Trước thềm Đại hội đồng cổ đông thường niên dự kiến tổ chức ngày 25/4 tới đây, Tổng Công ty cổ phần Xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam (Vinaconex, HoSE: VCG) đang trở thành tâm điểm chú ý khi bước vào kỳ họp trong bối cảnh đan xen giữa kết quả kinh doanh đột biến, biến động nhân sự cấp cao và những câu hỏi lớn về chiến lược phát triển trong giai đoạn tới – những yếu tố gợi mở nhìn lại hành trình nhiều thăng trầm của doanh nghiệp này.
Hành trình hơn 3 thập kỷ: Tăng trưởng, khủng hoảng và tái định vị
Hành trình phát triển của Vinaconex có thể xem là một lát cắt thu nhỏ của nền kinh tế Việt Nam trong gần 40 năm qua.
Thành lập năm 1988 trong bối cảnh đổi mới, doanh nghiệp ban đầu đóng vai trò là đơn vị xây dựng phục vụ hợp tác quốc tế, trước khi từng bước mở rộng sang các lĩnh vực xây dựng dân dụng, công nghiệp và hạ tầng từ giữa thập niên 1990.
Giai đoạn 2000-2010 đánh dấu thời kỳ tăng trưởng mạnh, khi Vinaconex ghi dấu ấn với hàng loạt dự án lớn, từ khu đô thị Trung Hòa – Nhân Chính đến các công trình giao thông, sân bay và công nghiệp.
Tuy nhiên, việc mở rộng nhanh trong bối cảnh thị trường thuận lợi cũng khiến doanh nghiệp chịu áp lực khi chu kỳ đảo chiều. Sau khủng hoảng 2008-2012, nhiều dự án gặp khó khăn, điển hình là Cát Bà Amatina, kéo theo những vấn đề về dòng tiền và hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp.
Bước ngoặt quan trọng đến vào năm 2018, khi Nhà nước thoái toàn bộ hơn 57% vốn, đưa Vinaconex chuyển hẳn sang mô hình doanh nghiệp tư nhân. Quá trình này đi kèm với giai đoạn tranh chấp cổ đông kéo dài trước khi dần ổn định từ năm 2020.
Trong những năm gần đây, doanh nghiệp cho thấy sự phục hồi rõ nét, đặc biệt ở mảng xây lắp. Giai đoạn 2020-2024, Vinaconex trúng thầu gần 55.000 tỷ đồng các gói xây dựng, chủ yếu là các dự án hạ tầng.
Kết quả kinh doanh năm 2025 phần nào phản ánh giai đoạn tăng tốc này, với doanh thu hơn 16.000 tỷ đồng, tăng 25% so với năm trước. Lợi nhuận sau thuế đạt trên 4.100 tỷ đồng – mức cao nhất trong nhiều năm.
Tuy nhiên, bức tranh lợi nhuận cũng cho thấy sự phụ thuộc đáng kể vào hoạt động tài chính, khi riêng khoản lãi từ chuyển nhượng công ty con đóng góp hơn 3.000 tỷ đồng.
Sau cổ phần hóa, Vinaconex bước vào giai đoạn tái cấu trúc sâu rộng dưới sự dẫn dắt của ông Đào Ngọc Thanh từ năm 2019. Đây là thời điểm doanh nghiệp phải đồng thời xử lý nhiều vấn đề, từ ổn định cơ cấu cổ đông đến tái định vị chiến lược và khôi phục hoạt động kinh doanh.
Trong khoảng 5 năm, ban lãnh đạo đã từng bước đưa doanh nghiệp trở lại quỹ đạo ổn định.
Mảng xây dựng được xác định là trụ cột, đóng góp 60-70% doanh thu, với việc liên tục trúng thầu các dự án lớn như cao tốc Bắc – Nam hay các hạng mục trọng điểm tại sân bay Long Thành.
Đồng thời, Vinaconex duy trì các khoản đầu tư vào năng lượng, nước sạch, giáo dục – những lĩnh vực tạo dòng tiền ổn định và biên lợi nhuận cao, giúp cân bằng rủi ro chu kỳ.
