Theo thống kê, trên địa bàn TP.HCM hiện có khoảng hơn 2.000 mặt bằng, với hàng trăm héc ta đất là mặt bằng, cơ sở nhà đất, tài sản công do T.Ư quản lý đang để trống kéo dài, gây lãng phí nguồn lực đất đai nghiêm trọng.
Sau khi hoàn tất kê khai và nộp thuế quý 1, nhiều hộ kinh doanh thuộc nhóm 3 (doanh thu từ trên 3 tỉ đến dưới 50 tỉ đồng/năm) vẫn còn không ít băn khoăn, lo lắng, đặc biệt sợ bị truy thu thuế trong bối cảnh chính sách đang điều chỉnh, thay đổi.
Giữa lúc đang đàm phán, Mỹ – Iran lại leo thang xung đột và Washington dường như đang tìm cách sẵn sàng mở cửa eo biển Hormuz bằng vũ lực.
Tin Gốc: Thanh Niên

Từ lâu, ở vùng rừng đước, rừng mắm của Cà Mau, ba khía là đặc sản quen thuộc, gắn với đời sống người dân ven rạch và những con nước lên xuống. Thế nhưng, vào mùa ba khía lột (khoảng tháng 6 âm lịch), thời điểm con to và nhiều thịt nhất lại trở thành nỗi lo của các vựa thu mua và người dân khai thác.
Ba khía lột có vỏ mềm, nhiều nước nên không thể muối theo cách truyền thống, cũng khó bảo quản để vận chuyển đi xa. Vì vậy, cứ đến mùa, người bắt ba khía gần như chỉ còn cách bán tháo vì để lâu chúng bị chết. Thương lái ngại mua khiến giá loại này bị ép xuống thấp hơn nhiều so với ba khía thường. Những con lột khó tiêu thụ nên bị xem là hàng dạt, giá trị thấp dù chất lượng thịt cao hơn bình thường.
Không muốn nguồn nguyên liệu dồi dào mãi bị ép giá, chị Trần Thị Xa cùng chồng là anh Nguyễn Văn Miên quyết định tìm hướng đi khác. Hai vợ chồng thu mua, giữ lại ba khía lột thay vì bán rẻ và nghĩ cách chế biến để nâng giá trị sản phẩm.
"Mùa ba khía lột, vựa không thu mua. Tôi nghĩ sao không lấy xay ra làm riêu như cua đồng", chị Xa kể lại ý tưởng xuất phát từ thực tế, sau này trở thành bước ngoặt. Từ nguyên liệu từng bị chê vì khó bảo quản, ba khía lột bắt đầu được định giá lại bằng một cách hoàn toàn khác.
Nhìn bên ngoài, làm riêu từ ba khía có vẻ không khác nhiều so với cua đồng, nhưng khi bắt tay vào làm thì sự khác biệt mới lộ rõ. Ba khía sống trong môi trường rừng ngập mặn, mùi đặc trưng đậm hơn, nếu xử lý không khéo rất dễ bị tanh gắt. Bài toán đặt ra không chỉ là làm ra riêu, mà phải làm sao giữ được vị ngọt tự nhiên và "dễ ăn" với người tiêu dùng.
Quy trình vì vậy được kiểm soát chặt ngay từ đầu vào. Ba khía lột tươi sống sau khi thu mua được rửa thật sạch rồi ủ đá gây tê ngay để giữ độ tươi. Tốc độ là yếu tố quan trọng, bởi nếu chậm, thịt sẽ nhanh hư.
Khâu tách vỏ và sơ chế phải làm nhanh gọn. Đây là công đoạn quyết định chất lượng của cả mẻ riêu. Điểm khác biệt lớn nhất nằm ở công đoạn xay. Gia đình chị Xa tự thiết kế máy xay chuyên dụng, kéo dài thời gian xay từ 15 - 20 phút cho mỗi mẻ khoảng 5 kg. Mục tiêu là làm nhuyễn hoàn toàn phần xương, giúp riêu khi nấu không bị lợn cợn, chi tiết nhỏ nhưng ảnh hưởng trực tiếp đến trải nghiệm người ăn.
Để giữ chất lượng, họ chấp nhận tỷ lệ hao hụt cao, 1kg ba khía tươi chỉ cho ra khoảng 700 gram riêu thành phẩm. Đổi lại, sản phẩm đạt độ mịn, giữ được vị ngọt thanh và qua kiểm nghiệm có hàm lượng canxi cao, vượt trội so với nhiều loại cua cùng nhóm. Cái "đắt" của riêu ba khía không nằm ở nguyên liệu, mà nằm ở cách xử lý để biến nguyên liệu khó thành sản phẩm dễ ăn.
