Từ lúc mở cửa thị trường tới 9 giờ 30 hôm nay 16.4, Công ty vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) chỉ điều chỉnh giá vàng 1 lần.
Giá mua vào và bán ra mỗi lượng vàng miếng SJC là 168,5 – 172,5 triệu đồng, giảm 1,5 – 1 triệu đồng so với chốt ngày 15.4. Chênh lệch giá mua – bán lên tới 4 triệu đồng/lượng.
Hôm qua, sau nhịp tăng vọt đầu tiên, giá vàng miếng SJC được điều chỉnh giảm 5 lần liên tiếp. Như vậy, từ hôm qua tới nay, giá vàng miếng SJC được điều chỉnh giảm dồn dập 6 lần.
So với mức giá cao nhất từ đầu tháng 3 tới nay ghi nhận ngày 2.3 (187,9 – 190,9 triệu đồng/lượng), giá mua vào và bán ra mỗi lượng vàng miếng SJC đã giảm 19,4 – 18,4 triệu đồng.
Giá vàng SJC trong nước hiện cao hơn giá vàng thế giới 19,5 triệu đồng/lượng, giảm đáng kể so với mức 28 – 30 triệu đồng/lượng cách đây không lâu. Tuy nhiên, các chuyên gia cho rằng chênh 19,5 triệu đồng/lượng vẫn là quá cao, mức phù hợp chỉ khoảng 7 – 8 triệu đồng/lượng.
Sáng nay, giá bạc lại tăng so với chốt ngày 15.4. Suốt từ khi mở cửa thị trường cho tới 9 giờ 30, mỗi kg bạc được bán ra trên 82 triệu đồng.
Lúc 9 giờ 8, Công ty cổ phần kim loại quý Ancarat Việt Nam niêm yết giá mua vào và bán ra bạc 1 lượng là 2,997 – 3,090 triệu đồng, tăng 44.000 – 46.000 đồng; bạc 1 kg là 79,920 – 82,4 triệu đồng, tăng 1,17 – 1,22 triệu đồng.
Tại thời điểm 9 giờ 6, Công ty Vàng bạc đá quý Phú Quý niêm yết mua vào và bán ra bạc 1 lượng như sau: 3,011 – 3,104 triệu đồng, tăng 60.000 – 62.000 đồng; bạc 1 kg có giá 80,293 – 82,773 triệu đồng, tăng 1,6 – 1,65 triệu đồng.
Một tháng trở lại đây (16.3 – 16.4), giá bạc chủ yếu bán ra ở vùng dưới 80 triệu đồng/kg. Mức giá cao nhất ghi nhận ngày 17.3 (bán ra trên 84 triệu đồng/kg) và thấp nhất là ngày 23.3 (bán ra trên 64 triệu đồng/kg).
So với mức giá cao nhất từ tháng 3 tới nay ghi nhận ngày 2.3 (bán ra gần 99 triệu đồng/kg), giá mỗi kg bạc đã giảm khoảng 16 triệu đồng.
Trên thị trường thế giới, giá vàng giao ngay tại thời điểm 9 giờ 18 (giờ Việt Nam) hôm nay là 4.821,5 USD/ounce, tăng 31,5 USD/ounce (tương đương 0,66%); giá bạc giao ngay là 80,05 USD/ounce, tăng 1,19 USD/ounce (tương đương 1,51%) so với chốt phiên hôm qua.
Điều 13, Nghị định 133/2026/NĐ-CP quy định về mức phạt tiền đối với vi phạm các quy định về sử dụng điện, cụ thể như sau:
Phạt tiền từ 3-5 triệu đồng đối với hành vi cản trở người có thẩm quyền kiểm tra việc sử dụng điện.
Phạt tiền từ 3-5 triệu đồng đối với một trong các hành vi vi phạm sau đây: sử dụng phương tiện, thiết bị và hành vi khác làm hư hỏng, gây sự cố hệ thống điện của bên bán điện; sử dụng điện sai mục đích có mức giá cao hơn mức giá đã thoả thuận trong hợp đồng; không thông báo cho bên bán điện khi giảm số hộ sử dụng điện dùng chung công tơ hoặc giảm định mức sử dụng điện sinh hoạt hoặc kê khai không đúng số người sử dụng điện để cấp định mức sử dụng điện sinh hoạt nhiều hơn thực tế.
