Hôm nay 28.4, Công ty Vàng bạc đá quý Sài Gòn (SJC) điều chỉnh giá vàng tới 4 lần. Giá mua vào và bán ra mỗi lượng vàng miếng SJC tại nhịp điều chỉnh cuối cùng là 164,5 – 167,5 triệu đồng, giảm 1,8 – 1,3 triệu đồng so với chốt ngày 27.4.
Đây là mức giá giao dịch thấp nhất từ đầu tháng tới nay. Lần đầu tiên trong 1 tháng qua, giá mua vào của Công ty SJC giảm xuống dưới 165 triệu đồng/lượng. Từ 1 – 28.4, giá vàng miếng SJC đã giảm 10,5 triệu đồng/lượng.
Giá vàng trong nước hiện cao hơn giá vàng thế giới trên 22 triệu đồng/lượng. Tốc độ giảm của giá vàng trong nước chậm hơn giá vàng thế giới.
Trao đổi với Thanh Niên, tiến sĩ kinh tế Lê Bá Chí Nhân phân tích, trong tháng qua, giá vàng thế giới đã giảm về dưới vùng 4.700 USD/ounce, sau giai đoạn tăng nóng cao hơn 5.000 USD/ounce đầu năm nay.
Giá vàng trong nước giảm sâu là một phần của xu hướng điều chỉnh giá vàng thế giới, phản ánh sự tương tác phức tạp giữa lực cầu an toàn, chính sách tiền tệ, tâm lý thị trường và biến động đồng USD, chứ không phải là hiện tượng biệt lập tại thị trường Việt Nam.
“Đây là điều chỉnh cần thiết sau đợt tăng nóng, là cơ hội để thị trường cân bằng lại”, ông Nhân nói.
Ông Nguyễn Quang Huy, Giám đốc điều hành Khoa Tài chính – Ngân hàng (Trường đại học Nguyễn Trãi), cho rằng, diễn biến giảm giá của vàng miếng SJC thời gian vừa qua mang tính điều chỉnh có kiểm soát hơn là biến động bất thường.
Thị trường vàng trong nước có đặc thù riêng về cung – cầu và cấu trúc vận hành, khiến giá thường có độ trễ nhất định so với thế giới.
Khi giá quốc tế tăng, vàng trong nước có xu hướng phản ứng nhanh, mạnh hơn. Ngược lại, khi giá quốc tế giảm, tốc độ điều chỉnh thường chậm hơn, đồng thời hấp thụ một phần biến động thông qua việc thu hẹp dần chênh lệch.
Vì vậy, mức giảm hiện tại nên được nhìn nhận như một quá trình điều chỉnh tự nhiên nhằm đưa thị trường về trạng thái cân bằng hơn, thay vì là tín hiệu của sự suy yếu.
Giá vàng gần đây điều chỉnh theo hướng giảm dần, song mức biến động giá trong ngày không lớn, có khi chỉ vài trăm nghìn đồng/lượng.
Ông Huy nhìn nhận, diễn biến giá như vậy cho thấy thị trường đang trong trạng thái dao động hẹp, phản ánh sự cân bằng tương đối giữa bên mua và bên bán.
Trong bối cảnh hiện tại, cách tiếp cận phù hợp là từng bước tham gia thị trường với tỷ trọng hợp lý, thay vì tập trung nguồn lực trong một thời điểm. Mua tích lũy từng phần giúp giảm thiểu rủi ro về thời điểm, tạo sự chủ động trong quản lý tài sản.
Về dự báo thời gian tới, theo ông Huy, khả năng giá vàng dao động quanh hoặc kiểm định vùng 160 triệu đồng/lượng có thể xảy ra trong ngắn hạn, nếu các yếu tố bên ngoài tiếp tục gây áp lực lên giá quốc tế. Tuy nhiên, ngay cả khi có những nhịp điều chỉnh, khả năng giảm sâu kéo dài là không cao.
Theo ông Nhân, việc giá vàng gần đây giảm theo xu hướng trượt dần, biên độ dao động trong ngày hẹp thể hiện thị trường vàng đã thoát khỏi pha “sốt nóng” mang tính đầu cơ, chuyển sang trạng thái tái cân bằng cung – cầu, phản ánh sát hơn các yếu tố kinh tế cơ bản.