Chiến lược của giai đoạn này thiên về “xây nền”, tập trung củng cố năng lực cốt lõi và chuẩn bị cho giai đoạn phát triển dài hạn, thay vì mở rộng nóng.
Tuy nhiên, quá trình chuyển giao sang thế hệ lãnh đạo mới lại diễn ra trong bối cảnh nhạy cảm. Sau khi ông Đào Ngọc Thanh rời vị trí Chủ tịch vì lý do sức khỏe, ông Nguyễn Hữu Tới – một lãnh đạo gắn bó lâu năm được bổ nhiệm thay thế.
Song chỉ sau thời gian ngắn ngồi “ghế nóng”, ông Tới bị bắt tạm giam để phục vụ điều tra liên quan đến vi phạm quy định về đấu thầu, khiến bộ máy lãnh đạo cấp cao tiếp tục có sự xáo trộn trong đầu năm 2026.
Biến động nhân sự diễn ra trong bối cảnh hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp cũng xuất hiện nhiều điểm đáng chú ý.
Năm 2025, Vinaconex ghi nhận doanh thu thuần 16.064 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế 4.129 tỷ đồng, tăng mạnh so với năm trước. Tuy nhiên, phần lớn mức tăng trưởng đến từ doanh thu tài chính 3.584 tỷ đồng, trong đó hơn 3.075 tỷ đồng là lãi từ chuyển nhượng công ty con, chủ yếu liên quan đến dự án Cát Bà Amatina.
Ở chiều ngược lại, hoạt động cốt lõi không có nhiều đột biến. Riêng quý IV/2025, doanh thu đạt 4.651 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế 347 tỷ đồng, gần như đi ngang so với cùng kỳ. Điều này cho thấy kết quả kinh doanh vẫn phụ thuộc đáng kể vào các khoản thu mang tính chất một lần.
Cùng với đó, cấu trúc tài chính cũng có những biến động đáng chú ý. Tại cuối năm 2025, tổng tài sản đạt 31.529 tỷ đồng, trong đó các khoản phải thu ngắn hạn lên tới 12.330 tỷ đồng, gấp đôi đầu năm. Đáng chú ý, khoản cho vay ngắn hạn tăng vọt lên 6.139 tỷ đồng, gấp gần 10 lần nhưng chưa được thuyết minh chi tiết.
Ở phía nguồn vốn, nợ phải trả đạt gần 18.954 tỷ đồng, với nợ ngắn hạn chiếm phần lớn và tăng hơn 23%, trong khi nợ dài hạn giảm mạnh do doanh nghiệp chủ động cơ cấu lại vay nợ.
Song song với các vấn đề tài chính, Vinaconex vẫn duy trì hiện diện tại nhiều dự án hạ tầng lớn, nổi bật là vai trò trong liên danh Vietur thực hiện gói thầu hơn 35.000 tỷ đồng tại sân bay Long Thành.
Bước vào năm 2026, Vinaconex đứng trước cơ hội từ làn sóng đầu tư công với nhiều dự án hạ tầng quy mô lớn dự kiến triển khai đến năm 2030, tạo dư địa duy trì vị thế trong mảng xây dựng nhờ lượng backlog hiện có.
Tuy nhiên, vấn đề không chỉ nằm ở quy mô tăng trưởng mà còn ở chất lượng lợi nhuận, khi mảng xây lắp vốn là nguồn thu chủ lực vẫn có biên lợi nhuận thấp, còn kết quả đột biến năm 2025 chủ yếu đến từ hoạt động tài chính mang tính một lần.
Bên cạnh đó, áp lực minh bạch tài chính gia tăng khi các khoản phải thu và cho vay ngắn hạn tăng mạnh nhưng chưa được thuyết minh đầy đủ, đặt ra yêu cầu làm rõ về mục đích sử dụng vốn và mức độ rủi ro.
Ở mảng bất động sản, sau khi thoái vốn dự án Cát Bà Amatina, bài toán tìm kiếm dự án gối đầu trở nên cấp thiết để duy trì động lực tăng trưởng trung hạn.