Phạt tiền từ 5-8 triệu đồng đối với hành vi tự ý lắp đặt, đóng, cắt, sửa chữa, di chuyển, thay thế các thiết bị điện và công trình điện của bên bán điện.
Phạt tiền từ 8-10 triệu đồng đối với hành vi tự ý đóng điện dùng khi công trình sử dụng điện của bên mua điện chưa nghiệm thu; khi đang trong thời gian bị ngừng cấp điện do vi phạm quy định của pháp luật.
Phạt tiền từ 10-14 triệu đồng đối với hành vi sử dụng thiết bị (phương tiện) đo đếm điện không được kiểm định, hiệu chuẩn, thử nghiệm theo quy định của pháp luật về đo lường.
Phạt tiền đối với hành vi trộm cắp điện dưới mọi hình thức như sau: phạt tiền từ 4-10 triệu đồng đối với hành vi trộm cắp điện với giá trị sản lượng điện trộm cắp dưới 1 triệu đồng; phạt tiền từ 10-20 triệu đồng đối với hành vi trộm cắp điện với giá trị sản lượng điện trộm cắp từ 1 triệu đồng đến dưới 2 triệu đồng.
Phạt tiền từ 20-30 triệu đồng đối với người cho thuê nhà thu tiền điện của người thuê nhà cao hơn quy định trong trường hợp mua điện theo giá bán lẻ điện để phục vụ mục đích sinh hoạt.
Phạt tiền từ 60-80 triệu đồng đối với một trong các hành vi vi phạm của khách hàng sử dụng điện lớn sau đây: sử dụng trang thiết bị sử dụng điện, trang thiết bị đấu nối không đáp ứng các yêu cầu kỹ thuật, quy chuẩn kỹ thuật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành để đấu nối vào lưới điện quốc gia; không thực hiện các lệnh thao tác của cấp điều độ có quyền điều khiển; không thực hiện cắt điện, giảm mức tiêu thụ điện khi có yêu cầu của bên bán điện do sự cố bất khả kháng; không thực hiện đầu tư các thiết bị đo đếm điện, hệ thống thu thập và quản lý số liệu đo đếm điện theo quy định, trừ trường hợp có thỏa thuận khác nhưng không trái với quy định của pháp luật.
Ngoài ra, Nghị định cũng quy định, khi phát hiện hành vi trộm cắp điện với giá trị sản lượng điện trộm cắp từ 2 triệu đồng trở lên hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp được quy định tại Điều 173, Bộ luật Hình sự thì người có thẩm quyền xử phạt phải chuyển hồ sơ vi phạm đến cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng hình sự để truy cứu trách nhiệm hình sự.
Theo quy định tại điểm c khoản 11 Điều 13, Nghị định 133/2026/NĐ-CP quy định về biện pháp khắc phục hậu quả: buộc nộp lại số lợi bất hợp pháp có được do thực hiện vi phạm hành chính (bao gồm cả mọi chi phí phát sinh do hành vi vi phạm gây ra) để hoàn trả cho cá nhân, tổ chức bị chiếm đoạt đối với hành vi vi phạm quy định tại khoản 7 Điều này.
Người cho thuê nhà phải hoàn trả cho người thuê nhà số tiền đã thu thừa cộng với lãi suất do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng. Trường hợp không xác định được cá nhân, tổ chức để hoàn trả thì nộp toàn bộ số tiền chênh lệch vào ngân sách Nhà nước.
Như vậy, từ ngày 25/5, nếu người cho thuê nhà thu tiền điện của người thuê nhà cao hơn quy định trong trường hợp mua điện theo giá bán lẻ điện để phục vụ mục đích sinh hoạt thì sẽ bị phạt tiền từ 20-30 triệu đồng, buộc hoàn trả cho người thuê nhà số tiền đã thu thừa cộng với lãi suất do hai bên thoả thuận trong hợp đồng và thẩm quyền lập biên bản và xử phạt hành chính là Chủ tịch UBND cấp xã.
Trước đó, Bộ Công thương ban hành Quyết định số 571/QĐ-BCT ngày 28.3 tạm ngưng hiệu lực đối với quy định "dầu hỏa" tại khoản 1 điều 6a Thông tư số 38/2014/TT-BCT ngày 24.10.2014 quy định chi tiết một số điều của Nghị định số 83/2014/NĐ-CP ngày 3.9.2014 của Chính phủ về kinh doanh xăng dầu.
