Tọa đàm “Tiết kiệm điện và điện mặt trời áp mái: Giải pháp giảm áp lực cung ứng điện giai đoạn 2026 – 2030” do báo Công Thương phối hợp cùng Tập đoàn Điện lực Việt Nam (EVN), Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC) tổ chức tại TP.HCM trong sáng 21-4.
Theo ông Trung, nhu cầu điện tăng vọt giữa cao điểm nắng nóng, cùng rủi ro thiếu nước và biến động thị trường năng lượng khiến công tác điều độ hệ thống điện đứng trước áp lực lớn.
Cụ thể, tiêu thụ điện năm 2024 chưa từng ghi nhận mốc 1 tỉ kWh/ngày. Năm 2025 thì phải đến tháng 5, thời điểm các đợt nắng nóng kéo dài liên tục, tiêu thụ điện khi đó mới đạt 1 tỉ kWh/ngày.
Nhưng ngay giữa tháng 3 vừa qua, lượng điện tiêu thụ cả nước đã đạt 1 tỉ kWh rồi. Từ 31-3 đến các ngày đầu tháng 4 đều ghi nhận mức tiêu thụ trung bình trên 1 tỉ kWh/ngày.
Riêng ngày 8-4 kỷ lục 1,092 tỉ kWh điện, công suất lớn nhất 52.225 MW. Từ đó ông đưa ra dự báo tiêu thụ điện cả nước sớm vượt mốc 1,1 tỉ kWh ngay sau dịp lễ 30-4.
“Nắng nóng 1-2 ngày thì tiêu thụ điện chưa thay đổi rõ rệt, nhưng chỉ cần kéo dài 4-5 ngày, nhu cầu sử dụng điện đã tăng lên khá nhiều. Có thể hình dung rất rõ áp lực này, chỉ cần nhiệt độ tăng thêm 1-2 độ C, hệ thống đã phải gánh thêm một lượng công suất tương đương gần như toàn bộ công suất của một tổ hợp thủy điện Hòa Bình. Đó là áp lực rất lớn từ phía nhu cầu”, ông Trung nhấn mạnh.
Đi kèm với những áp lực về tiêu thụ điện liên tục vượt kỷ lục là rất nhiều trở ngại khác cho ngành điện. Bởi theo ông Trung, lượng nước đổ về các hồ thủy điện hiện suy giảm, luôn ở mức thấp và chỉ có thể sản xuất được khoảng 70 triệu kWh/ngày, bằng 7,5% nhu cầu tiêu thụ điện của toàn bộ nền kinh tế.
Đối với nhiệt điện than, nắng nóng kéo dài làm phát sinh nhiều khó khăn trong vận hành, các tổ máy phải giảm/ngừng công suất để xử lý sự cố thiết bị phụ và đáp ứng yêu cầu môi trường, điều kiện làm mát…
Đồng thời có thể xảy ra rủi ro gián đoạn nguồn cấp than (nhập khẩu) do ảnh hưởng của chiến tranh tại khu vực Trung Đông.
Đối với nguồn tua bin khí, việc hạn chế khả năng cấp khí (cả nguồn khí nội địa và nguồn LNG nhập khẩu) làm giảm khả năng huy động và vận hành linh hoạt của các tổ máy cụm Phú Mỹ, Nhơn Trạch. Ngoài ra, biến động thị trường năng lượng thế giới tiếp tục ảnh hưởng đến giá và nguồn cung LNG (khoảng 25%).
Tại tọa đàm, ông Trịnh Quốc Vũ, Phó cục trưởng Cục Điện lực (Bộ Công Thương), thông tin trước mục tiêu tăng trưởng GDP năm 2026 từ 10% trở lên, các đơn vị đã xây dựng nhiều kịch bản. Trong đó phương án dự kiến phụ tải điện tăng 8,5%, điều hành dự kiến mức tăng 11,7%, còn dự phòng điều hành cho các tháng cao điểm mùa khô được tính ở mức 14,1%.
Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, nhu cầu điện toàn hệ thống ước tăng khoảng 7 – 7,5%, tổng nhu cầu điện toàn hệ thống trong năm 2026 hiện được ước tăng khoảng 8%. Mức tăng trưởng này theo đánh giá không phải quá cao so với phương án cơ sở.
