Công trình được công bố ngày 21/2 trên tạp chí Reproductive Biology and Endocrinology. Nhóm nghiên cứu phân tích dữ liệu tinh dịch của 15.581 nam giới từ 18-45 tuổi đăng ký hiến tinh trùng trong giai đoạn 2018-2024.
Các mẫu được thu thập tại 4 thành phố của Đan Mạch gồm Aarhus, Aalborg, Odense, Copenhagen và tại Orlando, bang Florida (Mỹ).
Kết quả cho thấy xu hướng tương đối tương đồng ở cả hai khu vực. Khả năng vận động của tinh trùng thường đạt mức cao nhất vào tháng 6 và 7, trong khi thấp hơn vào tháng 12 và 1.
Để đánh giá chất lượng tinh dịch, các nhà khoa học sử dụng hệ thống phân tích bằng máy tính, xem xét nhiều chỉ số như thể tích tinh dịch, nồng độ tinh trùng và tỷ lệ tinh trùng di động tiến tới.
Giáo sư Allan Pacey, Đại học Manchester, đồng tác giả nghiên cứu, cho rằng phát hiện này gợi mở một giả thuyết đáng chú ý: nam giới đăng ký hiến tinh trùng vào mùa hè có thể có khả năng được chấp nhận cao hơn.
Ông cũng nhận định các cặp vợ chồng mong con tại Đan Mạch và Florida có thể nhận được một lợi thế nhỏ nếu thụ thai vào thời điểm này. Tuy nhiên, ông nhấn mạnh đây mới chỉ là giả thuyết và cần thêm nghiên cứu để xác nhận.
Tiến sĩ Sherman Silber, bác sĩ tiết niệu và giám đốc Trung tâm Vô sinh Silber tại St. Louis, người không tham gia nghiên cứu, nhận định mức biến động theo mùa được ghi nhận là khá nhỏ và có thể chưa tạo ra khác biệt sinh học đáng kể đối với khả năng sinh sản.
Nhìn chung, nghiên cứu cho thấy chất lượng tinh trùng có thể biến động theo mùa, song ý nghĩa thực tế của thay đổi này đối với khả năng sinh sản vẫn cần được làm rõ thêm.
Lối sống có thể quan trọng hơn nhiệt độ
Một điểm đáng chú ý là nhiệt độ môi trường không giải thích hoàn toàn xu hướng biến động theo mùa.
Do tinh trùng cần khoảng 74 ngày để phát triển trong cơ thể, các nhà khoa học đã xem xét nhiệt độ tại thời điểm xuất tinh cũng như trong khoảng hai tháng trước đó. Kết quả cho thấy rất ít bằng chứng về mối liên hệ trực tiếp giữa nhiệt độ môi trường và chất lượng tinh trùng.
Từ đó, nhóm nghiên cứu cho rằng những thay đổi về lối sống theo mùa có thể đóng vai trò quan trọng hơn.
Vào mùa hè, con người thường hoạt động ngoài trời nhiều hơn, tiếp xúc ánh nắng thường xuyên hơn, thay đổi chế độ ăn uống, tăng vận động hoặc có nhịp sinh hoạt khác so với mùa đông. Đây đều là những yếu tố từng được ghi nhận có liên quan đến sức khỏe sinh sản nam giới.
Một giả thuyết khác được đặt ra từ góc nhìn tiến hóa. Ở nhiều loài động vật sống tại vùng ôn đới, thời điểm sinh sản thường giúp con non chào đời vào mùa xuân, khi điều kiện môi trường thuận lợi và nguồn thức ăn dồi dào hơn.
Nếu chất lượng tinh trùng cao hơn vào mùa hè, thời điểm thụ thai này có thể làm tăng khả năng con non sinh ra vào mùa xuân. Tuy nhiên, ở con người hiện đại, tác động này có thể không còn rõ rệt do khả năng thích nghi với môi trường sống quanh năm.
Các nghiên cứu trước đây về biến động chất lượng tinh trùng theo mùa cho kết quả chưa thống nhất. Một số nghiên cứu tại Italy cũng ghi nhận khả năng vận động của tinh trùng cao hơn vào mùa hè.