Đáng chú ý, tại ĐHĐCĐ 2026, doanh nghiệp dự kiến miễn nhiệm hai thành viên HĐQT là ông Nguyễn Hữu Tới và ông Dương Văn Mậu, đồng thời bầu bổ sung nhân sự mới trong bối cảnh bộ máy lãnh đạo vừa trải qua biến động lớn liên quan đến vụ việc bị khởi tố, bắt tạm giam.
Song song, Vinaconex trình kế hoạch kinh doanh với xu hướng thận trọng: tổng doanh thu và thu nhập dự kiến 15.423 tỷ đồng (giảm 22%), lợi nhuận sau thuế 1.037 tỷ đồng (giảm 73% so với mức kỷ lục 2025); riêng công ty mẹ đặt mục tiêu lợi nhuận 1.018 tỷ đồng, giảm 70%.
Doanh nghiệp cũng dự kiến chia cổ tức 2025 ở mức 16%, gồm 8% tiền mặt và 8% cổ phiếu, qua đó tăng vốn điều lệ lên gần 7.000 tỷ đồng.
Việc vừa ghi nhận lợi nhuận đột biến trong năm trước lại đặt kế hoạch “đi lùi” trong năm 2026 cho thấy sự điều chỉnh kỳ vọng, đồng thời làm nổi bật những câu hỏi của cổ đông về tính bền vững trong tăng trưởng, chất lượng lợi nhuận và năng lực quản trị sau biến động nhân sự cấp cao.
Nghị định 141/2026/NĐ-CP ban hành ngày 29/4 quy định ngưỡng doanh thu miễn thuế của hộ kinh doanh cá thể được nâng từ 500 triệu đồng/năm lên 1 tỷ đồng/năm, có hiệu lực từ ngày 1/1/2026.
Do đó, việc kê khai thuế theo quý chỉ áp dụng đối với hộ kinh doanh có doanh thu trên 1 tỷ đồng/năm.
Hộ kinh doanh có doanh cá thể thu từ 1 tỷ đồng/năm trở xuống thuộc diện không phải nộp thuế, chỉ phải thực hiện thông báo doanh thu (mỗi năm 1 lần hoặc 2 lần đối với năm đầu tiên ra kinh doanh) theo Mẫu số 01/TKN-CNKD quy định tại Thông tư 18/2026/TT-BTC.
Thuế cơ sở 8 tỉnh Bắc Ninh có hướng dẫn xử lý theo từng trường hợp cụ thể:
Nhóm hộ kinh doanh cá thể có doanh thu năm từ trên 500 triệu đồng đến 1 tỷ đồng thuộc trường hợp không phải nộp thuế, không phải kê khai thuế theo quý. Do sự điều chỉnh ngưỡng doanh thu miễn thuế, với nhóm hộ này, hiện có 3 trường hợp xảy ra.
Thứ nhất, nếu hộ kinh doanh cá thể chưa nộp tờ khai quý 1: thực hiện thông báo số tài khoản ngân hàng đến cơ quan thuế, theo dõi doanh thu theo sổ kế toán.
Trường hợp đến hết năm 2026, doanh thu không vượt quá 1 tỷ đồng: thực hiện gửi thông báo doanh thu theo Mẫu số 01/TKN-CNKD tới cơ quan thuế chậm nhất ngày 31/1/2027.
Trường hợp hộ mới ra kinh doanh: lần 1, gửi thông báo doanh thu 6 tháng đầu năm tới cơ quan thuế chậm nhất ngày 31/7/2026; lần 2, gửi thông báo doanh thu 6 tháng cuối năm tới cơ quan thuế chậm nhất ngày 31/1/2027.
Trường hợp hộ kinh doanh trong năm 2026 có doanh thu vượt trên 1 tỷ đồng so với dự kiến: thực hiện kê khai tờ khai tại quý phát sinh doanh thu vượt ngưỡng; nộp thuế phát sinh vào ngân sách nhà nước.
Thứ hai, nếu hộ đã nộp tờ khai quý 1 nhưng chưa nộp tiền: khi đã nộp tờ khai quý 1 đồng nghĩa với việc hộ kinh doanh đã thực hiện thông báo số tài khoản ngân hàng, kê khai doanh thu và xác định số thuế phải nộp, hướng xử lý là tạm thời chưa nộp tiền, chờ hướng dẫn thêm từ cơ quan thuế.
