Khi tham gia sản xuất sản phẩm thủ công tại Doanh nghiệp xã hội Chạm Vào Xanh và được khuyến khích đưa sản phẩm ra thị trường, chị bắt đầu có thu nhập và dần xây dựng sự tự tin.
Việc có thể đóng góp vào kinh tế gia đình giúp chị chuyển từ vị thế phụ thuộc sang một người có vai trò, có tiếng nói. Sự chủ động về tài chính cũng mở ra những thay đổi rõ rệt trong cách chị tham gia vào đời sống xã hội.
“Trời cho” nhiều năng khiếu tạo ra sản phẩm đẹp
Người khuyết tật ở Việt Nam không thiếu năng lực lao động. Điều họ thiếu là cơ hội để tham gia vào thị trường một cách phù hợp và bền vững.
Một sản phẩm thủ công nhỏ có thể không thay đổi nền kinh tế, nhưng có thể thay đổi cuộc đời của một con người. Khi nghệ thuật trở thành sinh kế, nó mở ra một cách nhìn khác về hòa nhập cho người khuyết tật.
Dù các chính sách hỗ trợ đã có những bước tiến nhất định, một khoảng trống lớn vẫn tồn tại: làm thế nào để người khuyết tật có thể sống bằng chính năng lực của mình, thay vì phụ thuộc vào trợ cấp hoặc gia đình.
Thực tế cho thấy nhiều chương trình đào tạo nghề hiện nay chưa gắn với nhu cầu thị trường. Người học có kỹ năng nhưng không có đầu ra ổn định. Việc làm, nếu có, thường thu nhập thấp và thiếu bền vững. Vấn đề không nằm ở khả năng của người khuyết tật, mà ở cách xã hội thiết kế cơ hội cho họ.
Một hướng tiếp cận khác đang dần được chứng minh trong thực tế: sử dụng nghệ thuật và lao động sáng tạo như một con đường tạo sinh kế.
Câu chuyện này không phải là cá biệt. Tại Việt Nam, một số doanh nghiệp xã hội như Chạm Vào Xanh, Vụn Arts hay Kym Viet đang cho thấy một hướng đi khả thi: khi có tổ chức phù hợp làm cầu nối, kỹ năng sáng tạo của người khuyết tật có thể trở thành sản phẩm có giá trị trên thị trường.
Những mô hình này đặt ra một cách nhìn khác: nghệ thuật không chỉ là công cụ trị liệu, mà có thể trở thành một ngành kinh tế vi mô nếu được tổ chức đúng cách.
Tại Nhật Bản, hướng tiếp cận này đã được phát triển từ sớm. Các sản phẩm do người khuyết tật tạo ra được thiết kế, đóng gói và phân phối như hàng hóa thực thụ, với sự tham gia của cả khu vực công và tư. Điều này cho thấy khi có cơ chế phù hợp, lao động sáng tạo của người khuyết tật hoàn toàn có thể trở thành một phần của nền kinh tế.
Việt Nam vẫn thiếu những cơ chế để đưa sản phẩm của người khuyết tật ra thị trường một cách bền vững. Nhiều mô hình hiện nay hoạt động trong điều kiện hạn chế, phụ thuộc vào nguồn lực ngắn hạn và chưa có sự kết nối thị trường mang tính hệ thống.
Đáng chú ý, các doanh nghiệp xã hội – dù đóng vai trò cầu nối quan trọng – vẫn chưa tiếp cận được các chính sách ưu đãi tương xứng. Việc tìm kiếm đầu ra cho sản phẩm phần lớn dựa vào nỗ lực cá nhân và các mối quan hệ của người quản lý, thay vì được hỗ trợ bởi các cơ chế kết nối chính thức. Điều này khiến nhiều mô hình hiệu quả khó mở rộng, và những giải pháp đã được kiểm chứng khó trở thành quy mô lớn.
Nếu coi đây là một hướng đi nghiêm túc, chính sách cần có những điều chỉnh tương ứng.
Trước hết, cần xây dựng cơ chế ưu đãi rõ ràng hơn cho các doanh nghiệp xã hội trong lĩnh vực này, đặc biệt về thuế và tiếp cận tài chính, nhằm khuyến khích các mô hình tạo tác động dài hạn.