Với vàng miếng SJC, sau giai đoạn biến động mạnh hồi quý 1, tâm lý đám đông đã dịu lại. Nhà đầu tư không còn mua đuổi theo cảm xúc, trong khi bên bán cũng không còn hoảng loạn xả hàng.
Thị trường bước vào pha “lặng sóng” thường là giai đoạn giá phản ánh kỳ vọng thực thay vì phản ứng tâm lý. Đây là trạng thái rất khác so với lúc giá tăng dựng đứng trước đây.
Trên bình diện quốc tế, vàng đang chịu áp lực từ lãi suất thực cao, đồng USD mạnh và việc dòng tiền đầu cơ rút bớt khỏi các quỹ vàng. Các yếu tố này chưa có dấu hiệu đảo chiều rõ ràng trong ngắn hạn. Nghĩa là xu hướng điều chỉnh của vàng có thể chưa kết thúc, dù tốc độ giảm đã chậm lại.
Ở trong nước, yếu tố rất quan trọng là độ vênh giữa giá vàng nội địa và thế giới vẫn cao so với mặt bằng lịch sử. Khi thị trường bình ổn trở lại, phần chênh lệch này có xu hướng tiếp tục co hẹp. Điều đó đồng nghĩa với việc giá vàng trong nước có thể còn dư địa giảm thêm, ngay cả khi giá thế giới không giảm mạnh.
Vì vậy, nếu nhìn từ góc độ đầu cơ ngắn hạn, đây chưa phải là thời điểm tối ưu để xuống tiền với kỳ vọng lợi nhuận nhanh. Thị trường hiện phù hợp với chiến lược mua tích lũy theo từng nhịp giảm, không phải mua dồn dập.
“Vàng vẫn giữ vai trò là tài sản phòng thủ trong danh mục, nhưng nhà đầu tư cần thay đổi tư duy: mua vì giá trị dài hạn, không phải vì kỳ vọng sóng ngắn hạn”, ông Nhân nhấn mạnh.
Sở hữu hơn 30 khu công nghiệp (KCN) và nhiều nhà xưởng cho thuê tại nhiều tỉnh, thành trên cả nước, ông Trần Việt Anh - Tổng giám đốc Công ty cổ phần Đầu Tư SCC (SCCI) - nêu thực trạng: Để xây dựng được một KCN hoàn chỉnh, vốn đầu tư bỏ ra ban đầu rất lớn. Chẳng hạn, 1 KCN quy mô 400 ha thì ngay từ đầu đã phải đầu tư hạ tầng hết 400 ha đó. Thế nhưng, các KCN không thể ngay lập tức lấp đầy mà phải cần thời gian dài. Điều này nghĩa là thời gian hoàn vốn cho bất động sản công nghiệp (BĐS CN) là rất lớn.
Trong khi đó, đây là ngành khá nhạy cảm với những tác động từ bên ngoài. Chiến tranh vừa nổ ra là lập tức đứt gãy chuỗi cung ứng, nhiều khách hàng của SCCI chuẩn bị ký hợp đồng lập tức chậm lại, chờ, ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của công ty.
Thế nhưng, ông Trần Việt Anh cho rằng một điều bất hợp lý là NHNN, các ngân hàng thương mại hiện không tách riêng BĐS CN như 1 trường hợp riêng mà gom chung hết vào BĐS và không coi đây là 1 động lực phát triển kinh tế. Việt Nam là trường hợp rất riêng vẫn còn gom chung BĐS CN với các loại BĐS khác.
Ở Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc, họ tách BĐS CN ra thành 1 dòng riêng, gắn với động lực sản xuất, gắn với hoạt động thương mại. Khi đã gắn BĐS CN với động lực sản suất thì định hướng dòng vốn của ngân hàng sẽ có khác. Các DN BĐS CN sẽ có lợi thế khi tiếp cận vốn tín dụng.
Để chứng minh quan điểm này, ông Trần Việt Anh dẫn chứng: Trong chuyến thăm Trung Quốc vừa qua, đoàn đại biểu cấp cao của Việt Nam do Tổng Bí Thư Tô Lâm dẫn đầu đã tới thăm KCN ở Hùng An. Nơi đây được nhà nước quy hoạch tổng thể ngay từ đầu, huy động nguồn tài chính lớn, chủ động nguồn nhân lực. Nhờ vậy, chỉ sau gần 10 năm, Hùng An đã thu hút tới 400 DN lớn, hình thành 1 hệ sinh thái công nghệ, công nghiệp rất tốt.