Nếu lo ngại việc phát sinh tiền chậm nộp, hộ có thể điều chỉnh doanh thu về 0 để không còn nghĩa vụ thuế; đồng thời vẫn giữ được phụ lục số tài khoản ngân hàng mà không cần kê khai lại.
Về việc hủy tờ khai, hệ thống hiện tại không hỗ trợ hủy hồ sơ trực tuyến. Nếu thực hiện hủy phải lập hồ sơ giấy, thông báo lại số tài khoản và cơ quan thuế phải xử lý thủ công, gây mất thời gian cho cả hai bên. Vì vậy, cơ quan thuế không khuyến nghị thực hiện theo hướng này.
Ngoài ra, hộ kinh doanh cần tiếp tục theo dõi doanh thu: nếu đến hết năm 2026 doanh thu không vượt quá 1 tỷ đồng thì thực hiện thông báo doanh thu như trên. Nếu doanh thu vượt trên 1 tỷ đồng thì kê khai và nộp thuế tại quý phát sinh vượt ngưỡng.
Thứ ba, nếu hộ kinh doanh cá thể đã nộp tờ khai quý 1 và đã nộp tiền vào ngân sách Nhà nước: thực hiện tương tự như hướng dẫn tại trường hợp thứ hai.
Đồng thời, hộ tiến hành xử lý với số tiền đã nộp như sau: trường hợp đến hết năm 2026, doanh thu không vượt quá 1 tỷ đồng thì thực hiện thủ tục hoàn thuế.
Trường hợp trong năm 2026, doanh thu dự kiến vượt trên 1 tỷ đồng: số tiền đã nộp được bù trừ với số thuế phát sinh tại các kỳ khai thuế sau, nếu còn thiếu thì thực hiện nộp bổ sung.
Cơ quan thuế đặc biệt lưu ý, hiện tại, hộ kinh doanh cá thể không nên thực hiện thủ tục hoàn thuế ngay. Doanh thu năm 2026 còn biến động, chưa đủ cơ sở xác định có phát sinh nghĩa vụ thuế hay không. Cơ quan thuế cũng chưa có căn cứ để xử lý hoàn thuế.
Tại Đại hội đồng cổ đông thường niên 2026, Chủ tịch HĐQT CTCP Tập đoàn C.E.O (CEO Group, HNX: CEO) Đoàn Văn Bình dành phần lớn thời gian để nói về một giai đoạn mà theo ông là "cơ hội rất lớn" đối với doanh nghiệp, nhưng cũng đi kèm không ít thách thức.
Ông cho biết năm 2025, CEO Group đã hoàn thành kế hoạch kinh doanh trong bối cảnh thị trường biến động mạnh, đặc biệt ở giai đoạn cuối năm khi nhiều dự báo thay đổi. Kết quả này tạo nền tảng để doanh nghiệp bước vào năm 2026 với mục tiêu tăng trưởng cao hơn đáng kể.
Cụ thể, doanh nghiệp đặt kế hoạch doanh thu khoảng 3.000 tỷ đồng, gấp đôi so với mức hơn 1.400 tỷ đồng của năm trước, đồng thời lợi nhuận cũng dự kiến tăng tương ứng. Theo lãnh đạo doanh nghiệp, đây là mục tiêu khó nhưng khả thi nếu tận dụng được bối cảnh thuận lợi hiện nay.
Đáng chú ý, ông Bình nhiều lần nhấn mạnh yếu tố "cơ hội": "Đây là cơ hội có thể nói là ngàn năm có một mà chúng ta phải chớp lấy."
Theo ông, bối cảnh hiện tại không chỉ đến từ chu kỳ thị trường mà còn gắn với định hướng phát triển của nền kinh tế, khi Việt Nam bước vào giai đoạn tăng trưởng mới với kỳ vọng cao hơn, cùng với sự thay đổi mạnh mẽ trong điều hành và cải cách.
Trên nền tảng đó, CEO Group xác định năm 2026 là thời điểm cần "bứt tốc", với loạt dự án được triển khai đồng thời.
