Một công tắc tắt đi, một máy lạnh tăng thêm 1oC tưởng chừng là những thay đổi rất nhỏ. Nhưng trong những ngày nắng gắt, khi hàng triệu thiết bị cùng lúc vận hành, chính những thay đổi nhỏ ấy lại góp phần giữ cho hệ thống điện không bị đẩy đến giới hạn.
Tại TP.HCM, ông Anh Tú – chủ quán Home Coffee (đường Lê Trọng Tấn, phường Tây Thạnh) – cho biết hóa đơn tiền điện tháng 3 đã lên tới 24 triệu đồng, tăng khoảng 20%, tương đương 4 triệu đồng so với tháng trước.
“Quán nằm ở hướng tây nam, vì thế nắng chiếu vào từ sớm và kết thúc khá muộn. Đặc biệt trên các tầng lầu, nắng chiếu vào nguyên cả buổi chiều. Để duy trì không gian mát mẻ, quán phải vận hành cùng lúc 7 máy lạnh, trong đó có nhiều máy công suất lớn 3 – 5 mã lực. Riêng vào khung giờ từ 17h đến 22h, toàn bộ hệ thống gần như phải chạy hết công suất. Dù chi phí tăng, vẫn phải vận hành ‘full’ để giữ khách”, ông Tú chia sẻ.
Ở quy mô hộ gia đình, áp lực cũng không kém. Chị Nguyễn Thị Hồng (ngụ xã Vĩnh Lộc, TP.HCM) cho biết: “Trong những ngày nắng cao điểm, sinh hoạt trong nhà gần như đảo lộn theo ánh nắng, nhiệt độ ngoài trời. Gia đình có hai con nhỏ nên việc tiết giảm điện gần như không có nhiều lựa chọn. Ban ngày dùng phòng khách, ban đêm mỗi phòng ngủ đều phải bật máy lạnh để đảm bảo giấc ngủ”.
Thời điểm cao điểm buổi tối, khi điều hòa, bếp, máy giặt, bình nước nóng cùng hoạt động, chị Hồng cho biết lúc nào cũng có cảm giác “canh chừng” hệ thống điện. Chị sợ gia đình dùng quá nhiều vào giờ cao điểm sẽ gây quá tải hệ thống dẫn đến nhảy aptomat.
Nhu cầu dùng điện tăng nên hóa đơn tiền điện cũng tăng qua từng tháng. Để tiết kiệm, gia đình chị bắt đầu thay đổi thói quen: hạn chế sử dụng đồng thời nhiều thiết bị, điều chỉnh nhiệt độ điều hòa lên mức cao hơn một chút, tận dụng quạt gió vào những thời điểm có thể.
Nhưng theo chị, trong những đợt nắng gay gắt kéo dài, những biện pháp này chỉ giúp “giảm phần nào”, còn việc sử dụng điện ở mức cao gần như là không tránh khỏi.
Nhu cầu điện tăng mạnh vào mùa nắng nóng đang đặt các doanh nghiệp sản xuất, nhất là khối FDI xuất khẩu vào thế “hai đầu áp lực”: vừa phải giữ tiến độ đơn hàng, vừa phải tuân thủ các yêu cầu ngày càng nghiêm ngặt về năng lượng.
Ông Phan Tấn Học, Giám đốc kỹ thuật Công ty cổ phần TKG Taekwang Vina, cho biết với đặc thù gia công giày xuất khẩu cho Nike, bài toán điện năng không còn dừng ở chi phí vận hành, mà đã trở thành một chỉ số cạnh tranh trực tiếp.
Doanh nghiệp hiện có 8 công ty tại Đồng Nai, Đồng Tháp, Cần Thơ… với 100% sản phẩm xuất khẩu. Quy mô sản xuất lớn đồng nghĩa mức tiêu thụ điện rất cao, trong khi chỉ một biến động nhỏ về nguồn điện cũng có thể ảnh hưởng đến toàn bộ chuỗi sản xuất.
Từ đó, theo ông Học, sức ép không chỉ đến từ tiến độ đơn hàng mà còn từ các tiêu chuẩn đánh giá ngày càng khắt khe của đối tác.