Trong khi đó, một phân tích trên hơn 21.000 mẫu tinh dịch tại miền nam Trung Quốc cho thấy khả năng vận động của tinh trùng đạt mức cao nhất vào cuối mùa đông và giảm trong các tháng mùa hè.
Theo nhóm tác giả, sự khác biệt giữa các nghiên cứu có thể liên quan đến khí hậu, độ ẩm, thói quen sinh hoạt và lối sống ở từng khu vực.
Ngoài yếu tố mùa, nghiên cứu mới cũng ghi nhận mối liên hệ giữa tuổi tác và chất lượng tinh trùng. Khả năng vận động của tinh trùng cao nhất ở nam giới trong độ tuổi 30, thấp hơn ở nhóm dưới 25 tuổi và trên 40 tuổi.
Tại Đan Mạch, chất lượng tinh trùng giảm trong giai đoạn 2019-2022, sau đó phục hồi vào năm 2023. Nhóm nghiên cứu cho rằng xu hướng này có thể liên quan đến thay đổi lối sống trong đại dịch COVID-19, khi thói quen làm việc, ăn uống và vận động bị xáo trộn.
Ngược lại, dữ liệu tại Orlando cho thấy chất lượng tinh trùng tăng dần trong giai đoạn 2018-2024. Theo nhóm tác giả, xu hướng này hiện chưa được giải thích rõ và cần tiếp tục nghiên cứu.
Sáng 3-5, Bệnh viện Nguyễn Tri Phương (TP.HCM) cho biết vừa tiếp nhận và xử trí thành công một trường hợp chấn thương nguy kịch, đa chấn thương vùng ngực, đứt lìa động mạch cổ trái, ngưng tim ngay sau đó.
Đó là nam bệnh nhân T.X.T. (20 tuổi, ngụ phường Chợ Lớn) được đưa vào khoa cấp cứu của bệnh viện trong tình trạng đa chấn thương vùng ngực sau tai nạn sinh hoạt.
PGS.TS Trần Thanh Vỹ, chuyên gia ngoại lồng ngực mạch máu - người phẫu thuật trực tiếp cho người bệnh - cho biết trên lồng ngực bệnh nhân có nhiều vết thương, trong đó nghiêm trọng nhất là vết thương vùng nền cổ bên trái đang chảy máu ồ ạt.
Ngay khi tiếp nhận, các bác sĩ xác định đây là ca bệnh cực kỳ nặng. Huyết áp bệnh nhân không đo được, dấu hiệu sốc mất máu rất nặng.
Chỉ ít phút sau, bệnh nhân rơi vào tình trạng ngưng tim, ngưng thở. Ê kíp cấp cứu lập tức vừa truyền máu khẩn cấp, vừa ép tim ngoài lồng ngực 20 phút cho đến khi bệnh nhân được đẩy vào phòng mổ để duy trì sự sống.
Các bác sĩ ngoại khoa và gây mê hồi sức đã khẩn trương chuẩn bị phòng mổ, sẵn sàng tiếp nhận bệnh nhân. Chỉ sau 60 phút tiếp nhận vào cấp cứu, người bệnh được chuyển thẳng vào phòng mổ trong tình trạng nguy kịch, vừa phẫu thuật vừa tiếp tục truyền máu và hồi sức tích cực.
Theo PGS Trần Thanh Vỹ, đây là trường hợp tổn thương rất nặng với tình trạng đứt lìa động mạch dưới đòn trái - một mạch máu lớn nằm gần tim.
“Lượng máu chảy tự do vào khoang ngực trái khoảng 1,5 lít, đồng thời ước tính hơn 1,5 lít máu tiếp tục thoát ra ngoài qua vết thương. Đây là tổn thương có nguy cơ tử vong rất cao nếu không được xử trí trong thời gian cực ngắn”, ông cho biết.
Nhờ sự phối hợp nhịp nhàng giữa khoa cấp cứu, phẫu thuật viên, gây mê hồi sức cùng ngân hàng máu, ê kíp đã khống chế được chảy máu, tái lập tuần hoàn và cứu sống người bệnh.