Trong đó, khu đô thị Hana Garden City tại Mê Linh là dự án trọng điểm giai đoạn 2025-2026, cùng với khu công nghiệp tại Hải Phòng trong khu thương mại tự do, tổ hợp nghỉ dưỡng Novotel Cam Ranh, các dự án tại Phú Quốc, Vân Đồn và mảng văn phòng cho thuê.
Doanh nghiệp hiện có quỹ đất khoảng 1.100 ha và đang xúc tiến thêm 15-20 dự án mới với quy mô tương đương, nhằm chuẩn bị "tư liệu sản xuất" cho nhiều năm tới.
Về định hướng dài hạn, CEO Group tiếp tục tập trung vào hai trụ cột là khu công nghiệp và bất động sản du lịch nghỉ dưỡng. Theo lãnh đạo doanh nghiệp, đây là các lĩnh vực không chỉ tạo dòng tiền mà còn mang lại giá trị tài sản bền vững, đồng thời có tác động lan tỏa lớn tới nền kinh tế, từ thu hút đầu tư, tạo việc làm đến thúc đẩy chuỗi cung ứng.
Song song với tham vọng tăng trưởng, Chủ tịch CEO Group cũng dành nhiều thời gian để nói về những áp lực hiện hữu, đặc biệt là bài toán vốn và chi phí.
Một trong những áp lực lớn nhất đến từ chi phí đầu vào, đặc biệt là tiền sử dụng đất ngày càng tăng và neo ở mức cao. Riêng dự án Mê Linh, số tiền sử dụng đất giai đoạn 1 đã lên tới hơn 2.100 tỷ đồng, tạo áp lực lớn lên dòng tiền và giá thành sản phẩm.
Không chỉ vậy, doanh nghiệp còn đối mặt với tình trạng thiếu hụt vật liệu xây dựng và nhân công trong bối cảnh nhiều dự án được triển khai đồng loạt trên cả nước. Theo chia sẻ, có thời điểm giá vật liệu tăng mạnh, trong khi nhân công khan hiếm khiến chi phí xây dựng bị đẩy lên đáng kể.
Đáng chú ý, ông Bình thẳng thắn nhìn nhận một nghịch lý của thị trường hiện nay là sự lệch pha cung cầu: sản phẩm cao cấp ngày càng nhiều, trong khi phân khúc nhà ở vừa túi tiền lại khan hiếm.
Theo ông, chi phí phát triển dự án tăng cao khiến doanh nghiệp khó có thể đưa ra mức giá phù hợp với số đông người dân, dù bản thân các chủ đầu tư cũng mong muốn phát triển sản phẩm dễ tiếp cận hơn để tăng thanh khoản, đóng góp cho xã hội, giải bài toán an cư cho người dân. Song nếu không giải được bài toán giá, rủi ro tồn kho và mất cân đối thị trường là hiện hữu.
Trong bối cảnh đó, CEO Group cho biết vẫn kiên định với định hướng phát triển nhà ở xã hội trong các khu đô thị của mình, thay vì làm dự án độc lập bên ngoài. Doanh nghiệp cũng đặt mục tiêu đảm bảo chất lượng sản phẩm, kể cả với phân khúc này, như một cách vừa tham gia giải bài toán an sinh, vừa duy trì uy tín thương hiệu.
Song song với bài toán chi phí, áp lực về vốn cũng ngày càng rõ nét. CEO Group dự kiến tăng vốn trong năm 2026 để nâng cao năng lực tài chính, phục vụ triển khai đồng thời nhiều dự án, đồng thời đa dạng hóa nguồn vốn từ tín dụng ngân hàng và các kênh huy động khác như trái phiếu trong điều kiện thuận lợi.
Trong bối cảnh mới, ông Bình cho rằng yêu cầu đặt ra không chỉ là có nguồn lực mà còn phải thay đổi tốc độ triển khai: "Chúng ta không chỉ đồng hành mà còn phải học cách làm nhanh hơn, quyết liệt hơn nếu không thì sẽ chậm hơn."