Những mẻ riêu đầu tiên không hoàn hảo ngay. Có mẻ còn nồng mùi, có mẻ chưa đạt độ ngọt như mong muốn. Nhưng qua nhiều lần điều chỉnh, công thức dần ổn định, giữ được vị ngọt thanh và "chất rừng" đặc trưng của ba khía Đất Mũi.
Khi sản phẩm ổn định chất lượng, thị trường cũng bắt đầu phản hồi tích cực. Từ tiêu thụ nhỏ lẻ, riêu ba khía dần có chỗ đứng riêng. Hiện sản phẩm đã đạt chuẩn OCOP 4 sao và đăng ký bảo hộ độc quyền, trở thành hàng hóa có thương hiệu thay vì chỉ là sản phẩm chế biến quy mô hộ gia đình.
Giá bán lẻ hiện ở mức 130.000 đồng/kg, giá sỉ khoảng 80.000 đồng/kg. Thị trường tiêu thụ mạnh là Hà Nội, TP.HCM và các đô thị lớn. Mỗi tháng, cơ sở xuất bán từ 1 - 2 tấn riêu ba khía, mang lại lợi nhuận hàng chục triệu đồng. Con số không quá lớn nếu so với doanh nghiệp, nhưng đủ để chứng minh một hướng đi hiệu quả từ quy mô hộ.
Nếu trước đây đặc sản này chủ yếu gắn với món ba khía muối thì nay riêu ba khía mở ra hướng tiếp cận khác, tiện lợi hơn, dễ chế biến hơn và phù hợp với nhiều nhóm khách hàng. Chính sự thay đổi đó đã giúp loại nguyên liệu từng bị xem là hàng dạt bước ra khỏi phạm vi địa phương để đi vào các thị trường lớn.
Riêu ba khía được nhiều người dùng để nấu canh, nấu bún riêu... Vị ngọt thanh tự nhiên, mùi thơm đặc trưng giúp món ăn mang đậm hương vị rừng ngập mặn, vừa dân dã nhưng cũng đủ khác biệt để tạo tò mò với thực khách.
Tin Gốc: Thanh Niên

Tổng công ty Điện lực TP.HCM (EVNHCMC) đã có những bước phát triển đột phá, chuyển mình từ lưới điện truyền thống sang lưới điện thông minh và là doanh nghiệp số hàng đầu.
Với phương châm đảm bảo nhu cầu điện cho phát triển kinh tế và mang đến nhiều sự tiện lợi cho người dân nên ngay từ những ngày đầu "đặt nền móng" cho hành trình phát triển lưới điện thông minh của mình, ngành điện thành phố đã có những "viên gạch" khởi đầu từ những điều cơ bản nhất.
Trải qua các giai đoạn ban đầu là sự tìm tòi, nghiên cứu công nghệ lưới điện thông minh. Sau đó, là sự thí điểm trên quy mô nhỏ để đánh giá quá trình cùng mong muốn làm chủ công nghệ. Trải qua thêm 9 năm bền bỉ của cán bộ, nhân viên EVNHCMC trong quá trình triển khai diện rộng có chiều sâu trên toàn bộ địa bàn thành phố mang tên Bác, EVNHCMC sở hữu hệ thống lưới điện thông minh toàn diện, đáp ứng chuẩn mực quốc tế trên nhiều lĩnh vực: giám sát, điều khiển, phân tích dữ liệu, độ tin cậy cung cấp điện, tích hợp nguồn điện phân tán, năng lượng xanh cùng an ninh, bảo mật.
Lưới điện thông minh của EVNHCMC ra đời đã giải quyết được nhiều vấn đề trong khắc phục sự cố về điện của thành phố như: thời gian tái lập cung cấp điện cho khách hàng khi có sự cố - nếu như trước đây phải mất 60 đến 120 phút thì nay việc giải quyết sự cố chỉ còn dưới 1 phút. Hay như, một con số ấn tượng của ngành điện thành phố đã làm được đó là trong giai đoạn từ năm 2015 đến năm 2023, EVNHCMC cho biết số lần mất điện trung bình đối với mỗi khách hàng của ngành điện thành phố giảm từ 6,72 lần xuống còn 0,18 lần. Thời gian mất điện trung bình giảm từ 720 phút xuống còn 15,2 phút/mỗi khách hàng.