"Ở cái tuổi lẽ ra đang tung tăng đến trường mầm non, An phải làm bạn với kim tiêm, những đợt hóa trị dài dằng dặc và cuộc đại phẫu sinh tử", mẹ bé - chị Kim Nhung nói với VnExpress hôm 11/5.
Vốn khỏe mạnh, Khánh An đột ngột phát sốt, mệt mỏi vào tháng 4/2024, bác sĩ Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hà Tĩnh chẩn đoán nhiễm trùng máu. Sau một tuần điều trị không giảm, bé được chuyển vào Bệnh viện Trung ương Huế, phát hiện ung thư u nguyên bào thần kinh.
U nguyên bào thần kinh là ung thư hệ thần kinh phó giao cảm, một dạng u đặc phổ biến ở trẻ sơ sinh và trẻ dưới 5 tuổi. U có thể hình thành ngay từ khi trẻ còn trong bụng mẹ.
Bệnh nhân u nguyên bào thần kinh được điều trị duy trì, tỷ lệ sống sau 5 năm khá thấp. Tùy thuộc từng giai đoạn bệnh và thể trạng của bệnh nhi, bác sĩ đưa ra phác đồ với các liệu trình phù hợp. Trong đó, ghép tế bào gốc được xem như "phao cứu sinh" cho người bệnh, giúp tiêu diệt triệt để các tế bào ung thư, tái tạo tế bào khỏe mạnh, lui bệnh và giảm tỷ lệ tái phát. Hiện nay, sau ghép tế bào gốc, tỷ lệ sống 5 năm của nhiều bệnh nhân khoảng 30-60%, tùy thể trạng của từng người.
U nguyên bào thần kinh có thể được phát hiện khi siêu âm trong thai kỳ. Tuy nhiên trên thực tế, hầu hết trường hợp u nguyên bào thần kinh được phát hiện sau khi ung thư đã di căn sang các bộ phận khác của cơ thể như hạch bạch huyết (cơ quan nhỏ hình hạt đậu, giúp chống nhiễm trùng), gan, phổi, xương và tủy xương (mô xốp, đỏ, ở bên trong của những xương lớn). Đây là tình trạng của bé Khánh An. Xạ trị kết hợp truyền hóa chất là phác đồ điều trị ban đầu của bé.
Ngày xạ mũi đầu tiên, cơ thể non nớt của An phản ứng dữ dội. Bé sốt cao, phù nề, cứ ăn vào là nôn thốc tháo, người mệt mỏi, xanh xao. Bé sợ hãi với mũi tiêm, viên thuốc đến mức ngủ mơ quấy khóc. Chị Nhung buộc phải nói dối con nhiều lần, rằng "sớm được về nhà", "sắp khỏi bệnh". Đây là lời nói dối chị ao ước thành hiện thực nhất lúc ấy.
Để chữa bệnh cho con, vợ chồng chị Nhưng cố gắng vay mượn khắp nơi. Gia đình vốn đã khó khăn nay rơi vào ngõ cụt. Hai vợ chồng đều làm nông với thu nhập chỉ khoảng 6 triệu đồng mỗi tháng. Chồng bị thoát vị đĩa đệm, đau đớn không thể làm việc nặng. Chị Nhung túc trực chăm con tại bệnh viện, chăm lo cho cả người chồng đau ốm và một đứa con nhỏ khác đang tuổi ăn học ở quê.
Nguồn thu nhập chính gần như bằng không, trong khi chi phí điều trị cho bệnh nhân ung thư hàng trăm triệu đồng là một con số khổng lồ vượt quá sức chịu đựng của một gia đình nông dân.
Tháng 8/2025, Khánh An bước vào giai đoạn điều trị quan trọng nhất là ghép tế bào gốc. Đây là tia hy vọng cuối cùng để giành lấy sự sống cho em. Tuy nhiên, chi phí cần thiết 200-300 triệu đồng để duy trì phác đồ ghép tế bào gốc là giấc mơ xa xỉ đối với gia đình.
