Theo tiến sĩ Verónica Boix-Mansilla, nghiên cứu viên chính tại Project Zero – nhóm nghiên cứu thuộc Trường sau ĐH về giáo dục Harvard thuộc ĐH Harvard (Mỹ), con em của chúng ta đang sống trong một thời đại mới nơi xung đột ngày càng gia tăng, sự phân cực chính trị ngày càng rõ rệt và những bất định ngày càng bủa vây. Thực tế đó đòi hỏi một thế hệ người trẻ có năng lực chung sống và làm việc với những người có suy nghĩ, lối sống hoàn toàn khác mình.
Để làm được điều này, bà đề cập đến khái niệm “năng lực toàn cầu” (global competence) – tức năng lực hiểu biết, phân tích và hành động trước các vấn đề toàn cầu hoặc liên văn hóa. Bà lưu ý, năng lực toàn cầu không phải là sao chép ý tưởng của người khác để áp dụng ở đất nước mình hay tệ hơn là trở thành ai đó khác. Ngược lại, đó là hiểu rõ bản thân: biết mình là ai, đến từ nền văn hóa nào và tôn trọng những giá trị gì.
“Năng lực toàn cầu phải được xây dựng trên những người trẻ có kết nối vững chắc với văn hóa bản địa và biết cách chủ động, sáng tạo, sống có trách nhiệm khi bước ra thế giới”, tiến sĩ Boix-Mansilla nêu quan điểm tại hội thảo quốc tế “Việt Nam – Điểm chạm học thuật toàn cầu” tổ chức mới đây ở Dinh Độc Lập.
Kể với Thanh Niên, bà Boix-Mansilla khẳng định trong bối cảnh toàn cầu hóa, căn tính dân tộc là yếu tố vô cùng quan trọng. Nếu hòa tan quá mức (over-adaptation), bạn trẻ tăng nguy cơ bị khủng hoảng căn tính cá nhân và dễ đối diện với các vấn đề sức khỏe tinh thần. Nhưng ngược lại, nếu chỉ giữ khư khư căn tính Việt mà không chịu khó tìm hiểu về những nền văn hóa khác, khả năng thích nghi của các bạn với trật tự toàn cầu mới cũng bị hạn chế.
Căn tính dân tộc cũng cần đề cao khi người trẻ phát triển năng lực toàn cầu.
“Người trẻ cần học tiếng Anh không chỉ để hiểu những gì đang diễn ra ở New York và Điện Buckingham, mà còn để kể câu chuyện xảy ra ở đất nước nơi mình thuộc về cũng như tăng cường hiện diện trong những cuộc đối thoại toàn cầu”, bà nói. Điều này đặc biệt quan trọng vì trong một thế giới mở, các bạn cần kết nối hiểu biết về địa phương với hiểu biết toàn cầu để đi tìm lời giải cho các vấn đề cộng đồng mình đang gặp phải.
Đồng tình, tiến sĩ Murat Günel, nguyên Tổng giám đốc The Koç School (Thổ Nhĩ Kỳ), cho biết nhiều học sinh trường ông chuộng đi nước ngoài để làm việc, trải nghiệm, từ Thái Lan, Ấn Độ đến Anh, Mỹ. Trong số đó, có em cho rằng việc tìm hiểu văn hóa nước mình là điều gì đó “tầm thường” và việc tỏ tường những nền văn hóa khác mới là “đẳng cấp”.
“Các em chưa biết rằng, nếu không hiểu mình thì chẳng thể hiểu được người”, ông nói.
Đó là lý do nam tiến sĩ khuyên người trẻ cần nắm chắc nguồn lực nội tại của bản thân trước, từ đó mới có thể chuyển hóa thành điều khác. Ví dụ việc học ngoại ngữ như tiếng Anh phải được xây dựng trên vốn liếng của ngôn ngữ mẹ đẻ – ở trường hợp này là tiếng Việt.