Trước áp lực này, trong 5 năm gần đây, doanh nghiệp đã đầu tư điện mặt trời áp mái, thay toàn bộ hệ thống chiếu sáng bằng đèn LED, tối ưu thiết kế nhà xưởng để tận dụng ánh sáng tự nhiên, tự động hóa dây chuyền và lắp đặt hệ thống đo lường cho các thiết bị tiêu thụ điện lớn.
Bên cạnh yếu tố công nghệ, doanh nghiệp đặc biệt chú trọng xây dựng ý thức tiết kiệm điện trong đội ngũ lao động thông qua đào tạo, chấm điểm và quy trình vận hành cụ thể.
Ở cấp độ vận hành, doanh nghiệp cũng phối hợp với ngành điện để dịch chuyển một phần sản xuất sang giờ thấp điểm nhằm giảm áp lực cho hệ thống, dù điều này đòi hỏi phải điều chỉnh giờ làm việc và có chính sách phù hợp cho người lao động.
Theo Tổng công ty Điện lực miền Nam (EVNSPC), lắp đặt điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ là giải pháp mà ngày càng nhiều doanh nghiệp FDI trong các khu công nghiệp Đồng Nai, Tây Ninh chủ động thực hiện. Giải pháp này vừa giúp doanh nghiệp giảm tiền điện, vừa đáp ứng tiêu chí xanh mà các đối tác, khách hàng quốc tế đang yêu cầu ngày càng chặt hơn.
Chỉ riêng trong quý 1 năm nay, hệ thống điện mặt trời mái nhà tự sản xuất, tự tiêu thụ trên địa bàn tổng công ty đã phát hơn 161 triệu kWh, góp phần giảm tải thực sự cho lưới.
Theo EVNSPC, hiện tổng công ty đang làm việc với các khách hàng, từ cá nhân, doanh nghiệp đến các đơn vị hành chính để hỗ trợ việc đăng ký mới và thông tin chi tiết về các hệ thống điện mặt trời áp mái trong cả phương thức trực tiếp và trực tuyến.
Ngoài việc thiết lập quy chế phối hợp với các đoàn thể trong khu vực hành chính công cho mục tiêu lắp đặt điện mặt trời tại trụ sở cơ quan, tổng công ty có đội ngũ chuyên môn tư vấn về các vấn đề năng lượng, kiểm toán năng lượng, lắp đặt hệ thống điện mặt trời… cho doanh nghiệp, nhà xưởng tại các địa phương.
Thông tin về điện mặt trời mái nhà trên địa bàn TP.HCM, ông Bùi Trung Kiên, Phó tổng giám đốc Tổng công ty Điện lực TP.HCM (EVNHCMC), cho biết hiện thành phố có khoảng 22.000 hệ thống, với tổng công suất lắp đặt xấp xỉ 1.800MW.
Nếu không có nguồn điện mặt trời mái nhà này, phụ tải điện của TP trong những lúc cao điểm sẽ tăng thêm đáng kể, tương đương áp lực phải bổ sung một nhà máy điện quy mô lớn để đảm bảo cung ứng.
Ông Kiên cho biết thêm trong bối cảnh giá thiết bị ngày càng giảm, thời gian hoàn vốn của hệ thống điện mặt trời hiện nay đã được rút ngắn đáng kể, có thể chỉ trên dưới 2 năm. Nếu lắp thêm hệ thống pin lưu trữ, thời gian thu hồi vốn sẽ dài hơn, đổi lại người sử dụng có thể chủ động nguồn điện vào buổi tối và tăng mức độ tự cung tự cấp.
Đặc biệt, trong trường hợp xảy ra sự cố lưới điện, hệ thống vẫn có thể duy trì hoạt động trong một khoảng thời gian nhất định, giúp sinh hoạt gia đình và hoạt động sản xuất không bị gián đoạn. Đây chính là “hiệu quả kép” mà điện mặt trời mái nhà đang mang lại: vừa giảm chi phí điện năng cho người dùng, vừa góp phần điều tiết phụ tải cho hệ thống điện đô thị.