Tuy nhiên khó khăn của hệ thống điện không chỉ nằm ở mức tăng điện năng tiêu thụ bình quân mà còn ở việc công suất cực đại của phụ tải tăng cao, đặc biệt trong những ngày nắng nóng gay gắt như thời gian đầu tháng 4 vừa qua.
Bộ Công Thương cho biết đã có sự chuẩn bị từ trước cho mùa khô năm 2026 với phương án cao nhất lên tới 14,1%. Dù vậy, cùng với việc thực hiện đồng bộ các giải pháp từ phía cơ quan quản lý nhà nước và các đơn vị điện lực, vẫn rất cần sự chung tay của người dân trong việc sử dụng điện tiết kiệm, hiệu quả.
“Nếu người dân đồng lòng, tích cực tham gia, việc cung ứng điện phục vụ hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống dân sinh trong năm 2026 cũng như giai đoạn cao điểm sắp tới về cơ bản vẫn sẽ được bảo đảm”, ông Trịnh Quốc Vũ nhấn mạnh.
Tại Diễn đàn Nhịp cầu Phát triển Việt Nam 2026 ngày 13/5, Phó thủ tướng Nguyễn Văn Thắng cho biết Việt Nam đang chuyển từ tư duy thu hút FDI đại trà sang lựa chọn các dự án chất lượng.
"FDI thế hệ mới không chỉ đến Việt Nam để sản xuất hay khai thác thị trường, cần tạo ra giá trị, năng lực và vị thế mới trong chuỗi giá trị toàn cầu", ông nói.
Thay vì chỉ quan tâm quy mô vốn đầu tư, Việt Nam thu hút các dự án ngoại chú trọng công nghệ, tạo giá trị gia tăng, đào tạo nhân lực và kết nối với doanh nghiệp Việt tham gia chuỗi cung ứng. Các lĩnh vực được ưu tiên rót vốn giai đoạn tới bao gồm bán dẫn, AI, dữ liệu, công nghệ sinh học, dược phẩm, năng lượng sạch và logistics hiện đại.
Hiện tại, Việt Nam có hơn 46.500 dự án FDI còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký hơn 543 tỷ USD. Vốn thực hiện lũy kế đạt khoảng 357,6 tỷ USD. Khu vực FDI hiện đóng góp khoảng trên 20% GDP, khoảng 70% kim ngạch xuất khẩu và tạo việc làm cho hàng triệu lao động.
Việt Nam vẫn duy trì vị thế thu hút FDI hàng đầu ASEAN với sự hiện diện của nhiều tập đoàn công nghệ lớn. Tuy vậy, Phó thủ tướng đánh giá liên kết giữa khối ngoại và doanh nghiệp trong nước vẫn còn hạn chế. Các công ty trong nước mới tham gia chuỗi giá trị của doanh nghiệp FDI ở phân khúc giá trị gia tăng thấp.
Ông cũng nhìn nhận cạnh tranh thu hút đầu tư toàn cầu đã thay đổi cùng với xu hướng tái cấu trúc chuỗi cung ứng, chuyển đổi xanh - số. Theo đó, nhà đầu tư ngày càng quan tâm tới chất lượng thể chế, ổn định chính sách, hạ tầng chiến lược, dữ liệu và nguồn nhân lực chất lượng cao, thay vì chỉ ưu đãi hay chi phí lao động thấp.
Để thu hút vốn ngoại thế hệ mới, ông cho biết Chính phủ sẽ tiếp tục cắt giảm thủ tục, đầu tư hạ tầng và nhân lực, đồng thời xử lý nghiêm tình trạng chuyển giá, gian lận thương mại và vi phạm môi trường.
Trong các chu kỳ tài chính thông thường, khi giá tài sản leo lên vùng cao kỷ lục, lực cầu thường suy yếu do nhà đầu tư có xu hướng chốt lời. Tuy nhiên, thị trường vàng năm 2026 lại đang diễn biến theo hướng hoàn toàn ngược lại.
Tháng 1 năm nay, giá vàng thế giới thiết lập đỉnh lịch sử mới sát mốc 5.600 USD/ounce. Dù giá đã tăng mạnh chưa từng có, các ngân hàng Trung ương vẫn tiếp tục mua vào quy mô lớn.
