wei Xin (34 tuổi) cư trú tại Thượng Hải, biết rằng công việc của cô với tư cách là người xem xét tài liệu tại một công ty tư vấn nước ngoài sẽ bị thay thế bởi AI trước khi điều đó thực sự xảy ra.
Do đó, cô đã đăng ký một khóa học về mô hình AI đa phương thức Gemini của Google và thử tạo ra một phiên bản kỹ thuật số do AI tạo ra của chính mình, trước khi chuyển sang sáng tạo nội dung trên mạng xã hội.
"Có một chút lo lắng về AI. Nếu tôi không sử dụng, không tiếp cận nó, tôi có thể sớm bị loại bỏ", cô Wei, người đã trở về Trung Quốc vào năm ngoái sau khi lấy được bằng cấp tại Mỹ, chia sẻ.
Nhiều thành phố của Trung Quốc đang triển khai các chính sách hỗ trợ các công ty một người sử dụng AI, và sử dụng chữ viết tắt tiếng Anh "OPC" cho công ty một người. Đây là một cách dùng tiếng Anh khá hiếm trong chính sách chính thức ở Trung Quốc, theo AFP.
Vào tháng 11.2025, thành phố Tô Châu đã cam kết đào tạo "hơn 10.000 nhân tài OPC" vào năm 2028 và rót khoảng 700 triệu nhân dân tệ vào các lĩnh vực như robot AI, chăm sóc sức khỏe và giao thông thông minh.
Thành phố Thành Đô trong tháng trước cũng đã hứa trợ cấp lên đến 20.000 nhân dân tệ cho sinh viên tốt nghiệp để thành lập các công ty một người sử dụng AI.
Những biện pháp như thế là "phần thưởng để giúp các công ty khởi nghiệp này phát triển và thành công", theo ông Kyle Chan, chuyên gia về phát triển công nghệ của Trung Quốc tại Viện Brookings (Mỹ).
Tài trợ cho các OPC là một cách mới, tiết kiệm chi phí để giải quyết vấn nạn thất nghiệp cao trong giới trẻ ở Trung Quốc, theo AFP. "Chi phí để chính quyền địa phương thực hiện việc này cho một OPC là rất thấp", ông Chan nhận định.
"Eo biển Hormuz đại diện cho cơ hội quý giá như bom nguyên tử. Thật vậy, nắm trong tay vị thế có thể tác động tới nền kinh tế toàn cầu chỉ bằng một quyết định duy nhất chính là cơ hội lớn", Mohammad Mokhber, cố vấn của Lãnh tụ Tối cao Iran Mojtaba Khamenei, phát biểu ngày 8/5.
Ông Mokhber khẳng định Iran sẽ không từ bỏ "những thành quả của cuộc xung đột", thêm rằng Tehran sẽ "thay đổi cơ chế pháp lý" của eo biển Hormuz thông qua luật pháp quốc tế trong trường hợp khả thi, nhưng cũng sẵn sàng hành động "đơn phương" nếu cần thiết.
Quan chức Iran không đề cập cụ thể việc thu phí tàu hàng đi qua eo biển Hormuz, nhưng tạp chí hàng hải Lloyd's List cùng ngày đưa tin rằng Tehran đã thành lập một cơ quan để phê duyệt hoạt động quá cảnh cũng như thu phí khi đi qua tuyến đường biển này.
Eo biển Hormuz là tiêu điểm trong xung đột giữa Mỹ và Israel với Iran. Trong thời bình, đây là tuyến đường biển vận chuyển 20% nguồn cung dầu thế giới đến từ vùng Vịnh, các tàu thương mại được tự do đi qua theo quy định của luật pháp quốc tế.
Kể từ khi chiến sự nổ ra, Iran đã phong tỏa eo biển Hormuz, chỉ cho phép tàu của quốc gia "thân thiện" đi qua, với lý do nhằm đảm bảo an ninh cho nước này.
Để vượt eo biển Hormuz, hãng vận hành tàu phải tìm đến bên trung gian có thể liên hệ với Vệ binh Cách mạng Hồi giáo Iran (IRGC) và cung cấp đầy đủ thông tin về phương tiện. Nếu hồ sơ vượt qua quá trình thẩm tra, IRGC sẽ cấp một mã phê duyệt và hướng dẫn cụ thể về tuyến đường mà tàu phải đi để qua eo biển Hormuz.
Mỹ đã áp lệnh phong tỏa các cảng biển Iran từ ngày 13/4, vài ngày sau khi cuộc đàm phán giữa hai bên ở Pakistan không mang lại bước đột phá để chấm dứt xung đột. Tuy nhiên, Iran vẫn tỏ ra cứng rắn về lập trường đàm phán và siết chặt kiểm soát eo biển Hormuz trong những ngày qua, bất chấp áp lực từ Mỹ.
Cuộc đấu hỏa lực giữa hai nước ở eo biển Hormuz ngày 7/5 khiến triển vọng hòa bình thêm xa vời.
Tại buổi họp báo vài giờ sau khi Tổng thống Donald Trump tuyên bố ngừng bắn giữa Mỹ và Iran trong sáng 8.4, ông Caine đã tiết lộ về lượng cà phê và nước tăng lực được các quân nhân sử dụng để giữ sự tỉnh táo trong xung đột với Iran kéo dài gần 6 tuần, Đài CBS News đưa tin.
"Trong suốt cuộc chiến, chúng tôi đã tiêu thụ hơn 6 triệu bữa ăn và theo ước tính của tôi, chúng tôi đã dùng hơn 950.000 gallon cà phê (gần 3,6 triệu l), 2 triệu lon nước tăng lực và rất nhiều nicotine (chất thường có trong thuốc lá)”, ông nói.
Lượng cà phê nói trên tương đương 7,6 triệu tách cà phê. Ông Caine không nêu rõ cách quân đội thống kê lượng cà phê, nước tăng lực đã sử dụng. Việc quan chức quân đội Mỹ đưa ra con số trên phần nào nêu bật tính chất căng thẳng của chiến dịch “Epic Fury” của Mỹ nhằm vào Iran. Ông Dan Caine khẳng định số lượng chất kích thích sử dụng được công khai không nói rằng quân đội Mỹ đang gặp vấn đề.
Ông Caine bày tỏ lòng biết ơn đối với các quân nhân đã chịu đựng những ngày tháng khó khăn. “Đây là công việc gian khổ và khắc nghiệt. Nó hỗn loạn, nóng bức, tối tăm, khó lường và luôn tiềm ẩn những điều không biết trước”, ông nói.
Quân đội Mỹ có sự gắn kết mật thiết đến văn hóa uống cà phê. Trong thời kỳ Nội chiến Mỹ (giữa thế kỷ 19), binh sĩ đôi khi đình chiến và phe miền bắc dùng hạt cà phê để đổi lấy thuốc lá từ miền nam, trước khi trở lại giao tranh, theo trang Grand Pinnacle Tribune.
Người Mỹ cũng sử dụng từ lóng để gọi 1 tách cà phê là “cup of Joe”. từ này bắt nguồn từ thời Thế chiến 1, khi cố Bộ trưởng Hải quân Mỹ Josephus Daniels đã cấm sử dụng rượu trên các tàu chiến, biến cà phê trở thành thức uống “mạnh nhất” trên tàu. Các thủy thủ khi đó đã gọi tách cà phê là “cup of Joe” như một cách chơi chữ dựa theo tên của ông Daniels.