Theo thống kê của Tuổi Trẻ Online, 40 công ty chứng khoán (CTCK) ghi nhận tổng lợi nhuận gần 7.600 tỉ đồng trong quý 1-2026, thấp nhất trong 4 quý gần đây.
Dù vẫn tăng trưởng so với cùng kỳ, bức tranh chung cũng phản ánh những điểm kém tích cực của thị trường chứng khoán quý đầu năm.
Cụ thể, đã có tới khoảng 17/40 doanh nghiệp thua lỗ hoặc suy giảm kết quả kinh doanh so với cùng kỳ năm ngoái.
Một loạt công ty ghi nhận kết quả kém khả quan như EVS lỗ 157,5 tỉ đồng, VDS lỗ 24,2 tỉ đồng, SBS lỗ 5,2 tỉ đồng hay OCBS lỗ 3,475 tỉ đồng.
Hầu hết các doanh nghiệp đều giải trình việc thua lỗ do ảnh hưởng của hoạt động tự doanh. Cá biệt, EVS cho biết phải trích lập với cổ phiếu NVB dù đây thực tế là tài sản đảm bảo được thu hồi từ các khoản nợ "xấu".
Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt về phí môi giới và cho vay margin, nhiều CTCK đẩy mạnh tự doanh để cải thiện hiệu quả ROE.
Tuy nhiên, khi thị trường biến động, đặc biệt dưới tác động của yếu tố địa chính trị như cuộc chiến tại Trung Đông, danh mục đầu tư dễ bị ảnh hưởng, buộc doanh nghiệp phải trích lập dự phòng, kéo lợi nhuận đi xuống.
Ông Nguyễn Thế Minh - Giám đốc khối ngân hàng đầu tư tại Chứng khoán An Bình (ABS) - cho rằng tự doanh là "con dao hai lưỡi".
Các CTCK tập trung vào môi giới và cho vay margin ít chịu ảnh hưởng hơn trong giai đoạn vừa qua, trong khi những đơn vị đẩy mạnh đầu tư tài chính lại đối mặt rủi ro lớn hơn khi thị trường đảo chiều.
Không chỉ các công ty nhỏ, nhiều doanh nghiệp có thế mạnh tự doanh cũng ghi nhận suy giảm. Chẳng hạn, VIX giảm hơn 60% lợi nhuận so với cùng kỳ, trong khi CTS giảm trên 30%.
Trong khi đó, một đơn vị có thế mạnh về tự doanh khác là Chứng khoán SHS cũng mới công bố chiến lược giảm phụ thuộc vào mảng tự doanh (từ 52-55% còn khoảng 35%) để đẩy mạnh cho vay margin, ngân hàng đầu tư.
Tân CEO của SHS, ông Nguyễn Duy Linh cho biết sẽ tránh gây "cú sốc" cho thị trường và sẽ cân nhắc hành động dựa trên chất lượng doanh nghiệp, điều kiện thị trường.
Bên cạnh tự doanh, mảng cho vay margin, trụ cột quan trọng của ngành, cũng đang đối mặt áp lực. Dù dư nợ cho vay tiếp tục tăng và lập kỷ lục mới, biên lợi nhuận (NIM) của hoạt động này lại có xu hướng thu hẹp.
Tại đại hội đồng cổ đông thường niên 2026, Tổng giám đốc Nguyễn Thị Thu Hiền của Chứng khoán TCBS - đơn vị có dư nợ lớn nhất ngành, cho biết doanh nghiệp này vẫn còn nhiều dư địa tăng trưởng cho vay, thậm chí mới huy động thêm gần 500 triệu USD từ các tổ chức nước ngoài. Tuy nhiên, bà Hiền cũng lưu ý NIM đang mỏng đi do mặt bằng lãi suất tăng so với đầu năm, ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động cốt lõi này.
Ở góc nhìn khác, ông Nguyễn Thế Minh cho rằng cơ cấu khách hàng cũng góp phần làm giảm hiệu quả cho vay. Dư nợ vẫn mở rộng ở nhóm khách hàng lớn nhưng đặc điểm của nhóm này thường đòi hỏi mức lãi suất ưu đãi hơn.