Cán bộ, công nhân viên, tập thể ngành điện TP.HCM nỗ lực không ngừng nghỉ trong quá trình phát triển lưới điện thông minh cho thành phố. Để ghi nhận nỗ lực đó, năm 2022 Tập đoàn Năng lượng quốc gia Singapore đã đánh giá mức độ thông minh của lưới điện TP.HCM xếp hạng 47/94 công ty điện lực triển khai hiệu quả lưới điện thông minh trên thế giới, và đứng thứ hai trong khối ASEAN. Chẳng phải ngẫu nhiên mà Tập đoàn Điện lực Singapore (SP Group) đánh giá EVNHCMC nằm trong top các đơn vị có lưới điện thông minh phát triển mạnh tại khu vực Đông Nam Á. Vị thế của ngành điện TP.HCM ngang bằng một số công ty điện lực tiên tiến trên thế giới.
Trong đêm chung kết giải thưởng Power Energy Award - Enlit Asia 2023, EVNHCMC đã vinh dự nhận giải thưởng cao nhất ở hạng mục "Dự án hệ thống tự động hóa lưới điện cao trung thế". Kết quả này chính là sự công nhận của quốc tế đối với các nỗ lực không ngừng nghỉ, sự bền bỉ và sáng tạo trong quá trình đầu tư, xây dựng, phát triển lưới điện thông minh của ngành điện TP.HCM qua chính sự tận tụy, nghĩa tình của tập thể cán bộ, công nhân viên ngành điện thành phố.
Từ một hệ thống điện nghèo nàn, chắp vá lạc hậu, EVNHCMC đã xây dựng mạng lưới phủ khắp thành phố. Cung cấp nguồn điện ổn định và an toàn cho 100% các khu công nghiệp, khu công nghệ cao và cho người dân. Đóng góp quan trọng cho sự phát triển không ngừng lớn mạnh của trung tâm kinh tế năng động, hiện đại bậc nhất của dải đất hình chữ S xinh đẹp, hiền hòa.
Đặc biệt, 2015 là năm đánh dấu cột mốc quan trọng của EVNHCMC khi chính thức xóa vùng "trắng điện" ở huyện đảo Cần Giờ bằng cáp ngầm xuyên biển, đưa điện lưới ra đảo Thạnh An thành công. Từ đây, Cần Giờ chính thức chấm dứt việc phụ thuộc vào máy phát điện chạy bằng dầu diesel như trước đó. Góp phần lớn lao trong việc thay đổi diện mạo kinh tế biển, đời sống người dân và phát triển du lịch, thủy sản.
Với vai trò cung ứng năng lượng, đảm bảo an ninh năng lượng cho sự phát triển của thành phố cũng như người dân, nhất là mùa cao điểm nguồn điện có thể bị thiếu trầm trọng do nhu cầu sử dụng điện tăng cao, trong nhiều năm trở lại đây EVNHCMC đã phát triển ứng dụng nguồn năng lượng sạch: thúc đẩy mạnh mẽ điện mặt trời mái nhà và hạ tầng trạm sạc xe điện, hướng tới mục tiêu Net Zero.
Sự thay đổi, thích ứng, tiên phong đi đầu của ngành điện TP.HCM không chỉ là những con số về sản lượng, mà là sự chuyển dịch từ "cung cấp điện đơn thuần" sang "dịch vụ năng lượng thông minh và bền vững".
Có thể nói, trong suốt hành trình 50 năm qua ngành điện TP.HCM với sự tận tụy - bản lĩnh - hiện đại - nhân văn - nghĩa tình của những người "chiến sĩ" khoác lên mình chiếc áo cam bền bỉ. Họ không chỉ "thắp sáng" thành phố mang tên Bác trở nên lung linh sắc màu mà còn là nền tảng quan trọng giúp thành phố phát triển hiện đại, văn minh và bền vững.
Tin Gốc: Thanh Niên
Đời Sống
Ngôi chùa hơn 300 năm ở Huế lưu giữ bộ kinh gần 300 năm còn nguyên vẹn

Huế, vùng đất được mệnh danh là kinh đô của Phật giáo Việt Nam, luôn mang một vẻ đẹp trầm mặc, sâu lắng. Giữa sông Hương, núi Ngự, có một chốn thiền môn lặng lẽ mà thời gian dường như chậm lại, giúp lòng người tìm thấy bình yên: đó chính là chùa Quốc Ân - ngôi chùa cổ kính bậc nhất xứ Huế.
Nằm dưới chân đồi Hòn Thiên, phía tây núi Ngự Bình (phường Trường An, thành phố Huế), chùa Quốc Ân ẩn mình trong không gian xanh mát, xa rời ồn ào phố thị.
Từ trung tâm thành phố, men theo đường Đặng Huy Trứ chỉ vài phút, du khách đã bắt gặp cổng tam quan cổ kính, giản dị mà trang nghiêm. Hương nhang thoang thoảng, tiếng chuông ngân vang chậm rãi như nhắc nhở về vô thường, tạo nên một không gian thiền tịnh đặc trưng.
