Tại hội thảo, bà Helle Buchhave, trưởng nhóm toàn cầu về giới của World Bank, cho biết thiếu dịch vụ chăm sóc trẻ đang trở thành một trong những rào cản lớn khiến lao động nữ khó quay lại làm việc tại các khu công nghiệp sau khi sinh con.
Theo nghiên cứu trong khuôn khổ Chương trình đối tác chiến lược Ngân hàng Thế giới – Úc, phụ nữ hiện chiếm khoảng 58% lực lượng lao động trong khu công nghiệp.
Tuy nhiên việc sinh con làm giảm khả năng phụ nữ có việc làm hưởng lương khoảng 8,1 điểm phần trăm, đồng thời thu nhập bình quân đầu người của hộ gia đình có thể giảm tới 27%.
Khảo sát cũng cho thấy nhu cầu gửi trẻ tại các khu công nghiệp rất lớn nhưng chưa được đáp ứng đầy đủ, đặc biệt đối với nhóm trẻ dưới 3 tuổi.
Hiện có gần 560.000 trẻ em dưới 6 tuổi là con của công nhân khu công nghiệp, song khả năng tiếp cận các cơ sở mầm non công lập còn hạn chế, nhất là với con em lao động nhập cư.
Chi phí gửi trẻ cũng là rào cản lớn khi khoảng 42% gia đình thu nhập thấp không sử dụng dịch vụ giữ trẻ vì giá cao, trong khi mức hỗ trợ hiện nay khoảng 160.000 đồng mỗi tháng được cho là chưa đủ.
Báo cáo cũng cho thấy đầu tư vào dịch vụ chăm sóc trẻ không chỉ mang ý nghĩa an sinh xã hội mà còn mang lại lợi ích kinh tế đáng kể.
GS.TS Lê Anh Vinh, Viện trưởng Viện Khoa học giáo dục Việt Nam, thông tin thời gian qua, Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách quan trọng đối với giáo dục mầm non.
Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2030 đặt mục tiêu mở rộng phổ cập giáo dục cho trẻ từ 3 tuổi, tăng tỉ lệ trẻ đến trường và nâng cao chất lượng giáo dục tại các địa bàn khó khăn, khu công nghiệp.
Năm 2026, ngành giáo dục bắt đầu triển khai thí điểm chương trình giáo dục mầm non mới với nhiều điểm đổi mới theo hướng tiếp cận năng lực, liên thông với Chương trình giáo dục phổ thông 2018 và chú trọng phát triển kỹ năng xã hội cho trẻ.
Chương trình khung cũng được xây dựng theo hướng tăng quyền chủ động cho địa phương, phù hợp với điều kiện từng cơ sở.
Tuy nhiên theo ông Vinh, tại các đô thị đông dân và khu công nghiệp có tỉ lệ di cư lớn vẫn còn nhiều thách thức trong việc bảo đảm cơ hội tiếp cận giáo dục mầm non cho trẻ.
Hội thảo cũng đưa ra các giải pháp tăng đầu tư cho dịch vụ chăm sóc trẻ, hỗ trợ các nhóm lớp mầm non độc lập và thúc đẩy sự tham gia của khu vực tư nhân nhằm đáp ứng nhu cầu gửi trẻ ngày càng lớn tại các khu công nghiệp.
Ngày 10/5, UBND tỉnh Nghệ An cho biết đã yêu cầu các xã, phường cân đối nguồn cấp bù học phí năm nay để chi trả khoản nói trên.
Đây là nhóm ký hợp đồng lao động với cấp huyện (cũ), gồm 57 giáo viên và 147 nhân viên (văn thư, kế toán...). Tuy nhiên, từ tháng 10 năm ngoái, tỉnh Nghệ An giao biên chế trực tiếp về các trường nên giáo viên, nhân viên hợp đồng không còn thuộc diện được trả lương từ ngân sách. Nhiều người rơi vào cảnh khó khăn, phải vay mượn để trang trải cuộc sống.
Qua rà soát, Sở Giáo dục và Đào tạo cho biết một số trường tạm ứng, hỗ trợ 3-4 triệu đồng mỗi tháng, còn phần lớn giáo viên và nhân viên hợp đồng chưa được thanh toán tiền lương suốt nửa năm qua.