Theo báo cáo của Hội đồng Vàng Thế giới (World Gold Council), lượng vàng mua ròng của các ngân hàng Trung ương trong quý I/2026 đạt 244 tấn, đánh dấu tốc độ tích lũy nhanh nhất trong hơn một năm qua.
Đáng chú ý, hoạt động gom vàng diễn ra ngay tại vùng giá cao lịch sử. Điều này cho thấy các ngân hàng Trung ương đang ưu tiên phòng vệ rủi ro dài hạn hơn là quan tâm tới biến động giá ngắn hạn.
Nghịch lý mua cao và những thương vụ ẩn danh
Con số 244 tấn không chỉ lớn về quy mô tuyệt đối mà còn phản ánh xu hướng mua vàng ngày càng tăng của các ngân hàng Trung ương toàn cầu. Lượng mua trong quý I/2026 tăng 17% so với quý trước và tiếp tục cao hơn cùng kỳ năm ngoái.
Đáng chú ý hơn, mức gom hàng hiện tại đã vượt xa con số trung bình hàng quý của 5 năm gần nhất. Bản thân mức trung bình của 5 năm qua cũng đã cao gần gấp đôi so với giai đoạn nửa thập kỷ trước đó.
Những tổ chức mua mạnh tay nhất tiếp tục là các gương mặt quen thuộc. Ba Lan dẫn đầu với 31 tấn nhằm hiện thực hóa tham vọng nâng tổng dự trữ quốc gia lên mức 700 tấn. Ngân hàng Nhân dân Trung Quốc cũng không đứng ngoài cuộc khi kéo dài chuỗi mua ròng liên tiếp lên tháng thứ 17, đưa tổng dự trữ lên hơn 2.313 tấn. Các quốc gia như Uzbekistan, Kazakhstan hay Indonesia cũng tích cực gia tăng tỷ trọng kim loại quý trong kho bạc.
Ngoài những số liệu công khai, thị trường còn ghi nhận lượng mua chưa được báo cáo ở mức cao. Các chuyên gia theo dõi dòng chảy cung - cầu vàng cho rằng có sự chênh lệch đáng kể giữa lượng vàng thực tế lưu thông trên thị trường và số liệu mua bán chính thức. Điều này cho thấy nhu cầu tích lũy thực tế có thể còn lớn hơn nhiều so với dữ liệu công bố.
Nhiều quốc gia thường có độ trễ trong việc công bố hoạt động mua vàng dự trữ, khiến quy mô gom hàng thực tế trở nên khó đo lường đầy đủ.
Vì sao các ngân hàng Trung ương tăng mạnh dự trữ vàng?
Theo giới phân tích, việc các ngân hàng Trung ương đẩy mạnh mua vàng phản ánh mối lo ngày càng lớn đối với sức mua của tiền pháp định và những rủi ro của hệ thống tài chính toàn cầu.
Chỉ trong vòng một năm, từ đầu 2025 đến đầu 2026, giá vàng đã tăng từ khoảng 2.700 USD lên hơn 5.400 USD/ounce. Nếu lấy vàng làm thước đo giá trị, sức mua của nhiều đồng tiền pháp định lớn đã suy giảm mạnh chỉ trong thời gian ngắn. Xu hướng này không chỉ diễn ra với đồng USD mà còn xuất hiện ở nhiều đồng tiền chủ chốt khác trên thế giới.
Việc ngân hàng Trung ương tăng tích lũy vàng cũng tạo ra lực đỡ dài hạn cho thị trường. Mỗi tấn vàng được đưa vào kho dự trữ quốc gia đồng nghĩa nguồn cung lưu thông trên thị trường bị thu hẹp.
Dữ liệu lịch sử trong hơn 16 năm qua cho thấy các giai đoạn ngân hàng Trung ương mua vàng quy mô lớn thường mở đường cho các chu kỳ tăng giá kéo dài sau đó khoảng 12-18 tháng.
Ở chiều ngược lại, các hoạt động bán vàng gần đây chủ yếu mang tính giải quyết thanh khoản ngắn hạn hơn là thay đổi chiến lược dự trữ. Thổ Nhĩ Kỳ là bên bán lớn nhất khi giảm khoảng 70 tấn vàng dự trữ chính thức và sử dụng thêm khoảng 80 tấn thông qua các hợp đồng hoán đổi vàng.