Chùa được thiền sư Nguyên Thiều (người Quảng Đông, Trung Quốc, đời thứ 33 thiền phái Lâm Tế) khai sơn vào khoảng năm 1682-1684 dưới thời chúa Hiền Vương Nguyễn Phúc Tần. Ban đầu chùa mang tên Vĩnh Ân, đến năm 1689 được chúa Nguyễn Phúc Thái ban sắc tứ đổi thành Quốc Ân – nghĩa là "ân đức của quốc gia", thể hiện sự gắn bó mật thiết giữa Phật giáo và triều đình Đàng Trong.
Trải qua hơn 340 năm, chùa đã chứng kiến bao thăng trầm lịch sử từ thời chúa Nguyễn, Tây Sơn đến triều Nguyễn. Nhiều lần được trùng tu lớn (1806, 1822, 1851…), kiến trúc chùa theo kiểu chữ "khẩu" truyền thống Huế, với điện Đại Hùng xây theo lối "trùng thiềm điệp ốc".
Những cột gỗ lim vững chãi, mái chạm trổ tinh xảo, họa tiết tùng lộc, ngũ phúc… toát lên vẻ đẹp vừa cung đình vừa thanh tịnh thiền môn. Qua bao năm tháng, chùa Quốc Ân xuống cấp theo thời gian và khí hậu khắc nghiệt tại chốn kinh kỳ này.
Vào những năm đầu thế kỷ 21, khi thầy Thích Minh Chơn về làm giám tự tại chùa Quốc Ân, thầy đã phát nguyện làm cuộc đại trùng tu ngôi tổ đình Quốc Ân, để gìn giữ và phát triển đạo pháp. Cho đến hôm nay, hơn 98% ngôi chùa đã được trùng tu một cách khang trang, tuân thủ đến từng chi tiết của ngôi chùa cũ đã có hàng trăm năm nay.
Từ ngày 7.4.2026, Thư viện Huệ Quang TP.HCM chính thức khởi động đợt sưu khảo tư liệu Phật giáo tại Huế, kéo dài trong một tháng. Tại đây, đoàn phát hiện chùa Quốc Ân còn lưu giữ được nhiều kinh sách Hán Nôm quý giá, trong đó có những bản khắc in từ thời Lê Trung Hưng – những di sản quý báu phản ánh sinh hoạt tu học và truyền bá Phật pháp qua các triều đại.
Từ sáng 9.4 vừa qua, các thành viên trong đoàn khảo cứu của Thư viện Huệ Quang làm việc với tinh thần thận trọng, khoa học: phân loại, chụp ảnh, số hóa kinh sách Hán Nôm, mộc bản, liễn đối cổ, long vị tổ, pháp quyển, đồng thời ghi nhận hệ thống kiến trúc, tượng thờ và pháp khí.
Toàn bộ quy trình được thực hiện cẩn trọng, hạn chế tối đa tác động đến hiện trạng di vật, nhằm đảm bảo giá trị nghiên cứu lâu dài, định hướng dài hạn trong công tác bảo tồn và nghiên cứu tư liệu Phật giáo Việt Nam.
Như thầy Thích Minh Chơn, trụ trì Chùa Quốc Ân nói: "Mỗi bản kinh, mỗi tấm mộc bản, mỗi chi tiết kiến trúc tại tổ đình Quốc Ân không chỉ là di sản vật chất mà còn là "kho lưu trữ sống" của lịch sử văn hóa, tôn giáo. Nên nhà chùa từ đời này qua đời khác đã dày công gìn giữ…". Thật vậy! Công việc sưu khảo chính là hành trình lặng lẽ nhưng bền bỉ, góp phần ghi lại và phục dựng ký ức văn hóa đang dần mai một theo thời gian.
Theo nhận định của đoàn khảo sát của Thư viện Huệ Quang và các bậc tỳ kheo thông thạo kinh sách Hán Nôm và qua tìm hiểu của những chuyên gia khảo cứu, tổ đình Quốc Ân không chỉ lưu trữ những Di sản vô giá về thiền phái, truyền thừa, nghệ thuật và văn hóa mà nơi đây còn lưu trữ hệ thống thư tịch Hán Nôm Phật giáo mang giá trị lớn, tính nghiên cứu cao, hiện tồn độc bản.