Theo Sở, nhóm giáo viên, nhân viên hợp đồng bị nợ lương hiện làm việc tại khoảng 40 xã, phường. Trong đó, Cửa Lò cần chi trả nhiều nhất - hơn 2,8 tỷ đồng. Về lâu dài, Sở đề nghị các địa phương trình cấp có thẩm quyền giao chỉ tiêu để tiếp tục ký hợp đồng từ tháng 7 và chủ động cân đối nguồn kinh phí.
Một cô giáo trường THCS ở phường Cửa Lò cho biết vui vì sắp có lương để sinh sống, trả các khoản đã vay trong thời gian khó khăn, song cũng thấp thỏm về tương lai. Cô mong những giáo viên làm hợp đồng lâu năm được ưu tiên xét vào biên chế.
Nghệ An hiện có hơn 46.000 giáo viên, nhân viên ngành giáo dục, còn thiếu trên 6.000 người ở bậc mầm non và phổ thông.
Trời chưa sáng hẳn, chúng tôi có mặt tại khu vực sông Xà Lò, đoạn qua xóm Bà Rà (thôn Làng Trăng, xã Sơn Thủy, Quảng Ngãi). Đúng 6 giờ, từng tốp phụ huynh lặng lẽ xuất hiện bên bờ sông, bắt đầu hành trình quen thuộc: cõng học sinh lội nước đến trường.
Tháng 4, dòng sông hiền hơn mùa mưa, mặt nước rộng chừng 50 m, có đoạn chỉ ngang lưng người lớn. Nhưng dưới là lớp đá cuội phủ rong rêu trơn trượt, tiềm ẩn nhiều "bẫy ngầm". Chỉ một bước trượt chân, cả người lớn lẫn trẻ nhỏ có thể ngã, đối mặt nguy cơ bị nước cuốn.
Một người mẹ vội cởi dép, xắn quần, đặt con lên vai rồi dò dẫm bước xuống làn nước lạnh. Đứa trẻ ôm chặt cổ mẹ, ánh mắt còn ngái ngủ. Mỗi bước đi là một lần thăm dò, giữ thăng bằng giữa dòng nước lững lờ.
Chị Đinh Thị Cam (30 tuổi, thôn Làng Trăng) cẩn thận gùi cặp, đặt con lên lưng rồi dặn: "Con bám chặt mẹ nghe chưa". Chị cho biết, mỗi ngày phải dậy từ 4 giờ sáng chuẩn bị cho hai con, một cháu học mầm non, một cháu học lớp 3. "Phải đi sớm, chứ gặp lúc thủy điện xả nước là rất nguy hiểm", chị nói.
Cách đó không xa, ông Đinh Văn Sanh (51 tuổi) đang cõng cháu băng qua dòng nước. "Đi đường vòng hơn 1 giờ, nên phải lội sông cho nhanh. Sợ cháu bị cuốn nên tôi cõng", ông chia sẻ. Vào mùa mưa, nước dâng cao, người dân phải đi ghe nhưng không phải lúc nào cũng có. Nhiều gia đình đành cho con nghỉ học.
Theo thống kê, xóm Bà Rà có 59 hộ với 218 nhân khẩu; xóm Giá Gối có 48 hộ với 190 nhân khẩu. Đây là những khu vực thường xuyên phải lội sông để đi lại, trong đó học sinh chiếm số lượng lớn.
Chính quyền địa phương cho biết, dù đã nhiều lần tuyên truyền, cảnh báo người dân không lội sông nhưng thực tế khó kiểm soát. Từ tháng 7.2025 đến tháng 4.2026, trên địa bàn đã xảy ra 3 vụ đuối nước thương tâm do cố vượt sông.
Ông Lê Quốc Vũ, Chủ tịch UBND xã Sơn Thủy, cho biết hiện có hơn 200 học sinh từ mầm non đến THCS phải vượt sông Xà Lò để đến trường. "Chúng tôi vận động phụ huynh phải trực tiếp đưa đón, không để các em tự đi nhằm hạn chế rủi ro", ông nói.