Trong lúc này, bé An may mắn được chương trình Mặt trời Hy Vọng thuộc Quỹ Hy vọng (thuộc báo VnExpress) hỗ trợ 100 triệu đồng để truyền tế bào gốc, chặn ung thư di căn xa.
Song, hành trình hậu ghép tế bào gốc không hề bằng phẳng. Sau ghép, cơ thể bé gặp một số vấn đề biến chứng, buộc phải tiếp tục ở lại bệnh viện để theo dõi và điều trị tích cực. Ước muốn lớn nhất hiện tại của chị Nhung là con được khỏe mạnh, còn ước mơ lớn nhất của bé An là mai sau làm bác sĩ để chữa bệnh cho người nghèo.
Tình trạng không thể uống hết 2 lít nước lọc một ngày không phải là dấu hiệu "yếu" mà cho thấy hệ thống điều hòa nước của cơ thể đang hoạt động hiệu quả. Các cơ chế sinh học như giảm cảm giác khát, tăng bài tiết nước tiểu và tạo cảm giác đầy bụng được thiết kế để ngăn cơ thể hấp thu quá nhiều nước trong thời gian ngắn.
Nước là nhu cầu sinh tồn nên cơ thể có cơ chế kiểm soát rất nghiêm ngặt. Chỉ cần nồng độ muối trong máu tăng nhẹ, não bộ lập tức phát tín hiệu khát để thúc đẩy việc uống nước. Ngược lại, khi cơ thể đã nhận đủ nước, các tín hiệu "tắt khát" sẽ được kích hoạt rất nhanh. Chỉ cần vài tín hiệu từ miệng, họng và dạ dày khi nước vừa được uống vào, não đã nhận biết rằng cơ thể sắp được bù nước. Khi đó, cảm giác khát giảm ngay cả trước khi nước được hấp thu hoàn toàn. Đồng thời, thận bắt đầu tăng thải nước tiểu để giữ cân bằng dịch.
Các nghiên cứu thần kinh học cho thấy khi cơ thể đã đủ nước, việc nuốt thêm trở nên khó khăn hơn rõ rệt. Điều này giải thích vì sao nhiều người cảm thấy rất khó uống tiếp khi đã uống quá nhiều nước.
Ngoài ra, một yếu tố quan trọng khác là cảm giác căng dạ dày. Khi uống nước liên tục, dạ dày nhanh chóng bị giãn ra và tạo cảm giác đầy bụng. Trong các thử nghiệm sinh lý, nhiều người bắt đầu cảm thấy "no nước" sau khoảng 400-700 ml.
Trái ngược với nước lọc, bia lại tác động đến cơ thể theo nhiều con đường khiến người uống dễ tiêu thụ nhiều hơn. Bia thường được uống lạnh, có ga và có hương vị đặc trưng. Các yếu tố này làm tăng cảm giác sảng khoái và dễ uống. Khí CO₂ trong bia còn có thể tạo ra hiện tượng ợ hơi, giúp giảm áp lực trong dạ dày, khiến người uống cảm thấy "nhẹ bụng" hơn dù lượng chất lỏng đã khá lớn.
Thứ hai là tác động của rượu lên não bộ. Ethanol trong bia là một chất hướng thần, có khả năng kích hoạt hệ thống thưởng của não, đặc biệt là hệ dopamine. Chỉ riêng mùi hoặc vị bia cũng có thể làm tăng cảm giác muốn uống thêm, ngay cả khi lượng cồn chưa đủ gây say.
Không chỉ vậy, rượu bia còn làm suy giảm khả năng kiểm soát hành vi. Khi nồng độ cồn trong máu tăng, não bộ trở nên kém nhạy với các tín hiệu nội cảm như đầy bụng hoặc "đủ rồi". Điều này khiến người uống dễ tiếp tục uống dù cơ thể đã bắt đầu quá tải. Khi uống nhiều bia trong thời gian dài, tổng lượng cồn lớn vẫn có thể gây mất nước, rối loạn điện giải và nhiều nguy cơ sức khỏe khác.
Bác sĩ Nguyễn Huy HoàngHội Y học dưới nước và Oxy cao áp Việt Nam