Tổng công ty Cảng hàng không Việt Nam (ACV) vừa công bố thông qua kế hoạch triệu tập đại hội đồng cổ đông thường niên năm 2026.
Theo đó, doanh nghiệp dự kiến tổ chức đại hội trong tháng 6-2026. Thời gian cụ thể sẽ được doanh nghiệp thông báo trong thư mời gửi cổ đông.
Địa điểm diễn ra tại trụ sở ACV, số 58 Trường Sơn, phường Tân Sơn Hòa, TP.HCM. Tài liệu họp chưa được doanh nghiệp công bố.
Đại hội của ACV năm nay diễn ra trong bối cảnh khá đặc biệt. Vừa qua, một số lãnh đạo cấp cao của doanh nghiệp bị khởi tố.
Từ ngày 17-3-2026, ông Vũ Thế Phiệt không còn giữ chức chủ tịch HĐQT ACV vì bị điều tra về tội vi phạm quy định về đấu thầu gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng. Thay thế vị trí này, ông Lê Văn Khiên được giao giữ chức quyền chủ tịch HĐQT.
Theo S&I Ratings, kế hoạch kinh doanh năm 2026 từ các doanh nghiệp bất động sản niêm yết cho thấy sự khác biệt khá rõ nét giữa các doanh nghiệp.
Nhìn tổng thể, doanh thu trung bình dự kiến tăng trưởng khá tốt (+84%), tuy nhiên biên lợi nhuận 2026 có xu hướng mỏng hơn khi lợi nhuận sau thuế kế hoạch trung bình chỉ tăng 37%.
Những động lực của tăng trưởng 2026 đến từ kỳ vọng tháo gỡ pháp lý, hạ tầng được nâng cấp và cả nền so sánh thấp của 2025.
Ở chiều ngược lại, chi phí xây dựng và lãi suất tăng cao đang đặt ra những thách thức cho thị trường bất động sản 2026.
Trong bối cảnh đó, các chủ đầu tư đã nỗ lực đưa ra các giải pháp tài chính để hỗ trợ người mua. S&I Ratings duy trì quan điểm 2026-2027 sẽ là giai đoạn chứng kiến sự gia tăng mạnh của nguồn cung hơn là một chu kỳ tăng giá mới.
Đây là một giải pháp được Bộ Y tế đưa ra trong hồ sơ gửi Bộ Tư pháp thẩm định về dự thảo chính sách của Luật An toàn thực phẩm (sửa đổi).
Theo đó, mục tiêu quản lý an toàn thực phẩm theo toàn bộ chuỗi giá trị thực phẩm từ sản xuất ban đầu, trồng trọt, chăn nuôi, thu hái, đánh bắt, khai thác, giết mổ, chế biến, kinh doanh, lưu thông trên thị trường cho đến tận tay người tiêu dùng.
Việc này nhằm đảm bảo các sản phẩm lưu thông trên thị trường an toàn và chất lượng cho người sử dụng, hướng tới phương thức kiểm soát an toàn thực phẩm của các nước phát triển.
Dự thảo nêu rõ nội dung sẽ quản lý an toàn thực phẩm toàn bộ các khâu từ sản xuất ban đầu, trồng trọt, chăn nuôi, thu hái, đánh bắt, khai thác, giết mổ cho đến chế biến, kinh doanh, lưu thông, tiêu dùng sản phẩm bao gồm cả cơ sở sản xuất, kinh doanh thực phẩm cũng như sản phẩm thực phẩm.
Tăng cường vai trò của cơ quan quản lý nhà nước, cơ sở kiểm nghiệm trong công tác kiểm tra giám sát, chủ động lấy mẫu đối với sản phẩm thực phẩm lưu thông trên thị trường.
Bộ Y tế đề xuất thực hiện quản lý theo quy định của pháp luật liên quan đối với khâu sản xuất ban đầu, trồng trọt, chăn nuôi, thu hái, đánh bắt, khai thác, giết mổ. Luật An toàn thực phẩm chỉ quy định quản lý cụ thể từ khâu sau thu hoạch, giết mổ đến chế biến, lưu thông, tiêu dùng của sản phẩm thực phẩm.