Bộ Công thương lý giải, quyết định tạm ngưng hiệu lực quy định liên quan đến mặt hàng dầu hỏa được thực hiện trên cơ sở đánh giá đầy đủ cả về pháp lý và thực tiễn thị trường.
Cụ thể, về thực tiễn, dầu hỏa hiện không còn là mặt hàng tiêu dùng phổ biến. Sản lượng tiêu thụ rất thấp, chỉ chiếm khoảng 0,25% tổng tiêu thụ xăng dầu, chủ yếu phục vụ một số mục đích đặc thù trong công nghiệp; nhu cầu trong dân sinh (thắp sáng, đun nấu) đã giảm mạnh do được thay thế bởi điện và các nhiên liệu khác.
Do đó, việc tiếp tục đưa dầu hỏa vào nhóm mặt hàng để Nhà nước công bố giá cơ sở và điều hành giá định kỳ là không còn phù hợp với thực tế.
Về pháp lý, Bộ Công thương khẳng định, các quy định hiện hành chỉ xác định danh mục các mặt hàng xăng dầu, còn khái niệm "mặt hàng tiêu dùng phổ biến" được sử dụng phục vụ công tác điều hành giá không phải là danh mục cứng mang tính bắt buộc.
Theo đó, việc tạm ngưng hiệu lực quy định coi dầu hỏa là mặt hàng tiêu dùng phổ biến là phù hợp thẩm quyền và không trái với quy định pháp luật hiện hành.
Xét trong bối cảnh thực hiện các nghị quyết của Chính phủ và yêu cầu điều hành giá xăng dầu, Bộ Công thương cho rằng, nếu tiếp tục coi dầu hỏa là mặt hàng tiêu dùng phổ biến thì khi giá mặt hàng này biến động mạnh (có thời điểm tăng trên 15%) sẽ kích hoạt cơ chế điều hành giá xăng dầu, dẫn đến việc điều chỉnh giá đối với các mặt hàng thiết yếu khác như xăng và dầu diesel. Điều này có thể gây tác động không cần thiết đến mặt bằng giá, lạm phát và hoạt động sản xuất kinh doanh.
Do đó, việc tạm ngưng hiệu lực đối với dầu hỏa là giải pháp kịp thời, cần thiết, nhằm bảo đảm điều hành giá xăng dầu linh hoạt, sát thực tiễn và tránh biến động "giật cục".
Cũng theo Bộ Công thương, đối với cơ chế quản lý hiện nay, dầu hỏa vẫn là mặt hàng thuộc danh mục xăng dầu, được kinh doanh theo quy định của pháp luật về kinh doanh xăng dầu; không còn thuộc nhóm mặt hàng Nhà nước công bố giá cơ sở và điều hành giá định kỳ.
Giá bán được thực hiện theo cơ chế thị trường, do doanh nghiệp quyết định trên cơ sở cung cầu và chi phí. Nhà nước vẫn thực hiện quản lý về chất lượng, tiêu chuẩn, an toàn và nguồn cung theo quy định hiện hành.
Kỳ điều hành giá xăng dầu gần nhất được liên bộ Công thương - Tài chính công bố, áp dụng từ sau 15 giờ ngày 23.4. Trong kỳ điều hành này, liên bộ Công thương - Tài chính quyết định trích lập 400 đồng/lít đối với dầu diesel và 400 đồng/kg đối với dầu mazut; không chi quỹ đối với tất cả các mặt hàng xăng dầu.
Hiện nay, giá xăng E5RON 92 ở mức 21.834 đồng/lít, xăng RON 95 là 22.880 đồng/lít, dầu diesel 26.697 đồng/lít và dầu mazut 18.811 đồng/kg.
Ngày 7/5, UBND tỉnh Nghệ An tổ chức buổi làm việc về phương án đầu tư xây dựng Khu bến cảng Đông Hồi, phường Tân Mai.
Toàn bộ Quy hoạch khu bến cảng Đông Hồi thuộc phạm vi mở rộng Khu kinh tế Đông Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 490/QĐ-TTg ngày 27/3/2026.