Tuy nhiên, cơ quan quản lý tiền tệ nước này cho biết đây chủ yếu là các giao dịch hoán đổi kỳ hạn nhằm phục vụ nhu cầu ngoại hối và lượng vàng sẽ quay lại kho dự trữ khi hợp đồng đáo hạn.
Cùng với động thái của các ngân hàng Trung ương, cách người dân trên toàn cầu nắm giữ vàng cũng đang trải qua một cuộc thay đổi mang tính nền tảng. Theo dữ liệu quý I/2026, nhu cầu vàng miếng và vàng xu tăng 42% so với cùng kỳ năm trước, đạt 474 tấn - mức cao thứ hai lịch sử. Ngược lại, nhu cầu vàng trang sức giảm 23% do giá vàng tăng quá mạnh.
Sự trái ngược này phác họa rõ nét sự thay đổi trong tư duy tài chính của người dân. Cách đây khoảng 25 năm, nhu cầu chế tác trang sức từng chiếm tới 800 tấn trong quý đầu năm, trong khi vàng miếng gần như không đáng kể. Hiện tại, trật tự đã hoàn toàn đảo lộn. Người dân đang ưu tiên nắm giữ vàng dưới hình thức trực tiếp nhất để bảo toàn giá trị tài sản thay vì phục vụ nhu cầu thẩm mỹ.
Giới đầu tư châu Á tiếp tục là đầu tàu dẫn dắt xu hướng này. Lực mua từ phương Đông đang bù đắp hoàn toàn cho những đợt bán ròng của các quỹ ETF tại phương Tây. Dòng chảy tài sản đang dịch chuyển mạnh mẽ, minh chứng cho việc các nền kinh tế mới nổi ngày càng coi trọng tính an toàn của kim loại quý giữa bối cảnh địa chính trị còn nhiều bất ổn.
Tổng giá trị nhu cầu vàng toàn cầu trong quý vừa qua đạt kỷ lục khoảng 193 tỷ USD, cho thấy sức hút của kim loại quý không chỉ đến từ đầu cơ ngắn hạn mà còn phản ánh nhu cầu phòng vệ tài sản ngày càng rõ nét.
Các ngân hàng Trung ương không chi hàng tỷ USD để mua vàng ở vùng giá kỷ lục chỉ vì kỳ vọng ngắn hạn. Động thái này phản ánh sự chuẩn bị cho những biến động khó lường của kinh tế và tài chính toàn cầu trong giai đoạn tới.
Chiều 10-4, Sở Công Thương thành phố Cần Thơ phối hợp cùng Ngân hàng thương mại cổ phần Lộc Phát Việt Nam (LPBank) tổ chức hội thảo kết nối địa phương đồng hành cùng doanh nghiệp.
Chia sẻ tại sự kiện, ông Hà Vũ Sơn - Giám đốc Sở Công Thương thành phố Cần Thơ - thông tin LPBank là đơn vị thành viên của Tập đoàn Xuân Thiện. Tập đoàn Xuân Thiện hiện đang xin chủ trương của UBND thành phố Cần Thơ đầu tư khu lấn biển có diện tích 93.000ha, quy mô vốn đầu tư dự kiến là 16,8 tỉ USD.
Trong đó có tổ hợp sản xuất thép 16 triệu tấn/năm.
Thành phố đang tập trung xây dựng thành phố công nghiệp tại Khu công nghiệp Vĩnh Thạnh. VSIP đang đầu tư tại đây và thành phố đang phê duyệt chủ trương quy hoạch trên 6.300ha xây dựng thành phố công nghiệp, với mong muốn phát triển trong thời gian tới có khoảng 300.000 công nhân lao động ở thành phố công nghiệp này.
Ông Sơn cho biết đang xin chủ trương xây dựng thành phố năng lượng ở khu vực của Trần Đề, Đại Hải để phục vụ sự phát triển của thành phố Cần Thơ và các tỉnh của khu vực Đồng bằng sông Cửu Long.
Dù tình hình khó khăn nhưng 3 tháng đầu năm xuất khẩu của thành phố đạt 1,5 tỉ USD. Thành phố đặt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu năm 2026 đạt 6,5 tỉ USD.