Dù thừa nhận nhiều khó khăn, lãnh đạo doanh nghiệp vẫn giữ quan điểm lạc quan, cho rằng với nền tảng hơn 25 năm phát triển, quỹ đất lớn và hệ thống quản trị đã được hoàn thiện, CEO Group có cơ sở để vừa thích ứng với thách thức, vừa tận dụng cơ hội tăng trưởng trong giai đoạn tới.
Đó là chia sẻ của ông Nguyễn Đức Thuận, Giám đốc Khối chiến lược và Đầu tư - Tập đoàn HASCO tại Hội thảo "Tín dụng bất động sản, kiểm soát thế nào để phát triển" do Báo Thanh Niên tổ chức sáng 17.4.
Ông Thuận chia sẻ: Hiện nay, có 3 khó khăn liên quan về tín dụng. Đó là sự lệch pha về kỳ hạn cho vay trong một dự án bất động sản với tiến độ thực hiện. Dự án có thể kéo dài 3 năm đến 5 năm hay thậm chí lên 10 năm nhưng thời hạn ngân hàng cho vay thường ngắn hơn. Trong khi đó, các doanh nghiệp phải giải quyết bài toán dòng tiền đầu tư ban đầu rất lớn. Chi phí ban đầu của các doanh nghiệp bất động sản có thể chiếm 30% hay thậm chí lên 50% chi phí đầu tư cả dự án nhưng sau đó mới được tiếp cận nguồn vốn tín dụng. Vì vậy, doanh nghiệp chịu áp lực rất lớn trong giai đoạn đầu tiên, nhất là giải quyết bài toán trả nợ trong ngắn hạn trong khi dòng tiền thu được ở thì tương lai. Một vấn đề khác, các ngân hàng định giá bất động sản tại thời điểm cho vay bao giờ cũng thấp hơn giá trị tài sản khi đưa ra thị trường. Để được định giá lại khi tài sản đưa ra thị trường và xác định giá trị cho vay lại thì vô cùng khó khăn. Đặc biệt, đối với những doanh nghiệp có lịch sử tín dụng không tốt thì càng khó khăn hơn.
Vì vậy, ông Nguyễn Đức Thuận đề xuất, các cơ quan quản lý nên xem xét để có chính sách cho doanh nghiệp tiếp cận lại dòng vốn tín dụng. Chẳng hạn, khi có một đơn vị khác tham gia tái cấu trúc doanh nghiệp này, có khách hàng đặt mua... thì cho doanh nghiệp tiếp cận tín dụng nhanh để giải quyết bài toán vốn, thực hiện dự án. Bên cạnh đó, các ngân hàng vẫn thực hiện giải ngân tín dụng theo chi phí thực tế và hoạt động của doanh nghiệp khi đã thực hiện đủ điều kiện trên hồ sơ, đặc biệt giải ngân mạnh ở giai đoạn đầu để doanh nghiệp thực hiện các dự án. Song song, cơ quan quản lý nhà nước cũng cần thúc đẩy phát triển các thị trường vốn khác. Chẳng hạn, thị trường trái phiếu doanh nghiệp trong giai đoạn vừa qua có phát triển nhưng quy mô còn nhỏ. Đây là thị trường cần thiết cho doanh nghiệp bất động sản. Ngoài ra cần thúc đẩy phát triển các quỹ đầu tư trong lĩnh vực bất động sản.
Một vấn đề khác là hiện vẫn còn tồn đọng rất nhiều dự án đang gặp khó khăn, dự án trong tình trạng "chết lâm sàng", cần tái cơ cấu. Vì vậy, cần có cơ chế phục hồi, cho doanh nghiệp vượt qua khó khăn là giải pháp cần thiết, trong đó có chính sách hỗ trợ để doanh nghiệp tiếp cận được tín dụng. "Trong thời gian vừa qua, cộng đồng doanh nghiệp bất động sản có đóng góp lớn vào tăng trưởng kinh tế của cả nước. Chúng ta có cơ sở để tiếp tục phát triển thị trường bất động sản bền vững nếu có cơ chế tín dụng tốt, tiếp cận được nguồn vốn đầu tư quốc tế", ông Nguyễn Đức Thuận chia sẻ thêm.