Bộ Tư pháp đang thẩm tra dự thảo nghị định quy định về miễn phí sách giáo khoa giáo dục phổ thông, lộ trình miễn học phí, giáo trình môn học giáo dục quốc phòng và an ninh tại cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp.
Đáng chú ý, dự thảo đề xuất từ năm học 2027 – 2028, thống nhất thực hiện miễn phí giáo trình môn học giáo dục quốc phòng và an ninh trên toàn quốc cho tất cả các đối tượng.
Trong đó, Nhà nước bảo đảm ngân sách mua sắm giáo trình để trang bị đồng bộ cho thư viện của các cơ sở đào tạo và trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh.
Cơ sở đào tạo cho sinh viên mượn và trả giáo trình có thời hạn. Ngay sau khi kết thúc môn học hoặc đợt học tập tập trung, sinh viên có trách nhiệm hoàn trả giáo trình để nhà trường kiểm kê, bảo quản và tái sử dụng cho các khóa tiếp theo.
Trung tâm giáo dục quốc phòng và an ninh, cơ sở đào tạo trực tiếp giảng dạy môn học này cho giảng viên mượn và trả giáo trình có thời hạn.
Dự thảo cũng đề xuất sinh viên học tại các cơ sở đào tạo không phải nộp học phí với môn học giáo dục quốc phòng và an ninh theo chương trình đào tạo bắt buộc do cơ quan có thẩm quyền quy định.
Với sinh viên không hoàn thành khóa học (do thi không đạt, nghỉ học quá thời gian quy định hoặc các lý do chủ quan khác) dẫn đến phải đăng ký học lại môn học này sẽ không được hưởng chính sách miễn học phí cho lần học lại.
Sinh viên bị ốm đau, các tình huống bất khả kháng buộc phải nghỉ học và được nhà trường xác nhận được miễn học phí cho lần học tiếp theo.
Ẩn sâu dưới lòng New York là một trong những kho vàng lớn nhất thế giới - nơi cất giữ hàng nghìn tấn vàng của nhiều quốc gia, nhưng phần lớn lại không thuộc về Mỹ. Điều đáng chú ý là những “chủ nhân” chính lại là các nền kinh tế hàng đầu châu Âu.
Thực tế, kho vàng của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ tại New York (Fed) chỉ đóng vai trò lưu ký. Trong khoảng 6.300 tấn vàng đang được bảo quản, tới 98% thuộc về các ngân hàng trung ương và chính phủ nước ngoài - biến nơi đây thành “ngân khố chung” của thế giới.
Dù danh sách chi tiết không được công bố, nhiều dữ liệu cho thấy châu Âu chiếm phần lớn. Đức là cái tên nổi bật, với khoảng 1.200 tấn vàng từng được lưu trữ tại Mỹ. Dù đã triển khai chương trình hồi hương từ năm 2013, Berlin vẫn giữ khoảng 1/3 dự trữ tại đây.
Italy - một trong những quốc gia nắm giữ vàng lớn nhất thế giới - cũng duy trì lượng vàng đáng kể ở nước ngoài, bao gồm Mỹ, nhằm đảm bảo khả năng giao dịch nhanh trên thị trường quốc tế.
Trong khi đó, Hà Lan và Bỉ từng gửi tới một nửa dự trữ vàng tại New York, nhưng gần đây đã chuyển dần về nước. Thụy Sĩ lựa chọn cách phân bổ linh hoạt giữa trong nước, Mỹ và Anh. Ngược lại, Pháp từ lâu ưu tiên giữ vàng trong nước, hạn chế phụ thuộc vào các kho ngoại quốc.
Nguồn gốc của xu hướng này bắt đầu sau Thế chiến thứ hai. Khi đó, Mỹ nổi lên như nền kinh tế ổn định nhất. Việc chuyển vàng sang New York khi đó không chỉ để cất giữ, mà còn là cách “trú ẩn” trong một hệ thống tài chính được xem là an toàn nhất.
Nhưng yếu tố an toàn chỉ là một phần. Quan trọng không kém là tính tiện lợi. Kho vàng tại New York hoạt động như một trung tâm giao dịch khi các quốc gia có thể mua bán vàng chỉ bằng cách chuyển quyền sở hữu trong cùng hệ thống kho, không cần vận chuyển vật chất.