"Trong khi đó, nhóm "hào phóng" hơn là nhà đầu tư cá nhân lại đang hạn chế sử dụng đòn bẩy trong bối cảnh vĩ mô có nhiều biến động, khiến hiệu quả từ hoạt động cho vay margin kém đi", ông Minh phân tích.
Điều này khiến hai trụ cột chính của CTCK đều chịu áp lực: tự doanh tiềm ẩn rủi ro lớn, còn cho vay margin lại bị bào mòn biên lợi nhuận.
Theo khảo sát của Đại học Michigan, tháng 4, chỉ số tâm lý người tiêu dùng Mỹ ở mức 49,8 điểm. Mức này cao hơn dự báo của các chuyên gia do Reuters thăm dò (48 điểm), nhưng vẫn là ngưỡng thấp nhất từ trước đến nay.
Tháng trước, chỉ số này ở mức 53,3. Sang tháng 4, sự sụt giảm tâm lý diễn ra ở mọi nhóm người tiêu dùng, bất kể quan điểm chính trị, mức thu nhập và cả nhóm đầu tư chứng khoán.
Bà Joanne Hsu, Giám đốc khảo sát của Đại học Michigan, nhận định xung đột Trung Đông tác động đến người tiêu dùng Mỹ chủ yếu thông qua cú sốc giá xăng và có thể lan sang các mặt hàng khác.
"Các diễn biến quân sự và ngoại giao chưa giải quyết được hạn chế về nguồn cung, cũng như áp lực giá năng lượng, nên khó có thể cải thiện niềm tin", bà nói.
Theo dữ liệu từ Cơ quan Thông tin Năng lượng Mỹ (EIA), trong tháng 4, mỗi gallon xăng bán lẻ tại Mỹ trung bình trên 4 USD, dầu diesel hơn 5 USD.
Các chuyên gia dự báo hộ gia đình thu nhập thấp sẽ cắt giảm chi tiêu. "Tác động từ giá xăng đến mức tăng thu nhập khả dụng thực tế sẽ làm chậm tăng trưởng tiêu dùng", Grace Zwemmer, nhà kinh tế tại Oxford Economics, nhận định.
Xung đột Trung Đông khiến eo biển Hormuz - nơi vận chuyển khoảng 20% lượng dầu, LNG toàn cầu - bị gián đoạn. Dù không phụ thuộc vào nguồn cung này, nhưng Mỹ vẫn chịu ảnh hưởng nặng nề do giá dầu tăng vọt, có thời điểm sát 120 USD một thùng, lạm phát chi phí năng lượng và giá hàng hóa tăng.
Bà Heather Long, kinh tế trưởng tại Navy Federal Credit Union, cảnh báo thách thức sẽ lớn hơn khi chi phí vận chuyển tăng cao được chuyển sang người mua cuối. "Tâm lý thị trường không cải thiện cho đến khi eo biển Hormuz được mở cửa và xung đột chấm dứt", bà nói.
Lạm phát kỳ vọng của người tiêu dùng trong năm tới đã tăng lên 4,7%, từ mức 3,8% hồi tháng 3. Con số này cũng vượt mức ghi nhận vào 2024 và cao hơn nhiều so với ngưỡng 2,3%-3% trong hai năm trước đại dịch Covid-19.
"Sau khi nhiệm kỳ Chủ tịch của tôi kết thúc ngày 15/5, tôi sẽ vẫn làm thống đốc thêm một thời gian nữa", Powell phát biểu ngày 29/4, trong buổi họp báo sau phiên họp chính sách của Cục Dự trữ liên bang Mỹ (Fed).
Ông cho biết "không muốn làm người đối lập cấp cao hay bất kỳ vai trò nào như vậy", và chỉ muốn ở lại đến khi các rủi ro pháp lý với Fed "lắng xuống", để cơ quan này có thể tập trung hơn vào nhiệm vụ cốt lõi.