Thứ hai, cần phát triển các chương trình kết nối thị trường mang tính hệ thống, trong đó Nhà nước đóng vai trò trung gian, giúp đưa sản phẩm của người khuyết tật vào các chuỗi giá trị hiện có, bao gồm cả mua sắm công.
Thứ ba, giáo dục nghề cần mở rộng theo hướng linh hoạt hơn, đưa nghệ thuật ứng dụng và sáng tạo vào như một lựa chọn thực chất, thay vì chỉ giới hạn trong một số ngành nghề truyền thống.
Xóa bỏ rào cản cho người khuyết tật không chỉ là cải thiện hạ tầng, mà là thiết kế lại cách họ tham gia vào đời sống kinh tế – xã hội. Khi cơ hội được tổ chức đúng cách, người khuyết tật không cần được “hỗ trợ” để tồn tại, mà có thể tự tạo ra giá trị và khẳng định vị trí của mình.
Và trong hành trình đó, nghệ thuật – nếu được nhìn nhận đúng – có thể không chỉ thay đổi một cuộc đời, mà còn góp phần thay đổi cách xã hội vận hành.
Ngày 28-4, Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam tổ chức Lễ kỷ niệm 140 năm Ngày Quốc tế Lao động (1-5-1886 - 1-5-2026), và tuyên dương chủ tịch Công đoàn cơ sở xuất sắc tiêu biểu trong đối thoại và thương lượng tập thể năm 2026.
Tại buổi lễ, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn khẳng định Công đoàn Việt Nam đã khẳng định rõ nét vai trò là tổ chức chính trị - xã hội rộng lớn của giai cấp công nhân và là chỗ dựa tin cậy của đoàn viên, người lao động. Hoạt động của Công đoàn ngày càng thiết thực, hiệu quả, có chiều sâu, đi vào thực chất.
"Mỗi năm, hàng vạn cuộc đối thoại được tổ chức, kịp thời giải quyết hàng nghìn ý kiến, kiến nghị của đoàn viên, người lao động.
Nhiều thỏa ước lao động tập thể được ký kết, góp phần cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao thu nhập và phúc lợi cho đoàn viên, người lao động", Chủ tịch Quốc hội nêu.
Dịp này, Chủ tịch Quốc hội Trần Thanh Mẫn đề nghị các cấp công đoàn quán triệt sâu sắc nhiệm vụ, tập trung cho mục tiêu nâng cao năng suất lao động, tăng trưởng hai con số, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo…
Công đoàn tiếp tục phát huy vai trò xây dựng giai cấp công nhân hiện đại, lớn mạnh thực sự tiên phong trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và đóng góp xứng đáng vào phong trào công nhân quốc tế. Đội ngũ cán bộ Công đoàn thể hiện bản lĩnh, nhiệt huyết, trách nhiệm, gắn bó với người lao động, nắm chắc tình hình phát triển của doanh nghiệp.
Chủ tịch Quốc hội lưu ý các cấp Công đoàn đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, chú trọng nâng cao hiệu quả đối thoại, thương lượng tập thể, đồng thời đề xuất, xây dựng, hoàn thiện chính sách pháp luật liên quan đến công nhân lao động và tổ chức Công đoàn…
Năm 1946, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký sắc lệnh quy định ngày 1-5 là Ngày Quốc tế Lao động - ngày công nhân lao động được nghỉ làm việc có hưởng lương. Từ đó, Quốc tế Lao động luôn được tổ chức trang trọng, gắn với tháng 5 - Tháng Công nhân.
Tháng Công nhân, theo Chủ tịch Tổng liên đoàn Lao động Việt Nam Nguyễn Anh Tuấn, là cao điểm chăm lo đời sống công nhân, người lao động, khơi dậy tinh thần đoàn kết, thi đua lao động giỏi, lao động sáng tạo, xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định, tiến bộ.
Phát huy tinh thần đấu tranh, bảo vệ quyền lợi của người lao động 140 năm về trước, tổ chức Công đoàn và đội ngũ ở cơ sở đang tiếp tục bảo vệ quyền lợi người lao động thiết thực, hiệu quả, trong đó có đối thoại và thương lượng tập thể.