Vai trò trung tâm tài chính toàn cầu của New York càng củng cố xu hướng này khi đồng USD trở thành trụ cột của hệ thống tiền tệ và có thể quy đổi trực tiếp sang vàng.
Dù vậy, xu hướng đang dần đảo chiều. Trong hơn một thập kỷ qua, nhiều quốc gia đã âm thầm đưa vàng về nước. Đức chuyển hàng trăm tấn về Frankfurt, Hà Lan cũng có động thái tương tự, còn Pháp gần như không phụ thuộc vào kho vàng Mỹ.
Động lực không chỉ mang tính kỹ thuật mà còn đậm màu sắc địa chính trị. Khi thế giới chứng kiến các tài sản quốc gia có thể bị đóng băng trong xung đột, câu hỏi về “chủ quyền tài sản” trở nên cấp thiết hơn bao giờ hết. Bên cạnh đó, áp lực trong nước gia tăng khi cử tri và giới chính trị yêu cầu chính phủ kiểm soát trực tiếp các tài sản chiến lược.
Tại Diễn đàn Nhịp cầu Phát triển Việt Nam 2026 ngày 13/5, Phó thủ tướng Nguyễn Văn Thắng cho biết Việt Nam đang chuyển từ tư duy thu hút FDI đại trà sang lựa chọn các dự án chất lượng.
"FDI thế hệ mới không chỉ đến Việt Nam để sản xuất hay khai thác thị trường, cần tạo ra giá trị, năng lực và vị thế mới trong chuỗi giá trị toàn cầu", ông nói.
Thay vì chỉ quan tâm quy mô vốn đầu tư, Việt Nam thu hút các dự án ngoại chú trọng công nghệ, tạo giá trị gia tăng, đào tạo nhân lực và kết nối với doanh nghiệp Việt tham gia chuỗi cung ứng. Các lĩnh vực được ưu tiên rót vốn giai đoạn tới bao gồm bán dẫn, AI, dữ liệu, công nghệ sinh học, dược phẩm, năng lượng sạch và logistics hiện đại.
Hiện tại, Việt Nam có hơn 46.500 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký hơn 543 tỷ USD. Vốn thực hiện lũy kế đạt khoảng 357,6 tỷ USD. Khu vực FDI hiện đóng góp khoảng trên 20% GDP, khoảng 70% kim ngạch xuất khẩu và tạo việc làm cho hàng triệu lao động.
Việt Nam vẫn duy trì vị thế thu hút FDI hàng đầu ASEAN với sự hiện diện của nhiều tập đoàn công nghệ lớn. Tuy vậy, Phó thủ tướng đánh giá liên kết giữa khối ngoại và doanh nghiệp trong nước vẫn còn hạn chế. Các công ty trong nước mới tham gia chuỗi giá trị của doanh nghiệp FDI ở phân khúc giá trị gia tăng thấp.
Ông cũng nhìn nhận cạnh tranh thu hút đầu tư toàn cầu đã thay đổi cùng với xu hướng tái cấu trúc chuỗi cung ứng, chuyển đổi xanh - số. Theo đó, nhà đầu tư ngày càng quan tâm tới chất lượng thể chế, ổn định chính sách, hạ tầng chiến lược, dữ liệu và nguồn nhân lực chất lượng cao, thay vì chỉ ưu đãi hay chi phí lao động thấp.
Để thu hút vốn ngoại thế hệ mới, ông cho biết Chính phủ sẽ tiếp tục cắt giảm thủ tục, đầu tư hạ tầng và nhân lực, đồng thời xử lý nghiêm tình trạng chuyển giá, gian lận thương mại và vi phạm môi trường.
Ngày 10-4, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) công bố báo cáo Triển vọng phát triển châu Á tháng 4-2026. Ấn phẩm kinh tế thường niên chủ chốt của ADB tiếp tục duy trì triển vọng tích cực cho Việt Nam trong ngắn hạn.