Điển hình, tất cả thủ tục, kể cả tín dụng ở đây DN chỉ trong 1 tháng là hoàn thành xong. Ngân hàng cho vay đánh giá trên hiệu quả 1 dự án mang lại chứ không đánh giá trên tài sản thế chấp như tại Việt Nam. Có trường hợp 1 DN chỉ sau 10 năm về Hùng An hoạt động đã trở thành DN nằm top 3 nhà cung cấp giải pháp điện thông minh của Trung Quốc.
"Có thể thấy, chính phủ Trung Quốc coi Hùng An là 1 cực tăng trưởng mới của Trung Quốc. Họ xác định rõ BĐS không phải để đầu cơ, mà là hạ tầng cho tăng trưởng dài hạn. Vì thế, các chính sách của họ và nguồn tín dụng cũng được nắn theo hướng này. Trong khi đó, ở Việt Nam, chúng tôi phát triển 1 khu BĐS CN ở Gia Lai 20 năm, cho thuê giá rất thấp nhưng đến giờ mới lấp đầy khoảng 70%. Nếu vay ngân hàng hàng, chịu lãi suất 20 năm thì chỉ có "chết" - ông Việt Anh nói thẳng
Từ câu chuyện của Hùng An, Tổng giám đốc SCCI khẳng định: Vốn tín dụng cho BĐS nếu buông lỏng sẽ thành rủi ro nhưng nếu niểm soát quá sẽ thành điểm nghẽn. Việt Nam cần thống nhất quan điểm coi BĐS là động lực tăng trưởng, nhất là BĐS CN, logistics. Từ đó, nhận diện vấn đề không phải siết hay nới mà là định hướng dòng vốn.
Ông đề xuất: Cơ quan quản lý cần phân loại tín dụng bất động sản theo mục tiêu sử dụng, ưu tiên cho bất động sản công nghiệp, logistics. Bên cạnh đó, thiết kế cơ chế tín dụng dài hạn, phù hợp chu kỳ đầu tư. Quan trọng là kiểm soát tín dụng dựa trên chất lượng dự án và năng lực doanh nghiệp, không cào bằng. Cuối cùng là cần nhìn nhận bất động sản nói chung như hạ tầng kinh tế, tương tự giao thông hay năng lượng.
"Trong bối cảnh chuỗi cung ứng toàn cầu đang dịch chuyển, Việt Nam đang có cơ hội rất lớn. Nhưng cơ hội đó chỉ trở thành hiện thực khi dòng vốn đi đúng chỗ. Nếu chúng ta chỉ nhìn bất động sản dưới góc độ rủi ro tín dụng, chúng ta sẽ bỏ lỡ cơ hội. Nếu nhìn đúng bản chất, bất động sản chính là hạ tầng của tăng trưởng" - ông Trần Việt Anh nhấn mạnh.
Ngày 28.4, Công ty cổ phần Nước giải khát Sanna Khánh Hòa cho biết đã xuất khẩu thành công lô hàng nước giải khát đầu tiên sang thị trường Mỹ.
Lô hàng gồm gần 4.000 thùng sản phẩm các loại, trong đó có 1.300 thùng nước chanh dây đóng chai, 1.300 thùng nước rong biển và 1.379 thùng nước chanh muối.
Trước đó, năm 2023, doanh nghiệp này đã đưa sản phẩm vào thị trường Nhật Bản, từng bước mở rộng hoạt động xuất khẩu.
Để đáp ứng yêu cầu của thị trường Mỹ, các sản phẩm được kiểm soát chặt chẽ từ khâu nguyên liệu, sản xuất đến đóng gói. Doanh nghiệp cho biết sản phẩm đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế như ISO, HACCP, FDA, FSMA, BRCGS và HALAL.
Việc xuất khẩu lô hàng đầu tiên được kỳ vọng tạo tiền đề để Sanna Khánh Hòa mở rộng thị trường tại Mỹ trong thời gian tới, đồng thời tiếp tục tìm kiếm cơ hội đưa sản phẩm sang các thị trường quốc tế khác.