Qua đó người lao động và chủ sử dụng lao động lắng nghe ý kiến của nhau, giải quyết phát sinh trong quan hệ lao động, bảo vệ quyền lợi của người lao động…
"Thỏa ước lao động tập thể được ký kết làm gia tăng lợi ích, phúc lợi cho người lao động, đó là tiền lương, tiền thưởng, nghỉ thêm giờ, bữa ăn ca, điều kiện làm việc, các hỗ trợ khác, giúp nâng cao đời sống người lao động", ông Tuấn nêu.
Bà Lee Chang-wol, 80 tuổi, sống gần 40 năm trong ngôi nhà không cửa sổ tại đây. Nhà có lối vào rộng 1,2 m, bếp và phòng tắm thông nhau, phía trên là mạng lưới dây điện treo sát mái tôn. Cách đó một con đường 8 làn xe là các tòa chung cư cao tầng.
Khi đêm xuống, các tòa tháp chung cư sáng rực đối lập với bóng tối bao trùm Guryong. Ánh sáng yếu ớt của làng chỉ phát ra từ vài túp lều và cây thánh giá neon đỏ của nhà thờ. Khói bốc lên từ rác và than đang cháy dở.
Chính quyền thành phố đang giải tỏa khu vực này để tái thiết. Họ đề nghị bồi thường cho bà Lee 3.300 USD (khoảng 83 triệu đồng) và yêu cầu di dời trước giữa tháng 6. Nếu không thực hiện, bà sẽ bị cưỡng chế. Bà Lee từ chối vì số tiền này không đủ để tìm chỗ ở mới. "Chỉ sống qua ngày hôm nay đã đủ khó khăn rồi", bà nói.
Làng Guryong hình thành từ cuối thập niên 1980, khi người nghèo bị đẩy khỏi trung tâm Seoul để chuẩn bị cho Olympic 1988. Họ dựng nhà tạm từ vật liệu tận dụng. Vào thập niên 1990, Guryong từng có 10.000 cư dân với các cửa hàng tạp hóa, tiệm cắt tóc và hội đồng tự quản.
Tuy nhiên, chính quyền không công nhận những ngôi nhà này là hợp pháp. Seoul từng dựng màn che để giấu Guryong khỏi tầm mắt du khách quốc tế. "Họ bị biến thành vô hình dù vẫn sống ở đó", nhà nghiên cứu Lim Mi-ri nói.
Một số cư dân kiện thành phố, yêu cầu công nhận nơi ở hợp pháp để có quyền mua căn hộ mới và vay ngân hàng. "Nếu nơi chúng tôi sống không được coi là nhà, thì chúng tôi là gì?", bà Lee nói.
Cuộc sống tại làng thiếu hụt các dịch vụ cơ bản. Điện và nước được kéo tự phát. Do vật liệu dễ cháy, làng thường xuyên xảy ra hỏa hoạn. Vụ cháy tháng 1 vừa qua thiêu rụi một phần làng, khiến 180 người phải sơ tán. Ông Baek Su-hyeon, 66 tuổi, hiện ngủ trong một túp lều sau khi nhà cháy. Ông từ chối khoản hỗ trợ 4.000 USD vì không đủ khả năng trả tiền thuê nhà lâu dài. "Việc này giống như cướp bóc những người không còn nơi nào khác để đi", ông cho biết.
Từ năm 2023, chính quyền yêu cầu 1.107 hộ dân phải di dời. Thành phố dự kiến xây dựng 3.800 căn hộ mới, trong đó dành một phần cho cư dân cũ thuê lại. Tuy nhiên, hàng trăm người vẫn bám trụ để đòi quyền lợi.
Tại Seoul, giá bất động sản tăng nhanh hơn thu nhập khiến việc sở hữu nhà trở nên khó khăn. Số liệu từ Ngân hàng Kookmin cho thấy chỉ số PIR (tỷ lệ giá nhà trên thu nhập) tại Seoul đạt 15,2 vào cuối năm 2024. Một hộ gia đình trung bình mất hơn 15 năm tích lũy thu nhập mới có thể mua được một căn hộ. Với người nghèo ở Guryong, hy vọng có nơi ở mới càng xa vời.