Ông Trung Lê, đồng sáng lập ReGenerating Education (Mỹ), cho biết trong một trật tự thế giới mới, một niềm tin cũ đang quay trở lại. Đó là đặt người trẻ vào những vấn đề thật, với quyền chủ động thực sự để tạo ra tác động đến xã hội thay vì chỉ để các em học trong những tòa “tháp ngà” học thuật. Điều này đã và đang thay đổi mục đích của việc học, từ “Con biết được bao nhiêu kiến thức?” thành “Con biết mình sẽ trở thành kiểu người thế nào?”.
Đồng tình, tiến sĩ Verónica Boix-Mansilla lưu ý thế giới ngày nay đòi hỏi nhiều hơn ở việc học. Không chỉ là học kiến thức, mà còn phải học cách bảo vệ Trái đất, học cách tránh xung đột, học cách làm chủ những tiến bộ kỹ thuật, công nghệ… “Tri thức không còn cố định mà liên tục sinh sôi, khiến những điều ta biết rõ hôm nay có thể chẳng là gì vào ngày mai”, bà chia sẻ.
Nghệ sĩ Thanh Bùi, nhà sáng lập Trường phổ thông liên cấp Việt Nam Tinh Hoa (TP.HCM), chung quan điểm. Làm quen với sự thay đổi sẽ là kỹ năng sống còn, ông nhận định, vì ngày nay đã không còn cái gọi là “an toàn tuyệt đối”. “Hàng chục nghìn gia đình nhận email lúc 6 giờ sáng để nhận tin mình bị sa thải vì cắt giảm nhân sự không còn là điều mới mẻ”, ông chia sẻ.
“Trẻ cần học cách đủ dũng cảm chấp nhận sự thay đổi và chủ động thích nghi với nó”, ông nói thêm.
Tiến sĩ Nguyễn Thị Diệu Anh, giảng viên ở Khoa Tâm lý học, Trường ĐH Khoa học xã hội và nhân văn (ĐH Quốc gia TP.HCM), thì lưu ý thêm song song với kiến thức, các em cũng cần được giáo dục nhận thức và hành vi về sức khỏe tâm thần, và yếu tố này cũng phải tích hợp trong bộ khung năng lực toàn cầu. “Để thành công, điều này cần có sự chung tay, đồng thuận giữa ba bên là giáo viên, phụ huynh và nhà trường”, bà nói.
Trường hướng tới nâng cao chất lượng đội ngũ nhân sự, đặt mục tiêu tăng mạnh đội ngũ giảng viên trình độ cao, phấn đấu tăng gấp đôi số lượng tiến sĩ với việc bổ sung thêm gần 250 tiến sĩ. Trong đó 50% đạt học hàm giáo sư, phó giáo sư và nâng gấp đôi số lượng công bố quốc tế trong 5 năm tới.
Thông tin được PGS.TS Trần Lê Quan - Hiệu trưởng Trường đại học Khoa học tự nhiên (Đại học Quốc gia TP.HCM) - công bố trong chiến lược phát triển đến năm 2030 của trường trong định hướng tăng trưởng chung của Đại học Quốc gia TP.HCM.
Hoạt động nghiên cứu của trường cũng ghi nhận những bước tiến đáng kể. Số lượng công bố quốc tế tăng trưởng ổn định 10-15% mỗi năm với gần 4.000 bài báo được công bố trên cơ sở dữ liệu Scopus trong 5 năm qua.
Khoảng 1.200 đề tài khoa học các cấp với tổng kinh phí hơn 200 tỉ đồng đã được trường triển khai hiệu quả.
Nhiều phòng thí nghiệm trọng điểm, nhóm nghiên cứu mạnh, sáng chế và sản phẩm chuyển giao công nghệ đã ra đời, góp phần giải quyết các vấn đề thực tiễn cho địa phương và doanh nghiệp.
"Với chiến lược này, Trường đại học Khoa học tự nhiên đặt mục tiêu trở thành trung tâm đào tạo và nghiên cứu hàng đầu, góp phần nâng tầm chất lượng giáo dục và khoa học Việt Nam trong giai đoạn tới", ông Quan nhấn mạnh.