Kinh tế Việt Nam được dự báo tăng trưởng 7,2% trong năm 2026, và 7,0% trong năm 2027 so với mức 8,0% năm 2025.
Giám đốc quốc gia của ADB tại Việt Nam, ông Shantanu Chakraborty, đánh giá dự báo của ADB với tăng trưởng kinh tế của Việt Nam vẫn nằm trong tốp tích cực và cao nhất ở Đông Nam Á, cho thấy rõ khả năng phục hồi của nền kinh tế, bất chấp những thách thức chung mà nhiều nước đang phải đối mặt.
Chính phủ Việt Nam, theo nhận định của ông Chakraborty, đã phản ứng nhanh chóng trước tình trạng gián đoạn nguồn cung năng lượng do xung đột tại Trung Đông gây ra.
Các biện pháp tài khóa có thời hạn, bao gồm giảm thuế, sử dụng quỹ bình ổn, kết hợp với điều hành giá linh hoạt và tăng cường phối hợp đảm bảo nguồn cung, đã góp phần kìm chế áp lực lạm phát trong ngắn hạn và hỗ trợ tăng trưởng.
Mặc dù vậy, rủi ro suy giảm vẫn ở mức đáng kể, theo ADB. Cuộc xung đột kéo dài tại Trung Đông có thể làm gián đoạn dòng chảy dầu, khí và phân bón qua eo biển Hormuz, làm tăng chi phí vận chuyển và gây chậm trễ. Cùng với xung đột tại Ukraine, các diễn biến này làm gia tăng biến động giá hàng hóa và tiếp tục gây áp lực lên chuỗi cung ứng toàn cầu.
Tăng trưởng chậm lại tại các đối tác thương mại lớn cũng có thể thu hẹp thặng dư thương mại và làm giảm tốc độ tăng trưởng của Việt Nam.
Để duy trì tốc độ tăng trưởng cao và bền vững, giám đốc quốc gia ADB khuyến nghị Việt Nam cần tập trung vào việc nâng cao năng suất và hiệu quả sản xuất, tăng cường thị trường tài chính và vốn để đảm bảo các nhà đầu tư tiếp cận được vốn dài hạn.
"Cuối cùng, điều quan trọng nhất và đã được nêu bật bởi cuộc khủng hoảng gần đây, là tập trung vào an ninh năng lượng, chuyển đổi sang năng lượng xanh và sạch, tự chủ năng lượng để giảm thiểu tác động của bất kỳ yếu tố ngoại lai nào trong tương lai", ông Chakraborty nêu khuyến nghị.
Theo giám đốc quốc gia ADB, năm 2025 chứng kiến sự thay đổi đáng kể trong cải cách môi trường kinh doanh tại Việt Nam, với Nghị quyết 68 đặt khu vực tư nhân làm trọng tâm tăng trưởng của đất nước.
Nghị định 242 về cơ bản đã đơn giản hóa quy trình vay vốn ODA, do đó sự chồng chéo các thủ tục phê duyệt, nhu cầu xin phê duyệt từ nhiều nguồn khác nhau và cách tiếp cận theo từng giai đoạn trong việc chuẩn bị dự án đã được cải thiện đáng kể.
Thêm vào đó, việc phân cấp, phân quyền cho các tỉnh, thành cũng được thực hiện ở mức tốt hơn trước và vẫn còn rất nhiều dư địa để nâng cao hiệu quả và năng suất của cơ cấu quản trị. Các tỉnh, theo ông Chakraborty, cần được trang bị kỹ năng tốt hơn nữa để các dự án chất lượng cao có thể thu hút các nhà cho vay, tài trợ quốc tế, đặc biệt trong tiến độ chuẩn bị dự án.
"Với bộ máy lãnh đạo mới hiện nay và các mục tiêu tăng trưởng GDP rất tham vọng, tôi nghĩ rằng trọng tâm thực sự nên là rút ngắn khoảng thời gian từ khi bắt đầu chuẩn bị dự án đến khi sẵn sàng triển khai để vốn có thể chảy vào. ADB sẵn sàng hỗ trợ bằng mọi cách có thể để đẩy nhanh tiến độ chuẩn bị dự án", ông Chakraborty nhấn mạnh.