Thành phố Seoul cho biết vẫn tiếp tục kế hoạch biến nơi này thành tổ hợp chung cư. Trong khi đó, những cư dân như bà Lee vẫn đang đấu tranh để được công nhận quyền cư trú.
Ngày 14/4, người dân tại một khu chung cư cao cấp ở thành phố Sán Đầu (tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc) chứng kiến một cụ bà thả nhiều xấp tiền mệnh giá 1.000 HKD (khoảng 3,3 triệu đồng) và 500 HKD (khoảng 1,6 triệu đồng) xuống đất.
Đoạn video được chia sẻ trên mạng xã hội cho thấy, các tờ tiền được tung qua ô cửa sổ kính bay tứ tung. Tổng số tiền lên đến 2 triệu HKD (6,7 tỷ đồng).
Phát hiện sự việc, nhiều người đi đường tranh nhau nhặt tiền. Một số người dân chụp ảnh các tờ tiền, đăng tải lên mạng xã hội.
Một chủ cửa hàng sống gần hiện trường cho biết, người phụ nữ ném các tờ tiền trong vòng 20 phút trước khi cảnh sát có mặt.
"Ban đầu, tôi tưởng đó là tiền giả. Khi nhặt lên, tôi mới nhận ra tất cả đều là tiền thật", ông nói.
Nhận tin báo về sự việc, cảnh sát lập tức có mặt tại hiện trường. Lực lượng chức năng đang vận động những người nhặt tiền cần giao nộp kịp thời cho cảnh sát.
Trả lời báo chí địa phương, một nhân viên bảo vệ tại khu chung cư từ chối nói về nguyên nhân của sự việc. Người này cho rằng: "Sự việc đã kết thúc, không muốn đề cập quá nhiều".
Lực lượng cảnh sát khu vực cho biết: "Mọi việc đã được cơ quan chức năng xử lý xong". Vị này từ chối cung cấp thông tin chi tiết.
Đây không phải là lần đầu tiên xảy ra ném tiền từ trên cao xuống tại Trung Quốc.
Hồi năm 2024, một nam du khách bất ngờ thả các tờ tiền từ trên tầng 2 của thành cổ ở Đại Lý (Vân Nam, Trung Quốc) xuống phía dưới.
Phát hiện các tờ tiền được thả xuống, nhiều du khách tranh nhau nhặt. Có người cầm nắm tiền nhặt được, chụp ảnh và đăng tải lên mạng xã hội.
Một số người bán hàng gần hiện trường cho biết, nam du khách tung tiền thành nhiều đợt trong vài phút. Đây có thể là sở thích của cá nhân chứ không phải chỉ đạo của ban quản lý khu du lịch.
Cơ quan chức năng cho biết, người ném tiền là khách du lịch đến đây tham quan. Ban quản lý khu du lịch phối hợp cùng người nhà, vận động nam du khách rời đi để tránh gây lộn xộn.
Ở Việt Nam cũng từng có câu chuyện tương tự. Vào tháng 5/2025, một số cư dân tại tòa nhà Gemek 1 (An Khánh, Hoài Đức, Hà Nội) bất ngờ phát hiện hàng chục tờ tiền 500.000 đồng rơi từ trên cao xuống. Tổng số tiền nhặt được là 29,5 triệu đồng. Ngay sau đó, mọi người đã phối hợp với ban quản lý tòa nhà tìm lại chủ nhân.
"Các tờ tiền rơi xuống đường đi, vỉa hè, thậm chí còn dính ở cây cối gần đó", một nhân chứng cho hay.
Chủ nhân của số tiền "rơi từ trên trời" là của anh Nông Văn Thắng (SN 1994), sống ở căn hộ 31 trục 06A của tòa nhà này. Sự cố ném tiền do con anh Thắng không biết nên đã nghịch ngợm ném xuống dưới.
Người đàn ông sinh năm 1994 sau đó đã tiến hành các thủ tục nhận lại tiền. Anh cho biết cảm thấy rất vui và biết ơn các cư dân tốt bụng đã giúp đỡ gia đình anh.