Trường đại học Khoa học tự nhiên (Đại học Quốc gia TP.HCM) hiện có 1.070 viên chức, người lao động. Trong đó có 10 giáo sư, 66 phó giáo sư, 246 tiến sĩ và 404 thạc sĩ đang công tác tại 10 khoa, 11 phòng chức năng, thư viện, 8 trung tâm, 1 viện và 8 phòng thí nghiệm.
Tỉ lệ giảng viên có trình độ tiến sĩ chiếm hơn 60% và đang tiếp tục có xu hướng tăng trong những năm tới. Đến nay, quy mô đào tạo của trường đạt gần 18.000 sinh viên đại học cùng khoảng 2.500 học viên sau đại học và nghiên cứu sinh.
Trường đào tạo 31 chương trình đại học, 37 chương trình thạc sĩ và 31 chương trình tiến sĩ, trải dài 8 lĩnh vực trọng điểm như: khoa học tự nhiên, khoa học sự sống, kỹ thuật, công nghệ thông tin, toán - thống kê, môi trường và giáo dục.
Hệ sinh thái hợp tác quốc tế của trường ngày càng mở rộng với gần 60 đối tác và hơn 120 thỏa thuận hợp tác, triển khai nhiều chương trình liên kết đào tạo và đồng hướng dẫn nghiên cứu sinh, giúp nhà trường hội nhập sâu rộng trong khu vực và quốc tế.
Các chuyên gia giáo dục của Hệ thống Trường Quốc tế Việt Úc (VAS) - Ảnh: NTCC
Trong buổi chia sẻ trực tuyến của Hệ thống Trường Quốc tế Việt Úc (VAS), cô Đỗ Minh Châu, Giám đốc Khối Dịch vụ Trường học & Tuyển sinh cho rằng đích đến không đơn thuần là tốt nghiệp lớp 12 và trúng tuyển đại học, mà là việc học sinh có đủ năng lực, bằng cấp và hồ sơ để vào đúng trường, đúng ngành phù hợp với bản thân.
Mỗi hệ thống đại học trên thế giới có một ‘gu’ tuyển sinh riêng. Các trường tại Mỹ và Canada thường đánh giá cao hồ sơ toàn diện trong đó kết quả học tập chỉ chiếm khoảng 40-50%, còn lại là hoạt động ngoại khóa, kỹ năng lãnh đạo và bài luận cá nhân.
Trong khi đó, các trường tại Anh và Úc lại đặt trọng tâm vào năng lực học thuật xuất sắc, được khẳng định qua các chứng chỉ học thuật chuyên sâu như Cambridge IGCSE và A Level.
Tại Việt Nam, dù là các trường quốc tế hay các đại học công lập hàng đầu, yêu cầu tiên quyết vẫn là nền tảng học thuật vững chắc kết hợp với kỹ năng thế kỷ 21 đặc biệt là năng lực số, kỹ năng tự học và thích ứng để học sinh có thể thành công trong môi trường đại học đầy cạnh tranh.
Do đó, tùy vào quốc gia con muốn đến, bộ hồ sơ năng lực cần được ‘đo ni đóng giày’ ngay từ sớm chứ không thể ‘làm đẹp cấp tốc’ trong giai đoạn cuối cấp.
Cô Đỗ Minh Châu - Giám đốc Khối Dịch vụ Trường học & Tuyển sinh Hệ thống Trường Quốc tế Việt Úc (VAS)
Tại VAS, hồ sơ này được nhà trường đồng hành cùng học sinh xây dựng ngay từ lớp 8 thông qua chương trình Tư vấn Hướng nghiệp và Chuẩn bị vào đại học (UCCC).
Trong đó, học sinh được tư vấn cá nhân hoá xuyên suốt đến lớp 12, giúp các em xác định ‘đích đến’ phù hợp với bản thân, lập kế hoạch và chuẩn bị các điều kiện cần thiết để từng bước đạt được mục tiêu.
Theo cô Kelcie Jean Lamont - Giám đốc Điều hành kiêm Trưởng chương trình Cambridge Mầm non và Tiểu học, cơ sở VAS Riverside: ‘Thành công ở năm lớp 12 không bao giờ là sự ngẫu nhiên. Đó là kết quả của một hành trình đã được bắt đầu từ nhiều năm trước đó’.