Trong số di sản Hán Nôm Phật giáo hiện còn tồn tại ở tổ đình Quốc Ân có bộ Kinh Diệu Pháp Liên Hoa Thai Tông Hội Nghĩa, còn gọi là Pháp Hoa Hội Nghĩa hiện còn đủ bộ 8 cuốn. Bản kinh ra đời tại Trung Hoa vào giai đoạn giao tranh của 2 triều đại Minh - Thanh niên hiệu Thuận Trị thứ 6 (nhà Thanh), Vĩnh Lịch thứ 3 (nhà Minh) (1649 bắt đầu trước tác, 1650 hoàn thành).
Giữa khoảng chuyển giao lịch sử ấy, thiền sư Trí Húc tự xưng là Tư Thục Thiên Thai đã nghiên cứu sâu tư tưởng Pháp Hoa của ngài Trí Giả đại sư lĩnh ngộ giáo nghĩa tông Thiên Thai.
Qua quá trình nghiên cứu, đại sư Trí Húc cho rằng những ghi chép của tôn giả Chương An tạo thành Pháp Hoa tam đại bộ do Trí Giả đại sư giảng dạy, dẫu có phù hợp ý của đại sư nhưng văn nghĩa có thể chưa toàn chuẩn. Còn đối với 2 tác phẩm của tôn giả Kinh Khê Trạm Nhiên, đại sư lại cho rằng tuy văn nghĩa sâu sắc, hiển bày được chỗ cốt yếu nhưng chưa tỏ hết được diệu nghĩa. Cho nên, Trí Húc đại sư trên cơ sở của "tam bộ nhị sớ" đã dung hội giáo nghĩa tư tưởng của các bản kinh, các thế hệ tổ sư tông Thiên Thai, trước tác tác phẩm Pháp Hoa Hội Nghĩa theo quan điểm của bản thân, đồng thời chia thành chương, mục để người học đương thời dễ nắm bắt.
Tổ đình Quốc Ân không chỉ lưu trữ những di sản vô giá về thiền phái, truyền thừa, nghệ thuật và văn hóa mà nơi đây còn lưu trữ hệ thống thư tịch Hán Nôm Phật giáo mang giá trị lớn
ẢNH: ĐÀO MINH TUẤN
Văn bản Pháp Hoa Hội Nghĩa đầu tiên truyền vào nước ta chưa thể xác định, đến nay tại một số tổ đình khu vực miền Trung và Trung Nam bộ còn lưu trữ được một số bản nhưng còn khiếm khuyết và không nguyên bản. Trong số những bản hiện tồn thì bản kinh ấn tống tại chùa Quốc Ân trên bảng gỗ khắc in ghi lại là năm khắc in là năm Vĩnh Khánh thứ 3 (1731) tức là bản kinh này đã in cách đây 295 năm, còn lưu gần như đầy đủ các trang phương danh công đức, đây là phần quan trọng nhất lưu dấu về chư vị tổ sư các thiền phái và vương tử, hội chủ phát tâm ấn tống kinh. Đồng thời là minh chứng cho vị thế của bản kinh trong các thiền phái.
Qua khảo sát, bộ Kinh Pháp Hoa còn lưu giữ tại chùa Quốc Ân gồm 16 quyển giảng giải Kinh Pháp Hoa theo mô tuýp trước giải thích đề mục, sau sớ giải nội dung của 28 phẩm trong kinh.
Toàn kinh chia thành 16 quyển, số quyển này được ghi trong phần bản tâm của mỗi cuốn sách. Đây là số quyển mà tác giả phân chia khi trước tác chứ không phải số quyển vật lý (số cuốn sách) hoặc các quyển trước từng chi phần.
Cấu trúc và cách bố trí các chi phần kinh như sau: Toàn kinh được đóng thành 8 cuốn sách, mỗi cuốn sách là 1 hoặc 2 quyển, chứa nội dung từ 2 đến 4 chi phần. Tổng cộng cấu trúc của bản Pháp Hoa Hội Nghĩa gồm có: 16 quyển/18 chi phần/28 phẩm Kinh Pháp Hoa; cuối mỗi chi phần có thêm trang phương danh công đức khắc in kinh hiện vẫn còn nguyên vẹn tại chùa Quốc Ân mặc dù đã trải qua 295 năm kể từ ngày bản kinh được ấn tống.
Có thể nói tổ đình Quốc Ân không chỉ là một danh lam cổ tự mà còn là minh chứng sống động cho dòng chảy của thiền phái Lâm Tế tại Đàng Trong. Và sự gìn giữ của các thế hệ tỳ kheo của chùa cùng công việc số hóa các văn bản kinh sách là sự tiếp nối ý nghĩa, góp phần gìn giữ và lan tỏa giá trị di sản Phật giáo Việt Nam đến mai sau.
Tin Gốc: Thanh Niên