Nhiệm kỳ của ông trong Hội đồng Thống đốc Fed vẫn kéo dài đến năm 2028. Đây là cơ quan lãnh đạo cao nhất của Fed, gồm 7 thành viên chịu trách nhiệm thiết lập chính sách tiền tệ, giám sát ngân hàng và ổn định tài chính quốc gia. Thông thường, các chủ tịch Fed sẽ rời Hội đồng Thống đốc khi kết thúc nhiệm kỳ lãnh đạo. Tuy nhiên, Powell từng nhấn mạnh việc chấm dứt cuộc điều tra hình sự nhằm vào ông là điều kiện cần để ông rời đi.
Powell hôm 29/4 nhắc lại lo ngại rằng các thách thức pháp lý từ chính quyền Tổng thống Mỹ Donald Trump "đang đe dọa khả năng độc lập ra quyết định về chính sách tiền tệ của Fed". Một phần thách thức này đã được giải quyết, khi Bộ Tư pháp Mỹ tuần trước hủy cuộc điều tra hình sự với Powell.
Tuy nhiên, ông cho biết dù Bộ Tư pháp "đảm bảo" cuộc điều tra đã chấm dứt, Công tố viên liên bang phụ trách khu vực thủ đô Jeanine Pirro vẫn tuyên bố "sẽ không ngần ngại tái khởi động việc này". "Tôi đang theo dõi sát các diễn biến tiếp theo", Powell nói.
Bằng việc ở lại Hội đồng Thống đốc Fed, Powell có thể cùng các quan chức khác chống lại sức ép từ chính quyền. Joseph Brusuelas - kinh tế trưởng tại hãng tư vấn RSM US nhận định việc này "củng cố khả năng ngân hàng trung ương hoạt động độc lập trong thời kỳ chủ nghĩa dân túy về kinh tế".
Thomas Ryan - nhà kinh tế học tại Capital Economics cũng cho rằng sự hiện diện của Powell có thể có tác động về chính sách tiền tệ, khi thống đốc Stephen Miran - người được ông Trump đề cử năm ngoái và liên tục bỏ phiếu ủng hộ giảm lãi suất thời gian qua - có thể phải rời đi. "Powell sẽ khiến quan điểm của Ủy ban Thị trường Mở Liên bang (FOMC) nghiêng theo hướng thắt chặt hơn, làm phức tạp thêm nhiệm vụ của Chủ tịch Fed kế tiếp nếu muốn giảm lãi suất trong ngắn hạn", ông nói.
Ngày 29/4, Kevin Warsh - người được Tổng thống Mỹ Donald Trump đề cử làm Chủ tịch Fed nhiệm kỳ tới - đã được Ủy ban Ngân hàng Thượng viện Mỹ bỏ phiếu thông qua. Sắp tới, việc phê chuẩn sẽ được chuyển lên Thượng viện Mỹ. Các nghị sĩ có thể bỏ phiếu sớm nhất là vào 2 tuần tới.
Trên Fox Business, Bộ trưởng Tài chính Mỹ Scott Bessent chỉ trích quyết định của Powell. Ông cho rằng việc này "vi phạm các thông lệ của Fed" và là "sự xúc phạm" với Warsh cũng như các quan chức khác "khi cho rằng các ứng viên Cộng hòa khác không quan tâm đến thể chế của Fed, và chỉ Powell mới có thể duy trì tính toàn vẹn của cơ quan này".
Ngoài các vấn đề trên, một rắc rối pháp lý khác của Fed chưa được giải quyết là nỗ lực của ông Trump nhằm sa thải thống đốc Lisa Cook. Tòa án Tối cao Mỹ vẫn đang xem xét vụ kiện này.
Bên cạnh đó, hiện chưa rõ khi nào Tổng thanh tra Fed sẽ công bố kết quả điều tra dự án cải tạo trụ sở. Thượng nghị sĩ Tim Scott - Chủ tịch Ủy ban Ngân hàng Thượng viện Mỹ đã đề nghị cơ quan này đưa ra kết quả trong vòng 3 tháng.
Powell nhấn mạnh Fed vẫn đang chịu nhiều sức ép pháp lý. "Đến nay, chúng tôi vẫn thành công trong việc bảo vệ Fed", ông cho biết, nhưng khẳng định việc này "vẫn chưa kết thúc".