Khi chúng ta nhìn thấy một học sinh đứng trên sân khấu với học bổng toàn phần hoặc điểm A tuyệt đối ở A Levels, chúng ta không chỉ đang nhìn vào một năm nỗ lực, đó thực chất là ‘trái ngọt’ từ một nền tảng chiến lược được xây dựng bền bỉ suốt những năm Tiểu học và Trung học.
Cô Kelcie Jean Lamont - Giám đốc Điều hành kiêm Trưởng chương trình Cambridge Mầm non & Tiểu học, cơ sở VAS Riverside
Theo các chuyên gia, để thành công trong môi trường toàn cầu, bên cạnh học thuật, học sinh cần được trang bị các kỹ năng cốt lõi cho tương lai như: Kỹ năng số & tư duy AI; bộ kỹ năng thế kỷ 2 (giao tiếp, phản biện, tự học) và quan trọng nhất đó là kỹ năng thích nghi thực tế, luôn giữ cho bản thân vững vàng cân bằng trước mọi biến động.
Đây cũng chính là những năng lực mà học sinh được nuôi dưỡng và phát triển trong suốt hành trình 15 năm từ bậc mầm non tới lớp 12 tại VAS.
Cô Nguyễn Thu Hà, Hiệu trưởng Hệ thống cho biết: VAS hiện đang giảng dạy 3 lộ trình học song ngữ, tất cả đều có đầu ra là bằng cấp, chứng chỉ Cambridge có giá trị toàn cầu gồm: Lộ trình Tích hợp Quốc tế Toàn phần Cambridge (CAPI); Lộ trình Song ngữ Học thuật Cambridge (CAP); Lộ trình Tiếng Anh Cambridge Chuyên sâu (CEP); Cùng các chương trình giáo dục toàn diện như: giá trị cốt lõi, sức khoẻ well-being, ngoại khoá, UCCC...
Do đó, dù học sinh có nhu cầu và ‘đích đến’ ở đâu cũng có thể tìm được lộ trình học phù hợp để được hỗ trợ tối ưu.
Hiệu trưởng Hệ thống Trường Quốc tế Việt Úc (VAS) - Cô Nguyễn Thu Hà
Hành trình 15 năm học tại VAS được thiết kế rõ ràng theo từng giai đoạn gồm:
- Mầm non - Gieo hạt : Trẻ làm quen với chương trình giáo dục mầm non Cambridge, phát triển toàn diện và hình thành sự tự tin, khả năng giao tiếp và tình yêu học tập.
- Tiểu học - Xây nền học thuật và tư duy : Học sinh phát triển tiếng Anh học thuật, tư duy logic và kỹ năng tự học; sử dụng tiếng Anh để học các môn học thuật Cambridge và thi lấy chứng chỉ Cambridge Checkpoint Tiểu học.
- THCS (Lớp 6-8) - Định hướng cá nhân : Học sinh khám phá bản thân, xác định thiên hướng; đồng thời rèn luyện các kỹ năng quan trọng như tư duy phản biện, nghiên cứu, thuyết trình, quản lý dự án và thi lấy chứng chỉ Cambridge Checkpoint Trung học.
- THPT (Lớp 9-12) - Tăng tốc : Học sinh xác định mục tiêu rõ ràng và lập kế hoạch chi tiết để từng bước ‘về đích’. Đầu ra chứng chỉ IGCSE và A Levels chính là ‘tấm vé thông hành’ đến các trường đại học hàng đầu thế giới, tuyển thẳng vào nhiều đại học lớn ở Việt Nam, đồng thời giúp học sinh tăng lợi thế khi ‘săn’ họ bổng và có thể rút ngắn gần 1 năm học đại học nhờ được miễn tín chỉ khi quy đổi điểm A Level.
Đây chính là những yếu tố giúp học sinh không chỉ trúng tuyển vào đại học mà còn là bệ phóng để các em phát triển và vững bước thành công trong tương lai.