Trước đó, theo Quy hoạch chi tiết khu bến cảng Đông Hồi được Bộ Giao thông Vận tải phê duyệt tại Quyết định số 838/QĐ-BGTVT ngày 28/4/2011, khu bến cảng có tổng diện tích 1.096,7 ha, gồm 540,4 ha vùng đất và 556,3 ha vùng nước; chức năng là cảng chuyên dùng; tổng số 19 bến, gồm 4 bến cho nhà máy nhiệt điện, 4 bến cho nhà máy thép, 11 bến cho nhà máy xi măng và vật liệu xây dựng; cỡ tàu tối đa 50.000 tấn.
Theo quy hoạch đến năm 2030, khu bến cảng Đông Hồi có chức năng bến tổng hợp, hàng rời, hàng lỏng/khí. Cỡ tàu hàng tổng hợp và hàng rời từ 50.000-70.000 tấn; tàu hàng lỏng/khí đến 150.000 tấn.
Quy mô gồm 3 bến cảng với 5-6 cầu cảng, trong đó, có 1 cầu cảng của Nhà máy Nhiệt điện khí LNG Quỳnh Lập, 2 cầu cảng thuộc bến Đông Hồi 1 và 2-3 cầu cảng thuộc bến Đông Hồi 2. Tổng diện tích quy hoạch gồm 87,81 ha vùng đất và 15,63 ha vùng nước.
Việc sớm hình thành khu bến cảng Đông Hồi là yêu cầu cấp thiết khi hiện nay nhu cầu xuất khẩu hàng hóa tăng nhanh, riêng khu vực Bắc Nghệ An có khoảng 3 triệu tấn hàng hóa đang phải trung chuyển qua cảng Nghi Sơn. Do đó, đầu tư cảng tại Đông Hồi sẽ góp phần giảm chi phí logistics, tăng năng lực cạnh tranh và chủ động hơn về hạ tầng vận tải biển cho khu vực.
Tại buổi làm việc, ông Võ Trọng Hải - Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An - nhấn mạnh, hệ thống cảng biển có vai trò đặc biệt quan trọng đối với phát triển kinh tế-xã hội của Nghệ An, trong đó có cảng biển Đông Hồi. Việc sớm triển khai đầu tư xây dựng khu bến Đông Hồi phải được thực hiện bằng quyết tâm chính trị cao nhất trong nhiệm kỳ này, hướng tới mục tiêu hình thành cảng biển hiện đại, đủ khả năng phục vụ nhu cầu xuất nhập khẩu của Nghệ An, khu vực Bắc Trung Bộ và kết nối hàng hóa từ nước bạn Lào.
Đặc biệt, sau khi tuyến cao tốc Vinh-Thanh Thủy hoàn thành, với lợi thế khoảng cách ngắn, lưu lượng hàng hóa từ Lào và 10 tỉnh bắc Thái Lan dự kiến tăng mạnh, mở ra dư địa lớn cho Nghệ An phát triển logistics, dịch vụ cảng biển và khai thác lợi thế cửa ngõ giao thương quốc tế. Do vậy, Nghệ An phải tập trung đẩy nhanh tiến độ để cùng với cảng Cửa Lò hình thành hệ thống cảng biển trọng yếu, tạo thêm động lực phát triển kinh tế.
Vì vậy, trên cơ sở quy hoạch đã được phê duyệt, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Nghệ An giao Ban Quản lý Khu kinh tế Đông Nam chủ trì rà soát toàn bộ khu bến cảng Đông Hồi; các sở, ngành liên quan thực hiện thẩm định theo chức năng, nhiệm vụ.
Chủ tịch UBND tỉnh cũng yêu cầu quá trình thẩm định, triển khai phải thực hiện chặt chẽ, đúng quy hoạch, đúng quy định pháp luật; tuyệt đối không để xảy ra sai sót trong quá trình triển khai dẫn đến hệ lụy kéo dài về sau.
Chủ tịch UBND tỉnh nhấn mạnh quan điểm xuyên suốt là "làm nhanh nhưng phải đúng quy hoạch, đúng quy định". Quan điểm của tỉnh là chỉ lựa chọn những nhà đầu tư thực sự có năng lực và cam kết triển khai thực chất. Các trường hợp đăng ký giữ chỗ, chậm triển khai hoặc không đủ năng lực kiên quyết thu hồi dự án theo quy định nhằm tránh lãng phí nguồn lực và làm mất cơ hội thu hút các nhà đầu tư chiến lược khác.