Về lâu dài, địa phương đã đề xuất xây dựng 2 cây cầu bắc qua sông Xà Lò. Một cầu dự kiến nối khu vực Sơn Trung cũ sang Sơn Hải cũ, cách điểm người dân thường lội sông khoảng 2 km. Nếu được đầu tư, quãng đường đi lại sẽ rút ngắn còn 3 - 4 km, thay vì 25 - 27 km như hiện nay, phục vụ hơn 9.500 người dân.
Tuy nhiên, do nguồn lực còn hạn chế, các dự án vẫn chưa được bố trí vốn. Trong khi đó, mỗi ngày trôi qua, hành trình cõng con vượt sông vẫn tiếp diễn, với những nguy hiểm luôn rình rập.
Một số hình ảnh PV Thanh Niên ghi nhận tại sông Xà Lò vào một buổi sáng trong tháng 4.2026:
Bộ Giáo dục và Đào tạo vừa ban hành dự thảo thông tư quy định điều kiện, trình tự, thủ tục, thẩm quyền công nhận văn bằng do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp để sử dụng tại Việt Nam để lấy ý kiến góp ý.
So với quy định hiện hành, dự thảo có nhiều điều chỉnh đáng chú ý. Trong đó xác định công nhận văn bằng là dịch vụ công. Việc công nhận văn bằng phản ánh trung thực kết quả học tập của người học theo hệ thống giáo dục, hệ thống văn bằng của nước cấp bằng.
Theo Bộ Giáo dục và Đào tạo, thông tư hiện hành chưa bao quát hết các trường hợp văn bằng của nước ngoài, chưa cụ thể hóa điều kiện công nhận đối với văn bằng theo từng phương thức đào tạo và trên cơ sở thực tế.
Do đó tại dự thảo, về điều kiện công nhận văn bằng do nước ngoài cấp, bên cạnh các điều kiện chung, còn có các điều kiện cụ thể theo phương thức đào tạo như học trực tiếp tại nước ngoài, liên kết đào tạo tại nước ngoài, liên kết đào tạo tại Việt Nam, học trực tuyến, trực tiếp kết hợp trực tuyến, học từ xa, học qua phát thanh - truyền hình.
Với bằng tiến sĩ do cơ sở giáo dục nước ngoài cấp cho người học theo phương thức đào tạo trực tiếp nếu phải thực hiện nghiên cứu thực địa tại nước khác, để được công nhận, bên cạnh các điều kiện chung, người học phải có thời gian lưu trú, học tập, nghiên cứu tại cơ sở đào tạo theo quy định của cơ quan có thẩm quyền về giáo dục của nước nơi thực hiện hoạt động đào tạo.
Theo quy định đào tạo tiến sĩ tại Việt Nam, tiến sĩ của Việt Nam nghiên cứu sinh phải thực hiện tối thiểu 80% thời gian nghiên cứu và 20% môn học, nên yêu cầu tối thiểu đối với chương trình tiến sĩ phải có thời gian tại nước sở tại.
Tuy nhiên Bộ Giáo dục và Đào tạo cho biết thực tế cho thấy nhiều chương trình tiến sĩ học rất ít ngày tại nước sở tại mặc dù trường xác nhận là hình thức chính quy tại trường, nên cần có quy định tối thiểu có học tập, nghiên cứu tại nước sở tại để tránh việc lạm dụng của các cơ sở nước ngoài như Philippines, Malaysia chỉ yêu cầu ngắn ngày tại trường.
Về thẩm quyền công nhận văn bằng của giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, dự thảo đưa ra hai phương án.
Phương án 1: Sửa đổi quy định hiện hành theo hướng phân cấp cho người đứng đầu đơn vị cung cấp dịch vụ công về công nhận văn bằng.
Phương án 2: Giữ quy định hiện hành, theo đó thủ trưởng đơn vị có chức năng giúp Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quản lý nhà nước về công tác văn bằng, chứng chỉ có thẩm quyền công nhận văn bằng của giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp.
Trong đó phương án 1 được thiết kế theo nguyên tắc cơ quan nào thực hiện thủ tục công nhận văn bằng thì cơ quan đó có thẩm quyền công nhận văn bằng, ký cấp giấy công nhận văn bằng; cơ quan quản lý nhà nước không làm thay đơn vị sự nghiệp cung ứng dịch vụ công.