Kết thúc quý I/2026, Tổng Công ty Phát triển Đô thị Kinh Bắc - CTCP (HoSE: KBC) ghi nhận kết quả kinh doanh suy giảm mạnh, trong bối cảnh doanh thu từ mảng khu công nghiệp lao dốc và áp lực chi phí gia tăng.
Cụ thể, doanh thu thuần đạt gần 1.336 tỷ đồng, giảm khoảng 56% so với cùng kỳ năm trước. Lợi nhuận sau thuế đạt hơn 234 tỷ đồng, giảm trên 70% và là mức thấp nhất trong 5 quý gần đây. Lợi nhuận sau thuế thuộc cổ đông công ty mẹ đạt khoảng 224 tỷ đồng.
Theo doanh nghiệp, nguyên nhân chính đến từ sự sụt giảm mạnh của mảng khu công nghiệp - nguồn thu chủ lực.
Doanh thu từ mảng này chỉ đạt gần 732 tỷ đồng, giảm tới 71% so với cùng kỳ, kéo theo kết quả chung đi xuống. Trong khi đó, doanh thu chuyển nhượng bất động sản tăng nhẹ khoảng 4% lên 429 tỷ đồng nhưng chưa đủ bù đắp.
Bên cạnh yếu tố doanh thu, chi phí cũng tạo thêm áp lực lên lợi nhuận. Tổng chi phí tài chính, bán hàng và quản lý doanh nghiệp tăng 47%, lên hơn 424 tỷ đồng. Riêng chi phí lãi vay ghi nhận khoảng 263 tỷ đồng trong quý, tăng mạnh so với cùng kỳ, phản ánh áp lực từ quy mô vay nợ ngày càng lớn.
Năm 2026, Kinh Bắc đặt mục tiêu doanh thu hợp nhất 10.000 tỷ đồng và lợi nhuận sau thuế 3.000 tỷ đồng, lần lượt tăng 50% và 36% so với năm trước. Tuy nhiên, sau quý I/2026, doanh nghiệp mới hoàn thành khoảng 14% kế hoạch doanh thu và khoảng 9% mục tiêu lợi nhuận.
Trong quý đầu năm, dòng tiền thuần từ hoạt động kinh doanh của Kinh Bắc âm 2.913 tỷ đồng, chủ yếu do doanh nghiệp tiếp tục gia tăng đầu tư vào hàng tồn kho và các khoản phải thu. Riêng hàng tồn kho đã làm giảm dòng tiền hơn 2.400 tỷ đồng.
Tính đến cuối tháng 3/2026, tổng tài sản của Kinh Bắc đạt hơn 71.800 tỷ đồng, tăng khoảng 3% so với đầu năm. Trong đó, hàng tồn kho chiếm tỉ trọng lớn với hơn 29.500 tỷ đồng, tăng 9% so với đầu năm và tăng mạnh so với cùng kỳ.
Phần lớn tồn kho tập trung tại các dự án đang triển khai, đáng chú ý là khu đô thị và dịch vụ Tràng Cát với giá trị hơn 17.300 tỷ đồng. Ngoài ra, nhiều dự án khác như khu công nghiệp Lộc Giang, Tràng Duệ, Tân Phú Trung hay khu đô thị Phúc Ninh cũng ghi nhận giá trị dở dang lớn.
Chi phí xây dựng cơ bản dở dang đạt khoảng 4.281 tỷ đồng, chủ yếu tại dự án trung tâm thương mại và văn phòng Láng Hạ.
Để bù đắp nhu cầu vốn cho các dự án, Kinh Bắc tiếp tục gia tăng vay nợ.
Trong quý I/2026, doanh nghiệp thu về khoảng 1.950 tỷ đồng từ đi vay, trong khi chi trả nợ gốc khoảng 407 tỷ đồng, qua đó giúp dòng tiền tài chính dương hơn 1.500 tỷ đồng.
Tại thời điểm 31/3/2026, tổng dư nợ vay và nợ thuê tài chính của Kinh Bắc đạt hơn 30.100 tỷ đồng, tăng khoảng 5% so với đầu năm và tăng mạnh so với cùng kỳ. Nợ vay chiếm khoảng 67% tổng nợ phải trả, trong đó phần lớn là nợ dài hạn.